Cây Nha Đam được sử dụng từ bao giờ?

cay-nha-dam-duoc-su-dung-tu-bao-gio

✳ Nguồn gốc cây Nha Đam

Nha Đam, hay Nha đamLong tu (có nơi gọi là lưu hội, long thủ…) là một loại thảo dược dân gian được ứng dụng rộng rãi cách đây mấy ngàn năm về trước.

Có giả thuyết cho rằng, cây Nha Đam có nguồn gốc từ Bắc Phi. Theo truyền thuyết Ai Cập thì nữ hoàng Cleopatre đã sử dụng nha đam để tạo ra một làn da mịn màng, tươi tắn. Còn đại đế Hy Lạp Alexandros đã dùng nha đam để chữa vết thương cho binh lính của mình trong những cuộc viễn chinh.[cần dẫn nguồn] Những dòng chữ tượng hình và những hình vẽ còn lưu lại trên những bức tường ở những đền đài Ai Cập cho thấy cây nha đam đã được biết đến và sử dụng cách đây hơn 3000 năm.

Cây Nha Đam du nhập vào cuối thế kỷ 13 một du khách người Italia tên là Marco Polo (1254-1323) đã thực hiện một chuyến đi thám hiểm toàn châu Á. Đến Trung Quốc, Polo đã giới thiệu cho người dân bản xứ một dược thảo mà sau này người ta gọi là nha đam hay Nha Đam.

Cho đến tận ngày hôm nay con người đã chứng minh và khẳng định được vai trò của cây Nha Đam trong cuộc sống con người. Cụ thể hơn là trong lĩnh vực dược phẩm, thực phẩm và mỹ phẩm.  Nha Đam đã được xem là “thực vật thần bí” vừa dùng để trị bệnh, dưỡng nhan sắc, lại được trồng để làm cảnh.

Ngày nay rất nhiều nước trên thế giới đều dấy lên phong trào sử dụng Nha Đam. Nha Đam ngày càng dược mọi người coi trọng, bồi nó có rất nhiều công dụng. Nha Đam có thể trị các bệnh thông thường như táo bón, viêm ruột, viêm dạ dày, viêm gan, nhức đầu, cảm mạo, ngoài ra còn chữa các vết thương như xây xát, bong tấy, bỏng.

Ngày nay, mức sống của người dân ngày càng nâng cao, ý thức bảo vệ sức khỏe càng được quan tâm, các loại thực phẩm bảo vệ sức khỏe cũng ngày càng xuất hiện nhiều ở trên thị trường, trong đó có một số loại thức uống được chế biến từ cây Nha Đam được nhiều người ưa chuộng.

Tuy có rất nhiều chuyên gia đi sâu phân tích nghiên cứu cây Nha Đam nha đam, nhưng cũng chỉ khám phá ra được một phần rất nhỏ. Cho đến nay thành phần của cây Nha Đam vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu.

Cây Nha Đam không chỉ chứa thành phần phức tạp, mà chủng loại cũng rất phong phú. Nha Đam có đến hơn 300 loại, nhưng thực sự để dùng làm thuốc thì không nhiều. Có bốn loại Nha Đam dùng làm thuóc thông dụng là: Aloe vera, Aloe ferox, Aloe arborescens, Aloe perryi.

  1. Aloe vera: Có nguồn gốc ở quần đảo Tây Ân độ và Bắc Phi. Ngày nay loại Nha Đam này được phân bố ở nhiều nước trên thế giới. Loại này lá màu vàng nâu hoặc đỏ nâu, không trong suốt.
  2. Aloe ferox: Loại Nha Đam này có nguồn gốc ở miền Nam Phi. Lá màu đen nâu hoặc xanh nâu, chất nhựa bên trong. Khi khô vỡ ra có màu óng ánh như thủy tinh. Phiến lá mỏng, có dạng hơi trong suốt, có mùi hôi đặc biệt.
  3. Aloe arboresescens: Loại Nha Đam này mọc nhiều ở vùng Nam Phi nóng nực, cũng có thể sống và phát triển mạnh ở những vùng giá rét, sức chịu đựng rất mạnh, rất dễ trồng. Loại Nha Đam này được công nhận là dùng thuốc tốt nhất. Qua nghiên cứu cho thấy nó có chứa nhiều thành phần hữu hiệu. Lá của nó có thể ăn sống, vắt nước uống hoặc nấu ăn. Ngoài ra còn dùng để chế biến thành các loại thức uống hoặc mỹ phẩm.
  4. Aloe perryi: Loại Nha Đam này mọc nhiều ở vùng đảo Socotra và miền Đông châu Phi. Lá của nó không có hình dáng nhất định, có màu đen nâu hoặc vàng nâu. Lá dễ vỡ, chất nhựa bên trong khi khô vờ vụn có màu óng ánh như thủy tinh.

✳ Lịch sử sử dụng cây Nha Đam

Cách đây 4000 năm về trước, người dân châu Phi đã dùng Nha Đam làm thuốc xổ. Ở phương Tây từ trước thế kỷ 15 trước Công nguyên, cây Nha Đam đã được dùng làm thuốc chữa các loại bệnh, và được liệt vào phương thuốc dân gian. Tương truyền rằng nữ hoàng Ai Cập huyền thoại Cleopatre từng dùng Nha Đam làm mỹ phẩm dưỡng da và tóc, giữ cho da trắng mịn và tóc mượt.

Nha Đam được dùng làm thuốc từ xưa, nhưng về thành phần của nó thì ít ai biết. Dân gian thường dùng Nha Đam làm thuốc xổ, an thần và giảm đau. Đến thời đại La Mã, cây Nha Đam được ghi vào trong “Tân Ước Thánh Kinh”. Đến thế kỷ 16, cây Nha Đam bắt đầu xuất hiện chính thức ở trên các tài liệu y học. Trong bộ “Hy Lạp Bản Thảo” có nêu: “Nha Đam có tác dụng thâu liễm, gây ngủ. Tăng cường thể lực, làm sạch dạ dày, dùng với liều lượng hai muỗng, uống kèm với nước. Ngoài ra còn trị các bệnh như hoàng đản (vàng da), bệnh về da, va đập té ngã chấn thương, rụng lông tóc.”

Hiện nay, ở cây Nha Đam có hai thành phần chính lược mọi người công nhận đó là Aloin và Aloe-emodin. Hai thành phần này cũng là hai chất chính làm cho Nha Đam có vị đắng. Aloin là thành phần chủ yếu của Nha Đam, chiếm tỉ lệ từ 10 – 20%, còn Aloe-emodin là do Aloin ở trong không khí oxy hóa mà tạo thành.

Hai vị Nha Đam và Đại hoàng có một đặc trưng chung, đều có vị đắng, trị chứng táo bón rất hữu hiệu, dùng sống với liều cao có tác dụng tẩy mạnh.

Ai cũng biết rõ dùng thuốc phải đúng lúc, đúng bệnh, đúng liều lượng mới đem lại hiệu quả tốt, sử đụng Nha Đam cũng không ngoại lệ. Nếu sử dụng không đúng cách sẽ có hại. Vì dược tính của Nha Đam rất mạnh, nếu dùng quá liều có thể gây sưng huyết vùng chậu, làm táng co bóp tử cung, gây trụy thai, do đó những người bị bệnh cơ quan sinh dục hoặc phụ nữ thời kỳ mang thai và ở thời kỳ hành kinh không được dùng Nha Đam.

Các bác sĩ ở Nhật Bản phân tích thành phần của Nha Đam ra làm 3 loại: Aloesin, Aloecin, Aloenin. Ngoài ra còn tìm ra một số thành phẩn khác.

✳ Các thành phần hoạt chất có trong cây Nha Đam

Các chuyên gia y học của các nước trên thế giới còn phát hiện trong Nha Đam có các thành phần sau:

  1.  Loại vitamin: A, Bl, B2, B6, B9, B12, c, E.
  2. Loại đường: Galactose, Mannose, Glucuronic.
  3. Loại men: Catarase, Alimase, Oxydase, Amirase.
  4. Khoáng chất: Kẽm, magne, sắt, natri, canxi, mangan.
  5. Loại acid amin: Alanine, Asparagin, Glycine, Hystidin, Isoleucine, Leucine, Lysine, Methionine, Phenylalanine, Tryptophan, Thyroxin, Valine.
  6. Các thành phần khác: Chrvjamin, Chirsoíun, Isobabaloin, hormon thực vật, diệp lục tố, chất hoạt tính sinh lý, Saponin.

Khoa học ngày nay tuy đã phân tích ra những thành phần hữu hiệu trên, nhưng do tính phức tạp của cây Nha Đam, vẫn có rất nhiều thành phần chưa phát hiện ra.

Theo Đông y, Nha Đam vị đắng, tính lạnh, đi vào 3 kinh can, vị, đại trường. Có tác dụng thanh nhiệt, giáng hỏa, thanh can, thông tiện, tẩy giun đũa, điều kinh. Trị các chứng táo bón, ruột, dạ dày, can đởm thực nhiệt, thần chí không yên, hồi hộp, đau mắt đỏ.

✳ Cách sử dụng cây Nha Đam trong

Cây Nha Đam từ lâu vốn được con người ứng dụng rộng rãi trong chữa bệnh và làm đẹp. Phương pháp sử dụng cũng không giống nhau. Đại thể chia làm 2 cách là dùng bên ngoài (đắp, dán,…) và dùng bên trong (ăn, uống,…).

Nha Đam dùng bên ngoài:

Nha Đam có tác dụng sát khuẩn, tiêu viêm và dưỡng da, nên có thể dùng ngoài để điều trị các bệnh ngoại thương, bệnh về da, đồng thời còn dùng làm mỹ phẩm dưỡng da rất tốt. Về dùng ngoài có 3 phương pháp chính là ngâm, bôi và đắp.

1. Phương pháp ngâm với Nha Đam:

Cách 1: Lá Nha Đam mài vụn, đựng vào trong túi vải, bỏ ngâm trong nồi nước lạnh khoảng 20 phút. Sau đó đun nóng cho Nha Đam thấm ra trong nước. Dùng nước này để tắm gội.

Cách 2: Ngoài ra có thể dùng 1 muỗng nước Nha Đam hòa vào trong nước, rồi chế thêm nước nóng vào tắm gội. Nếu sử dụng thường xuyên sẽ có tác dụng lầm mượt da, trừ vết nám.

Cách 3: Nha Đam còn dùng làm mỹ phẩm dưỡng da. Dùng lá Nha Đam rửa sạch, giã vắt lấy nước, thoa lên da, giúp cho da trắng mịn.

Cách 4: Nha Đam mài vụn, bỏ ngâm trong nước lạnh. Sau đó đun nóng, dùng để tắm gội.

2. Phương pháp bôi Nha Đam lên chỗ đau:

Thời Ai Cập cổ đại người ta thường dùng lá Nha Đam để trị các bệnh viêm mũi, viêm miệng, sây xát, sưng tấy, trùng cắn. Dùng nước Nha Đam bội lên chỗ đau, đem lại hiệu quả tốt. Ngày nay người ta còn nghĩ ra nhiều cách bôi đắp khác:

Cách 1: Nếu bị viêm hoặc bị vết thương nông ở da, dùng lá Nha Đam cắt thành lát, gọt bỏ lớp vỏ ngoài, lấy lớp nhựa bên trong ướp đá cho lạnh rối đắp trực tiếp lên chỗ đau.

Cách 2: Nếu chỗ đau nằm ở trong mũi, miệng hoặc tai không thể đắp trực tiếp, tốt nhất nên dùng tăm bông chấm nước Nha Đam bôi lên chỗ đau.

Cách 3: Nếu chỗ đau nằm ở vùng da non, nên dùng một ít nước sạch hòa nước Nha Đam cho loãng ra để bôi lên chỗ đau.

Cách 4: Nếu bị sưng tấy ở mặt, bị mụn trứng cá hoặc da thô ráp, có thể dùng nước Nha Đam bôi trực tiếp lên da (tùy theo từng vùng da để sử dụng).

Cách 5: Nếu da có phản ứng dị ứng với nước Nha Đam như ngứa ngáy, châm chích, thì phải lập tức ngưng sử dụng. Nếu da bị dị ứng mà vần tiếp tục sử dụng, thì sẽ làm cho da càng thêm thô ráp. Khi dùng nước Nha Đam bôi trực tiếp lên mặt phải chú ý phản ứng của da, sử dụng thận trọng.

Cách 6: Đắp Nha Đam trị trùng cắn, muỗi đốt, da sưng tấy, viêm mũi rất hữu hiệu.

3. Phương pháp đắp dán Nha Đam:

Lá Nha Đam cũng có thể chế thành cao bôi lên miếng vải đế đắp dán chỗ đau. Cách làm như sau:

Lá Nha Đam tươi rửa sạch, gọt bỏ gai ở hai bên mép lá, giã nhuyễn, có thể gia thêm một ít bột mì, trộn đều, bôi lên trên miếng vải gạc rồi đắp dán ở chỗ đau, dùng dây buộc cô’ định. Hoặc đem ướp lạnh rồi sử dụng, như vậy sẽ khiến chỗ đau có cảm giác mát lạnh dễ chịu. Đắp dán đến khi thuốc khô thì thay miếng thuốc khác, dùng liên tục vài ngày sẽ đỡ sưng đau.

Phương pháp đắp dán này dùng thích hợp cho các trường hợp bị trùng cắn, bị các vết thương, sưng tấy ở tay chân.

Nha Đam dùng bên trong:

Sử dụng Nha Đam nên căn cứ thể trạng và bệnh tình mỗi người để định. Nha Đam có tác dụng tẩy khá mạnh, nếu dùng quá nhiều có thể bị ỉa chảy. Tùy theo từng người mà dùng, có người chỉ dùng một đoạn lá Nha Đam vài phân cũng bị ỉa chảy, có người dùng cả lá cũng không sao.

Khi sử dụng Nha Đam, quan sát thấy đi ngoài phân vẫn bình thường là được, nếu bị tiêu chảy thì nên giảm bớt liều lượng. Ban đầu nên sử dụng với liều lượng ít, sau khi đường ruột thích ứng mới dần dần tăng liều lượng lên.

Thông thường, nếu lá Nha Đam có độ rộng khoảng 10cm, khi dùng nên cắt đoạn dài 2 – 3cm là vừa. Nếu lá có độ rộng hẹp hơn thì tăng độ dài lên một ít.

Sử dụng Nha Đam thường mỗi ngày khoảng 3 – 4 lần. Tuy nhiên còn phải tùy theo thể trạng và bệnh tình của mỗi người để tăng giảm.

1. Dùng Nha Đam sống:

Lá Nha Đam tươi rửa sạch, giã hoặc xay lấy nhựa nước, hòa thêm với nước cho loãng, ướp lạnh để uống. Liều lượng nên tùy theo mỗi người để định. Thông thường mỗi lần dùng khoảng 1 muỗng to, ngày 3 – 4 lần. Những người thể chất kém ban đầu nên dùng 1 muỗng nhỏ là vừa.

Nếu sử dụng hàng ngày, có thể hòa chung nước Nha Đam với các loại thức uống khác để giảm vị đắng, dễ uống. Tuy nhiên, hòa chung như vậy hiệu quả của thuốc sẽ giảm. Nước Nha Đam bỏ cất trong tủ lạnh bảo quản được 1 tuần.

Lá Nha Đam cũng có thể ăn sống. Lá Nha Đam gọt bỏ vỏ ngoài, rửa qua nước cho bớt đắng, ăn kèm với các loại trái cây khác. Nếu muốn cho thuốc phát huy hiệu quả tốt thì tốt nhất không nên gia đường cát và mật ong. Những người bị loét dạ dày hoặc tá tràng nên dùng thận trọng, không nên để cho ruột hoặc dạ dày bị kích thích mạnh bởi vị đắng của Nha Đam, cũng không dược để xảy ra hiện tượng tiêu chảy. Lá Nha Đam ban đầu ăn cảm thấy đắng khó chịu, nhưng qua một thôi gian sẽ quen.

Sử dụng lá Nha Đam nên chọn những lá to dày chứa nhiều nước là tốt, những lá non hiệu quả sẽ kém hơn. Lá Nha Đam cắt xong nếu sử dụng không hết, phần còn lại cất để dùng lần khác, nếu mùa đông thì cất ở nơi khô ráo thông gió, mùa hè có thể cất ở trong tủ lạnh. Chỉ cần lá không bị hư thối, vẫn sử dụng tốt.

2. Dùng bột Nha Đam:

Lá Nha Đam dùng chế thành dạng bột để sử dụng, tuy hơi tốn công, nhưng đem lại tiện ích rất lớn. Khi đi làm hoặc đi công tác xa có thể mang theo bên mình để dùng. Bột Nha Đam cất giữ ở môi trường nhiệt độ thấp, thời gian bảo quản đến 2 – 3 tháng.

Cách chế biến bột Nha Đam như sau:

Lá Nha Đam gọt bỏ gai ở hai bên mép, rửa sạch, cắt lát mỏng, phơi hoặc sấy khô, tán bột, đựng vào trong bình sạch, đậy kín nắp, cất dùng dần.

Khi dùng, hòa bột Nha Đam với nước để uống. Cũng có thể hòa bột Nha Đam với thức uống khác để uống. Mỗi ngày 1 muỗng nhỏ, chia làm 3 – 4 lần.

3. Dùng Nha Đam nấu chín:

Cách dùng này thích hợp cho trẻ em, người già hoặc những người thể chất hư nhược. Nha Đam qua quá trình nấu chín vị đắng sẽ giảm đi, hiệu quả của thuốc cũng không mạnh bằng dùng sống. Nước Lố hội nấu chín không nên uống quá nhiều.

Cách chế biến như sau:

Lá Nha Đam gọt bỏ gai, rửa sạch, cắt lát mỏng cho vào nồi, đổ lượng nước bằng với lượng nước Nha Đam, nấu chín. Nồi để nấu phải sử dụng nồi sành, không nên dùng nồi sắt, nồi đồng hay nồi thủy tinh.

Khi nấu, ban dầu dùng lửa lớn đun sôi, rồi hạ lửa nhỏ nấu tiếp khoảng 30 phút, lúc này chất Nha Đam đã ngấm ra trong nước, nước có màu trong xanh. Hạ xuống để nguội, dùng vải gạc lọc bỏ xác lây nước. Mỗi ngày dùng một muỗng to, chia uống 3 lần là vừa.

Nước Nha Đam đựng vào trong đồ đựng đã tiệt trùng, cắt vào tủ lạnh để dùng dần, thời gian bảo quản khoảng 10 ngày. Khi dùng đem nước Nha Đam ra để tự nhiên cho nước tan ra để uống là tốt, không nên gia nhiệt. Nước Nha Đam đã tan ra không nên cất lại vào tủ lạnh nữa.

✳ Tác dụng chữa bệnh và làm đẹp của cây Nha Đam

Trong Y học, Nha Đam hay nha đam được cho là có nhiều tác dụng có ích. Có thể tóm lược tác dụng chữa bệnh hiệu quả của cây Lô hôi như sau:

Nha Đam dùng để giải khát. Một ly nước Nha Đam có tác dụng giải khát hiệu quả. Nha Đam còn được sử dụng như một thực phẩm giàu chất dinh dưỡng trong bữa ăn của người Việt.

Kháng khuẩn thần kì. Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh nhựa nha đam có tính sát khuẩn và gây tê. Dùng để sát trùng, thanh nhiệt, và thông tiểu. Nhựa nha đam làm êm dịu vết thương khi bị phỏng nhẹ, khi bị côn trùng châm chích hay da bị chai cứng khi bị rám nắng.

Nha Đam có tác dụng Nhuận tràng, nhuận gan, điều kinh, sát trùng đường ruột, xổ mạnh.

Nha Đam giúp làm lành vết thương. Thạch trong cây Nha Đam có khả năng bất ngờ làm lành vết thương, chỗ loét và vết bỏng. Đắp lớp thạch Nha Đam vào trong vùng cần chữa, tốc độ lành vết thương sẽ nhanh chóng.

Nha Đam điều trị viêm loét dạ dày. Uống nhựa tươi của lá Nha Đam. Cứ vài giờ uống một muỗng canh nhựa tươi lúc bụng không có thức ăn sẽ làm lành vết viêm loét dạ dày.

Nha Đam trị bệnh ngoài da. Nha Đam tươi có tác dụng làm săn da, làm nhỏ lỗ chân lông. Bôi nhựa tươi hàng ngày lên mặt có tác dụng ngừa nám, làm mịn da, ngừa mụn…Nha Đam giúp phòng ngừa sỏi niệu. Các anthraquinon sẽ kết hợp các ion canxi trong đường tiểu thành hợp chất tan được để tống ra ngoài theo nước tiểu.

Nha Đam trị bệnh xơ gan cổ trướng. Lấy một nắm cây Aloe vera gọt bỏ phần có gai hai bên lá; nửa lít mật o­ng nguyên chất. Tất cả bỏ vào máy sinh tố xay đều, lấy nước uống 1 ngày 3 lần (15 phút trước bữa ăn), mỗi lần uống chừng 20 ml (1 muỗng canh). Uống liên tục nhiều tháng bệnh sẽ thuyên giảm khả quan hoặc khỏi hoàn toàn. Lưu ý không có thêm rượu cho người bị bệnh gan.

Nha Đam trị bệnh tiểu đường và cao huyết áp. Những người bị huyết áp mà không bị tiểu đường thì có thể ăn với đường nguyên chất hoặc đường phèn.[cần dẫn nguồn] Người bị tiểu đường nhưng không áp huyết cao thì ăn với muối.

Nha Đam giúp trị mụn vô cùng hiệu nghiệm. Mỗi ngày dùng 200g lá nha đam tươi rửa sạch, cắt bỏ gai hai bên, dùng dao inox rạch trên lá nhiều hình vuông bằng con cờ nhỏ rồi cắt rời ra, thêm 50g đường cát, 2 muỗng canh mật ong, nước đá đập nhỏ để ăn. Hoặc lấy nước vo gạo để lắng, bỏ nước trong bên trên (liều lượng tùy dùng trong ngày), dùng muỗng nạo lấy nhựa nhớt bên trong lá nha đam (bằng với lượng nước vo gạo). Trộn đều hai thứ. Buổi tối trước khi đi ngủ lau mặt cho sạch, rồi thoa dung dịch trên lên mặt, thoa cho đều, để vậy đến sáng, rửa lại bằng nước ấm.

Dùng Nha Đam làm đẹp. Do những đặc tính kỳ diệu trên, các nhà y dược học đã nghĩ đến những loại mỹ phẩm được chế tạo từ nhựa Nha đam để tạo ra những loại kem dưỡng da, do pH của gel nha đam gần giống với pH của da cho nên chúng làm cho da tươi tắn và điều hòa được độ axít của da. Hiện nay trên thị trường, nhiều hãng mỹ phẩm đã lấy ngay chính tên Aloe vera làm tên thương mại cho những loại kem chống nắng, dưỡng da, các loại dầu gội, dầu khử mùi hôi, chất có tác dụng chống mốc, xà phòng, dầu cạo râu..

!

Bình luận: