Đọc – hiểu văn bản: Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)

doc-hieu-van-ban-chuyen-nguoi-con-gai-nam-xuong-nguyen-du

Chuyện người con gái Nam Xương
(trích Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dữ)

I. Đọc – hiểu chú thích:

1. Tác giả: Nguyễn Dữ.

– Nguyễn Dữ người huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Ông là học trò giỏi của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

– Sống trong cảnh chế độ phong kiến mục nát, “dông bão nổ trăm miền”, xã hội là cái “vực thẳm đời nhân loại” chỉ thấy “bóng tối đùn ra trận gió đen”, nên sau khi đỗ hương cống, Nguyễn Dữ chỉ làm quan một năm rồi lui về ở ẩn. Đó là hình thức bày tỏ thái độ chán nản trước thời cuộc của một trí thức tâm huyết nhưng sinh ra không gặp thời.

2. Tác phẩm:

a. “Truyền kì mạn lục”:

– Là ghi chép tản mạn về những điều kì lạ vẫn được lưu truyền.

– Viết bằng chữ Hán, được xem là “Thiên cổ kì bút” ( áng văn hay ngàn đời ).

– Gồm 20 truyện, đề tài phong phú.

b. Văn bản:

– Xuất xứ: “Chuyện người con gái Nam Xương” là truyền thứ 16, có nguồn gốc từ một truyện cổ tích Việt Nam có tên là “Vợ chàng Trương”. So với truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, “Chuyện người con gái Nam Xương” phức tạp hơn về tình tiết và sâu sắc hơn về cảm hứng nhân văn.

– Bố cục: 3 phần:

+ Phần 1: Từ đầu đến…”lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”:Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, những phẩm chất tốt đẹp của Vũ Nương.
+ Phần 2: Tiếp đến …”nhưng việc trót đã qua rồi!” : Nỗi oan của Vũ Nương.
+ Phần 3: Còn lại : Vũ Nương được giải oan.

– Nội dung: qua cuộc đời và số phận bi thảm của nhân vật Vũ Nương, tác phẩm khẳng định vẻ đẹp tâm hồn truyền thống của người phụ nữ Việt Nam; niềm cảm thương cho số phận bi kịch của họ, đồng thời lên án tố cáo các lễ giáo phong kiến vô nhân đạo, các hủ tục hà khắc trong chế độ phong kiến đương thời.

II. Đọc – hiểu văn bản:

1. Nhân vật Vũ Nương:

a. Vẻ đẹp phẩm chất:

* Trước hết Vũ Nương là người phụ nữ thuỷ chung, son sắc trong tình nghĩa vợ chồng:

+ Vũ Nương là một người vợ hiền thục, nết na đúng mực.

+ Vũ Nương là người phụ nữ khôn khéo. Biết Trương Sinh vốn có tính đa nghi, nên nàng luôn “biết giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa”. Nàng luôn chú tâm tạo dựng và giữ gìn hạnh phúc gia đình.

+ Vũ Nương là người không màng danh lợi. Chồng đi lính, chỉ mong cầu được bình an, chẳng mong chi áo gấm, công hầu

* Vũ Nương còn là người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng, một người mẹ hiền đầy tình yêu thương con.

– Trong ba năm chồng đi chiến trận, một mình nàng vừa làm con vừa làm cha vừa làm mẹ để chăm sóc phụng dưỡng mẹ chồng, nuôi dạy con thơ.

– Với mẹ chồng, nàng là một cô con dâu hiếu thảo.Chồng xa nhà, nàng đã thay chồng phụng dưỡng mẹ chu đáo. Khi bà ốm nàng đã thuốc thang lễ bái thần phật và lấy những lời khôn khéo để khuyên răn để bà vơi bớt nỗi nhớ thương con. Đến khi bà mất, nàng đã hết lời thương xót, ma chay tế lễ cẩn trọng giống như với cha mẹ đẻ của mình.

– Với con thơ nàng hết sức yêu thương, chăm chút. Sau khi xa chồng đầy tuần, nàng sinh bé Đản, một mình gánh vác cả giang sơn nhà chồng nhưng chưa khi nào nàng chểnh mảng việc con cái. Chi tiết nàng chỉ bóng mình trên vách và bảo đó là cha Đản cũng xuất phát từ tấm lòng của người mẹ : để con trai mình bớt đi cảm giác thiếu vắng tình cảm của người cha.

⇒ Nguyễn Dữ đã dành cho nhân vật một thái độ yêu mến, trân trọng qua từng trang truyện, từ đó khắc họa thành công hình tượng người phụ nữ với đầy đủ phẩm chất tốt đẹp.

b. Số phận oan nghiệt, bất hạnh:

* Vũ Nương là nạn nhân của chế độ nam quyền, một xã hội mà hôn nhân không có tình yêu và tự do.

+ Cái thua thiệt đầu tiên làm nên bất hạnh của Vũ Nương là thua thiệt về vị thế. Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có phần không bình đẳng. Vũ Nương “vốn con kẻ khó” còn Trương Sinh lại là “nhà giàu” đến độ khi muốn Sinh có thể xin mẹ trăm lạng vàng để cưới Vũ Nương về.

+ Sự cách bức giàu nghèo ấy khiến Vũ Nương sinh mặc cảm và cũng là cái thế khiến Trương Sinh có thể đối xử thô bạo, gia trưởng với nàng.

* Vũ Nương là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa:

+ Nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm không chỉ là nạn nhân của chế độ phụ quyền phong kiến mà còn là nạn nhân của chiến tranh phong kiến , của cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn. Nàng lấy Trương Sinh, cuộc sống hạnh phúc,cuộc sống vợ chồng kéo dài chưa được bao lâu thì chàng phải đi lính để lại mình Vũ Nương với mẹ già và đứa con còn chưa ra đời. Suốt ba năm, nàng phải gánh vác trọng trách gia đình, thay chồng phụng dưỡng mẹ già, chăm sóc con thơ, phải sống trong nỗi nhớ chồng triền miên theo năm tháng.

+ Chiến tranh đã làm xa cách, tạo điều kiện cho sự hiểu lầm trở thành nguyên nhân gây bất hạnh. Đó cũng là ngòi nổ cho thói hay ghen, đa nghi của Trương Sinh nảy nở, phát triển, dẫn đến cái chết oan uổng của Vũ Nương.

* Đỉnh điểm của bi kịch là khi gia đình tan vỡ, bản thân phải tìm đến cái chết.

+ Là người vợ thuỷ chung nhưng nàng lại bị chồng nghi oan và đối xử bất công, tàn nhẫn.

+ Nghe lời ngây thơ của con trẻ Trương sinh đã nghi oan cho vợ, mắng nhiếc, đánh đuổi nàng đi bất chấp lời van xin khóc lóc của nàng và lời biện bạch của hàng xóm.

+ Vũ Nương đau đớn vô cùng vì tiết giá của mình bị nghi kị,bôi bẩn bởi chính người chồng mà mình yêu thương.

– Bế tắc, Vũ Nương đã phải tìm đến cái chết để giải nỗi oan ức, thoát khỏi cuộc đời đầy đau khổ, oan nghiệt.

* Cái kết thúc tưởng là có hậu hoá ra cũng chỉ đậm tô thêm tính chất bi kịch trong thân phận Vũ Nương.

+ Có thể coi đoạn kết là một kết thúc có hậu, thể hiện niềm mơ ước của tác giả về một kết thúc tốt lành cho người lương thiện, niềm khát khao một cuộc sống công bằng nới cái thiện cái đẹp sẽ chiến thắng cái xấu, cái ác.

+ Nhưng sâu xa, cái kết thúc ấy không hề làm giảm đi tính chất bi kịch của tác phẩm. Vũ Nương hiện về uy nghi, rực rỡ nhưng đó chỉ là sự hiển linh trong thoáng chốc, là ảo ảnh ngắn ngủi và xa xôi. Sau giây phút đó nàng vẫn phải về chốn làng mây cung nước, vợ chồng con cái vẫn âm dương đôi ngả. Hạnh phúc lớn nhất đời người đàn bà ấy là được sum họp bên chồng bên con cuối cùng vẫn không đạt được. Sự trở về trong thoáng chốc và lời từ biệt của nàng đã hé ra cái sự thực cay đắng là cái nhân gian đầy oan nghiệt, khổ đau này không có chốn dung thân cho người phụ nữ vì thế mà “Thiếp chẳng thể trở lại chốn nhân gian được nữa”

– Tuy có những phẩm chất tâm hồn đáng quý nhưng Vũ Nương đã phải chịu một số phận cay đắng,oan nghiệt. Nghịch lí ấy tự nó đã là tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến bất công phi lí đương thời chà đạp lên hạnh phúc của con người.

⇒ Xây dựng hình tượng Vũ Nương, một mặt nhà văn ngợi ca những phẩm chất tâm hồn đáng quý của người phụ nữ, mặt khác thể hiện thái độ cảm thông thương xót cho số phận bất hạnh của họ và cực lực lên án xã hội phong kiến đương thời bất công, phi lí chà đạp, rẻ rúng con người đặc biệt là người phụ nữ. Có lẽ chưa cần nhiều, chỉ cần khai thác chân dung Vũ Nương đã đủ thấy chiều sâu hiện thực và nhân đạo của ngòi bút Nguyễn Dữ.

c. Nguyên nhân gây nên cái chết của Vũ Nương.

– Gây nên nỗi oan nghiệt trong cuộc đời Vũ Nương trước hết là lời nói ngây thơ của con trẻ nhưng sau đó là là tính ghen tuông mù quáng, thói vũ phu của Trương Sinh. Lời con trẻ thì ngây thơ vô tội nhưng lòng ghen tuông của người lớn thì cố vin theo để hăt hủi, ruồng rẫy cho hả dạ.

– Nhưng nói cho cùng Trương Sinh phũ phàng với vợ là do bản tính anh ta vốn vậy và còn vì đằng sau anh ta có sự hậu thuẫn của cả một xã hội nam quyền trọng nam khinh nữ.

– Ngoài ra cũng còn phải tính đến nhân tố khác cấu thành bi kịch Vũ Nương đó là chiến tranh phong kiến, chính chiến tranh phong kiến đã gây nên cảnh sinh li và sau đó góp phần tạo nên cảnh tử biệt. Nếu không có cảnh chiến tranh loạn li thì sẽ không xảy ra tình huống chia cách để rồi dẫn đến bi kịch oan khuất trên.

– Bản thân Vũ Nương là người giàu lòng tự trọng, không thể sống mà chịu tiếng nhuốc nhơ, đành chọn lấy cái cái để tự chứng minh mình trong sạch.

2. Các chi tiết kì ảo:

* Những chi tiết kì ảo xuất hiện trong truyện:

– Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa.
– Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi yến và gặp, trò chuyện với Vũ Nương; được trở về dương thế.
– Vũ Nương hiện về sau khi Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng ở bến Hoàng Giang.

* Ý nghĩa:

– Bao trùm lên truyện một lớp màu kì ảo, làm tăng sức hấp dẫn bằng sự li kì và trí tượng tượng phong phú.

– Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương, một người dù đã ở thế giới khác, vẫn quan tâm đến chồng con, nhà cửa, phần mộ tổ tiên, khao khát được phục hồi danh dự.

– Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về sự công bằng: người tốt dù có phải trải qua bao oan khuất, cuối cùng sẽ được minh oan.

– Khẳng định niềm cảm thương của tác giả đối với sự bi thảm của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

3. Ý nghĩa chi tiết cái bóng:

– Cái bóng là một chi tiết đặc sắc, là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo làm cho câu chuyện hấp dẫn hơn so với truyện cổ tích.
– Cái bóng là đầu mối, điểm nút của câu chuyện. Thắt nút là nó, mà mở nút cũng là nó.
– Cái bóng góp phần thể hiện tính cách nhân vật: Bé Đản ngây thơ, Trương Sinh hồ đồ, đa nghi, Vũ Nương yêu thương chồng con.
-. Cái bóng góp phần tố cáo xã hội phong kiến xung tàn, khiến hạnh phúc của người phụ nữ hết sức mong manh.

III. Tổng kết:

1. Nội dung:

Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, “Chuyện người con gái Nam Xương” thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ.

2. Nghệ thuật:

Tác phẩm là một áng văn hay, thành công về nghệ thuật xây dựng truyện, miêu tả nhân vật, kết hợp tự sự với trữ tình.


Tài liệu tham khảo:

Dàn ý bài viết phân tích nhân vật Vũ Nương

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Dữ (những nét cơ bản về tiểu sử, con người, các sáng tác tiêu biểu,…)

– Giới thiệu khái quát về tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, đặc sắc về nội dung và nghệ thuật,…)

– Giới thiệu những nét khái quát về nhân vật Vũ Nương.

Phân Tích Nhân Vật Vũ Nương Trong Tác Phẩm Của Nguyễn Dữ

II. Thân bài

1. Vũ Nương là một người vợ thủy chung, hết lòng yêu thương chồng

– Nguyễn Dữ đã giới thiệu Vũ Nương là một người phụ nữ vừa đẹp người, vừa đẹp nết, “tính tình thùy mị, nết na lại thêm tư dung tốt đẹp” và vì vậy, Trương Sinh đã xin mẹ “đem 100 lạng vàng cưới về”

– Trong cuộc sống ngày thường của hai vợ chồng, Vũ Nương luôn khéo léo ứng xử, nhường nhịn và giữ gìn khuôn phép để cuộc sống gia đình được ấm êm, hạnh phúc bởi nàng biết chồng mình là người “có tính đa nghi”, “đối với vợ phòng ngừa quá mức”

– Khi tiễn chồng đi lính nàng dặn dò chồng tất mực thiết tha, tình nghĩa

– Khi sống xa chồng: Nỗi nhớ chồng như chiếm trọn hết mọi khoảng không gian, thời gian và tâm trí nàng, nỗi nhớ ấy cứ lặp đi lặp lại không nguôi không dứt và nàng luôn mơ về một tương lai được sống cạnh chồng

– Khi bị chồng nghi oan: hết lời phân trần nhưng không có kết quả, nàng lựa chọn cái chết để minh oan cho sự trinh bạch, trong trắng của mình.

– Khi sống dưới thủy cung:

+ Luôn một lòng hướng về chồng, về con, về quê hương và khao khát một ngày được trở về đoàn tụ.

+ Luôn khao khát được trả lại sự trong sạch cho bản thân

+ Dù nhớ thương chồng con, khao khát được đoàn tụ nhưng nàng vẫn quyết giữ lời hứa sống chết bên Linh Phi,

2. Vũ Nương là một người con dâu hiếu thảo, hết lòng yêu thương, phụng dưỡng mẹ chồng.

– Thay chồng chăm sóc mẹ già khi đau ốm.

– Khi mẹ chồng mất, nàng lo liệu ma chay chu đáo như đối với cha mẹ mình.

– Tấm lòng của chàng đối với mẹ chồng được khắc họa rõ nét qua lời nói của mẹ chồng trước khi mất “Xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.

3. Vũ Nương là một người mẹ giàu tình yêu thương con

– Thiếu vắng chồng nhưng nàng đã một mình sinh con và nuôi dạy con khôn lớn.

– Nàng hết lòng yêu thương con, không muốn con thiếu thốn tình cảm nên tối nào nàng cũng chỉ lên cái bóng của mình trên vách nhà mà nói “Kìa, cha Đản lại đến thăm Đản kia kìa.”

II. Kết bài

– Khái quát những đặc điểm cơ bản, nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm và nêu cảm nghĩ của bản thân.

Bài văn mẫu Phân tích nhân vật Vũ Nương

Nguyễn Dữ là một trong số những tác giả xuất sắc của nền văn học trung đại Việt Nam và tác phẩm “Truyền kì mạn lục” là một trong số những tác phẩm xuất sắc nhất của ông. Mỗi câu chuyện trong “Truyền kì mạn lục” đều để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc và “Chuyện người con gái Nam Xương” – truyện thứ 16 trong tổng số 20 truyện của tác phẩm chính là một trong số những truyện đặc sắc nhất. Đọc “Chuyện người con gái Nam Xương” người đọc sẽ không thể nào quên được hình ảnh của Vũ Nương – một người phụ nữ với nhiều phẩm chất tốt đẹp nhưng lại chịu số phận bất hạnh.

Trước hết, trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” Vũ Nương hiện lên trong mối quan hệ với Trương Sinh – chồng của mình và qua đó nàng hiện lên là một người phụ nữ thủy chung, hết lòng yêu thương, quan tâm chồng con. Ngay từ đầu tác phẩm, tác giả Nguyễn Dữ đã giới thiệu Vũ Nương là một người phụ nữ vừa đẹp người, vừa đẹp nết, “tính tình thùy mị, nết na lại thêm tư dung tốt đẹp” và có lẽ cũng chính vì vậy, Trương Sinh đã xin mẹ “đem 100 lạng vàng cưới về”. Và đúng như những gì Trương Sinh mong ước, chờ đợi, trong cuộc sống ngày thường của hai vợ chồng, Vũ Nương luôn khéo léo ứng xử, nhường nhịn và giữ gìn khuôn phép để cuộc sống gia đình được ấm êm, hạnh phúc bởi hơn ai hết, nàng biết chồng mình là người “có tính đa nghi”, “đối với vợ phòng ngừa quá mức”.

Cuộc sống vợ chồng êm ấm, hạnh phúc chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải đi lính. Lắng nghe những lời dặn dò chồng thiết tha, nghĩa tình của Vũ Nương trước lúc chồng lên đường người ta mới có thể cảm nhận hết được sự dịu dàng và tình yêu thương chồng vô bờ bến của nàng. Nàng đã đặt hạnh phúc của tổ ấm, của gia đình lên trên hết mà coi thường mọi thứ vinh hoa, danh vọng bên ngoài “Thiếp chẳng dám mong được đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. Và trong lời bộc bạch của mình nàng như thấy và cảm thông hết bao nỗi gian lao, vất vả mà chồng sẽ phải chịu đựng, phải vượt qua trên hành trình phía trước “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao”. Đặc biệt, nàng cũng gửi gắm nỗi lòng, sự khắc khoải, xa nhớ chồng của mình trước lúc Trương Sinh đi qua những hình ảnh, những câu chữ thật cảm động lòng người “Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoan, lại thổn thức tâm tình”.

Không dừng lại ở đó, trong suốt những ngày sống xa chồng, sự thủy chung, son sắt và tình yêu thương, nỗi nhớ chồng của Vũ Nương lại càng được thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết. Nỗi nhớ chồng như chiếm trọn hết mọi khoảng không gian, thời gian và tâm trí nàng, nỗi nhớ ấy cứ lặp đi lặp lại không nguôi không dứt “mỗi khi thấy bươm bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi” nàng lại “thổn thức tâm tình, buồn thương da diết”. Và trong những ngày tháng ấy, nàng luôn mơ về một tương lai được sống cạnh chồng, như hình với bóng.

Thế nhưng, sau những tháng ngày đằng đẵng xa chồng, một mình nuôi con, chăm mẹ già, những tưởng ngày trở về hai vợ chồng sẽ có cuộc sống êm ấm, hạnh phúc. Nhưng chỉ vì một câu nói của con mà Trương Sinh nghi oan nàng không còn thủy chung, Vũ Nương đã dùng mọi lời lẽ, phân trần với mong muốn chồng có thể hiểu, có thể cảm nhận được sự trinh bạch và nỗi lòng của mình. Trong lời phân trần của bản thân, nàng đã nhắc đến thân phận của mình và khẳng định tấm lòng thủy chung, trong trắng đối với chồng “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết”. Nàng còn hết mực cầu xin chồng đừng nghi oan cho mình nhưng tất cả mọi thứ đều vô nghĩa, vẫn không thể làm thay đổi được suy nghĩ của Trương Sinh. Bất lực và tuyệt vọng, nàng đã mượn bến Hoàng Giang để bày tỏ nỗi lòng của mình “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho tôm cá, trên xin làm cơm cho diều quạ” và lựa chọn cái chết như một sự minh oan cho chính mình.

Suốt những năm tháng sống nơi Thủy cung, nàng vẫn luôn một lòng hướng về chồng, về con, về quê hương và khao khát một ngày được trở về đoàn tụ. Điều đó thể hiện rõ nét qua việc nàng nhận ra Phan Lang là người cùng làng và khi nghe Phan Lang kể chuyện gia đình thì ứa nước mắt. Và hơn ai hết, nàng luôn khao khát được trả lại sự trong sạch cho bản thân, nàng gửi chiếc thoa vàng, nhờ Phan Lang nói với Trương Sinh lập đàn giải oan cho mình. Đồng thời, dù nhớ thương chồng con, khao khát được đoàn tụ nhưng nàng vẫn quyết giữ lời hứa sống chết bên Linh Phi, điều đó cho thấy nàng là một người trọng nghĩa tình.

Như vậy, với vai trò là một người vợ, Vũ Nương hiện lên là một người thủy chung, mẫu mực, hết lòng yêu thương chồng. Còn trong mối quan hệ với mẹ chồng, nàng hiện lên là một người con dâu hiếu thảo, hết lòng phụng dưỡng mẹ chồng. Trong những ngày Trương Sinh xa nhà đi lính, Vũ Nương đã thay chồng chăm sóc mẹ chồng khi đau ốm “Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn”. Khi mẹ chồng mất, nàng lo liệu ma chay chu đáo như đối với cha mẹ mình. Và tấm lòng của chàng đối với mẹ chồng được khắc họa rõ nét qua lời nói của mẹ chồng trước khi mất “Xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.

Cuối cùng, trong mối quan hệ với con, Vũ Nương hiện lên là một người mẹ hết lòng yêu thương con. Thiếu vắng chồng nhưng nàng đã một mình sinh con và nuôi dạy con khôn lớn. Nàng hết lòng yêu thương con, không muốn con thiếu thốn tình cảm nên tối nào nàng cũng chỉ lên cái bóng của mình trên vách nhà mà nói “Kìa, cha Đản lại đến thăm Đản kia kìa.”

Tóm lại, với nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, đẩy nhân vật vào những tình huống giàu kịch tính cùng cách kể chuyện đặc sắc, “Chuyện người con gái Nam Xương” đã xây dựng thành công nhân vật Vũ Nương – một người phụ nữ với vẻ đẹp toàn diện trong xã hội phong kiến. ;

Bài viết cùng chủ đề:

Đánh giá bài viết:

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị tiết lộ.