Đọc hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử)

doc-hieu-van-ban-day-thon-vi-da-han-mac-tu-678.jpg

Đọc – hiểu văn bản:

Đây thôn Vĩ Dạ
(Hàn Mặc Tử)

I. Tìm hiểu chung.

1. Tác giả :

– Hàn Mặc Tử (1912-1940 ), tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí , quê làng Lệ Mĩ, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình.  Ông là một trong những nhà thơ lớn của phong trào thơ mới .

– Hồn thơ mãnh liệt nhưng quằn quại, đau đớn.

2. Tác phẩm.

– Xuất xứ bài thơ: Viết năm 1938, in trong tập Thơ Điên được khơi nguồn cảm hứng từ mối tình đơn phương của Hàn Mặc Tử với Hoàng Thị Kim Cúc

III. Đọc – hiểu văn bản :

* Nội dung:

1. Cảnh ban mai thôn Vĩ và tình người tha thiết (khổ thơ 1):

– Câu mở đầu là một câu hỏi tu từ: “Sao anh…?

+ Trách móc nhẹ nhàng – lời mời gọi tha thiết của cô gái thôn Vĩ với nhà thơ.

+ Sự phân thân của nhà thơ.

 Khơi dậy trong tâm hồn nhà thơ bao kỷ niệm sâu sắc , hình ảnh đẹp đẽ đáng yêu về xứ Huế .

– Câu 2,3,4: cảnh vật thôn Vĩ.

– Hình ảnh: Cảnh quan sát từ xa

+ Nắng: hàng cau mới lên

Điệp từ “nắng” gợi sự trong trẻo, tinh khiết, rực rỡ làm sáng cả một khoảng trời hồi tưởng .

– “Vườn ai” cách nói mang tính phiếm chỉ, không xác định. Cảnh quan sát ở gần.

– Tính từ “mướt” thể hiện sự mỡ màng, non tơ của cây cối và sự chăm sóc chu đáo, bàn tay khéo léo của con người.

– So sánh “xanh như ngọc”: Vẻ đẹp của vườn thôn Vĩ.

– Mặt chữ điền : người ngay thẳng,  phúc hậu

Cảnh xinh xắn, người phúc hậu,  thiên nhiên và con người hài hòa trong vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng. Đằng sau bức tranh phong cảnh là tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên, con người tha thiết cùng niềm băn khoăn, day dứt của tác giả.

2. Cảnh hoàng hôn thôn Vĩ và niềm đau cô lẻ (Khổ thơ 2):

– 2 câu đầu miêu tả bao quát toàn cảnh:

+ Hình ảnh “gió”, “mây”, “dòng nước”, “hoa bắp”.

+ Nghệ thuật nhân hóa, nhịp 4/3, 4/3;

+ Nhịp khoan thai của xứ Huế: Mây gió thường đi liền với nhau – chia lìa, sự chuyển động ngược chiều của  gió và mây → tăng cái trống vắng của không gian.

+ Ít mây và gió , dòng sông lặng lẽ buồn thiu và cây cỏ chỉ lay động rất nhẹ .

Hình ảnh đẹp, lặnh lẽo – tâm trạng: u buồn , cô đơn trước sự thờ ơ xa cách của cuộc đời  .

– 2 câu sau:  (Tả dòng sông Hương trong đêm trăng  vừa thực vừa mộng)

+ Câu hỏi tu từ: “Có chở trăng về…”

+ Dòng sông tràn đầy ánh trăng tuôn chảy khắp không gian nghệ thuật thêm mênh mang hư ảo .

+ Con thuyền thực trở thành một hình ảnh của mộng tưởng nó đậu trên bến sông trăng nào đó để chở trăng về một nơi nào đó trong mơ. Sông Hương huyền ảo thơ mộng dưới  ánh trăng .

→ Nhà thơ yêu Huế, yêu thôn Vĩ = tình yêu tha thiết nhớ nhung trong khao khát mộng tưởng – tâm trạng con người đang mông lung giữa mộng – ảo , hư – thực ..

3. Nỗi niềm thôn Vĩ ( Khổ thơ 3).

– 2 Câu đầu :

+ “Áo em trắng quá” thể hiện màu trắng tinh khôi  →  hình ảnh mờ ảo khó xác định, cảnh vật và con người nhạt nhòa.

+ Điệp ngữ “khách đường xa”: Nhấn mạnh nỗi xót xa như lời tâm sự của nhà thơ với chính mình ( Tác giả chỉ là khách đường xa) → Mặc cảm về tình người.

– 2 câu cuối: Mang chút hoài nghi nhưng lại chứa chan niềm thiết tha với cuộc đời

+ Từ phiếm chỉ “ai” mở ra 2 ý nghĩa: Nhà thơ làm sao biết tình người xứ Huế có đậm đà hay không nhưng tình cảm của nhà thơ đối với con người xứ Huế hết sức thân thiết, đậm đà.

Nổi cô đơn trống vắng trong một tâm hồn thiết tha yêu thương con người và cuộc đời .

* Nghệ thuật:

– Trí tưởng tượng phong phú

– Nghệ thuật so sánh, nhân hóa, thủ pháp lấy động gợi tĩnh, sử dụng câu hỏi tu từ…

– Hình ảnh sáng tạo có sự hòa quyện giữa thật và ảo

* Ý nghĩa văn bản:

– Bức tranh phong cảnh Vĩ Dạ và lòng yêu đời ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khúc của nhà thơ

BÀI TẬP VẬN DỤNG:

1/  Bài tập 1/ SGK

2/ Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi :

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

(Trích Đây thôn Vĩ Dạ , Hàn Mặc Tử, Tr 39, SGK Ngữ văn 11,Tập II, NXBGD 2007)

a/ Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên?

b/ Câu thơ mở đầu là câu hỏi nhiều sắc thái. Đó là những sắc thái gì ? Tại sao tác giả không dùng từ về thăm  mà dùng từ về chơi ?

c/ Xác định biện pháp tu từ trong đoạn thơ? Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó?

d/ Qua đoạn thơ, nhân vật trữ tình bộc lộ tâm trạng gì ?

3/

Mơ khách đường xa khách đường xa,
Áo em trắng qúa nhìn không ra;
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

(Trích Đây thôn Vĩ Dạ , Hàn Mặc Tử, SGK Ngữ văn 11,Tập II, NXBGD 2007)

Cảm nhận của em về đoạn thơ trên. Từ đó bày tỏ suy nghĩ về một bài học tâm đắc được rút ra từ đoạn thơ.


Dàn bài phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.

  • Mở bài:

– Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào Thơ Mới. Có thể nói, ông khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng ra Trường thơ Loạn. Thơ Hàn Mặc Tử mang diện mạo phức tạp, bí ẩn nhưng vẫn thể hiện rất rõ tình yêu đời, yêu người và nỗi đau trần thế. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” được sáng tác năm 1938, trong thời gian nằm trị bệnh tại Quy Hòa – Quy Nhơn. Tác phẩm được khơi nguồn từ mối tình đơn phương của Hàn Mặc Tử với Hoàng Thị Kim Cúc.

  • Thân bài:

– Xuất hiện trong một bối cách đặc biệt, bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một sáng tạo dọc đáo của Hàn Mặc Tử. Lúc đầu, bài thơ có tên Ở đây thôn Vĩ Dạ, in trong tập Thơ điên, sáng tác năm 1938. Bài thơ gắn với câu chuyện về bức bưu thiếp của nàng Hoàn Thị Kim Cúc – cô gái Huế mà Hàn Mặc Tử thầm thương trộm nhớ. Nhưng Hàn Mặc Tử không hề ngỏ lời, Hoàng Cúc cũng không hề hay biết. Năm 1937, được tin Hàn bị bệnh nặng ở Quy Nhơn, Hoàng Cúc nghe lời khuyên của một người em thân thiết với Hàn Mặc Tử, đã gửi cho ông vài lời hỏi thăm viết đằng sau bức bưu ảnh chụp cảnh bến nước, con thuyền. Chính lời thăm hỏi của người xưa ấy đã khơi gợi trong thi nhân những hồi ức trong sáng về mảnh vườn thôn Vĩ, về bến sông Hương, về con người năm cũ, từ đó thoi thúc ông viết bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ. Bài thơ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người.

1. Vẻ đẹp ban mai thôn Vĩ và lời tình thiết tha (khổ thơ 1) :

– Mở đầu là bức tranh trong hồi ức nên tất cả những hình ảnh hiện lên với một vẻ đẹp toàn mĩ. Một kiểu “Nước non thanh tú diễm lệ”. Bức tranh mang nặng một tình yêu đời, yêu người vừa mãnh liệt vừa sâu kín. Thấp thoáng đâu đó là nỗi mặc cảm, nỗi đau thân phận.

– Dù ở trong bóng tối của bệnh tật nhưng tâm hồn thi nhân như bông hoa mặt trời, luôn hướng về ánh sáng, hướng về sự sống: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”?: Câu hỏi tu từ nhiều sắc thái: Lời mời gọi tha thiết, lời trách móc nhẹ nhàng của cô gái sông Hương. Cũng là lời nhà thơ tự trách, tự hỏi mình, là ước ao thầm kín của người đi xa được về lại thôn Vĩ → Nhà thơ khát khao được trở về thôn Vĩ.

– Cảnh thôn Vĩ hiện lên với vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng:

+ Vẻ đẹp của “nắng hàng cau – nắng mới lên”: gợi đúng đặc điểm của cái nắng miền Trung: nắng nhiều và chói chang, rực rỡ lúc hừng đông. “Nắng hàng cau”: hình ảnh quen thuộc, gần gũi của xứ Huế nói riêng và của miền Trung nói chung. “Nắng mới lên” : Ấm áp, dịu dàng, mát mẻ, tinh khiết, ánh nắng của ban mai.  Điệp từ “nắng”: gợi vẻ đẹp của nắng thật trong trẻo, rực rỡ, tinh khiết, làm bừng sáng cả khoảng trời hồi tưởng.

+ Vẻ đẹp “Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc” (đại từ phiếm chỉ + so sánh tự nhiên độc đáo): gợi sự mượt mà, tươi tốt, đầy sức sống. Đại từ phiếm chỉ “vườn ai”: chỉ những khu vườn của quê nhà, gợi cảm giác mơ hồ, bất định trong tâm hồn thi nhân. “Mướt quá”: mượt mà, mỡ màng, óng ả, tràn đầy sức sống của khu vườn. “Xanh như ngọc” : sang trọng, quý phái, dịu nhẹ, long lanh của hoa lá dưới ánh nắng mai.

+ “Lá trúc chen ngang”: lá trúc mảnh mai, gợi nét đẹp kín đáo, phúc hậu, dịu dàng của con người xứ Huế. “Mặt chữ điền”. Khuôn mặt của người ngay thẳng, cương trực, phúc hậu. Đó là biểu tượng của nét đẹp phúc hậu, hiền lành, trung thực. Dáng vẻ: e thẹn, khép nép.

+ Hình ảnh “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” gợi lên bóng dáng con người xuất hiện tạo nên sự hấp dẫn cho lời mời gọi. Theo quan điểm người xưa, mặt chữ điền là gương mặt người phúc hậu.

→ Thiên nhiên thôn Vĩ buổi sớm mai đẹp thanh khiết, trong trẻo, thơ mộng và tràn trề sức sống. Cảnh xinh xắn, con người phúc hậu, thiên nhiên và con người hài hòa với nhau trong vẻ đẹp kín đáo dịu dàng. Đằng sau bức tranh phong cảnh là tình yêu thiên nhiên, con người tha thiết và niềm băn khoăn day dứt của tác giả. Có lẽ, Hàn cũng mong muốn được trở về thăm lại chốn cũ, người xưa. Nhưng thực tế lại quá phũ phàng.

* Bình luận:

– Bao trùm bài thơ là niềm thích thú say mê, lòng yêu mến tán thưởng vẻ đẹp của cảnh sắc thôn Vĩ. Hàng loạt các hình ảnh về thôn Vĩ hiện lên rất rõ ràng, chân thực tưởng như thi sĩ đang đứng trước cảnh sắc thôn Vĩ mà nâng niu, ngắm nhìn.

– Hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” mang một vẻ đẹp lấp lánh tinh khiết. Câu thơ lưu lại một khoảnh khắc thật đẹp khi ngắm nhìn nắng mới trải dần trên những lá cau non. Cảnh vườn ai mướt quá xanh như ngọc thật đẹp thật độc đáo.

– Từ “mướt” và hình ảnh so sánh xanh như ngọc đã cộng hưởng hòa lên vẻ đẹp đầy sức cuốn hút của vườn Vĩ Dạ. Đó là một màu xanh mướt óng ả, non tơ đến nuột nà phủ lên khắp khu vườn. cả khu vườn tựa như một viên ngọc bích khổng lồ không chỉ rời rợi sắc xanh mà còn lan tỏa ánh xanh. “Mướt quá” bộc lộ sự trầm trồ của thi sĩ, chứng tỏ Hàn Mặc Tử đang say sưa trong hồi tưởng. Đại từ phiếm chỉ ai xa vời mông lung chứa đựng một nỗi u buồn, xót xa.

– Hình ảnh Lá trúc che ngang mặt chữ điền trong câu thơ cuối thật thú vị, ẩn chứa nhiều cách hiểu khác nhau. Đó có thể là khuôn mặt phúc hậu mang nét dịu dàng, duyên dáng của những cô gái Huế. Hình ảnh thơ gợi sự hòa điệu giữa người và cảnh. Cũng có thể hiểu đó là gương mặt thi sĩ khi trở về thôn Vĩ nhưng trong hoàn cảnh lén lút, vụng trộm. Câu thơ là niềm yêu đời mãnh liệt của tâm hồn trĩu nặng mặc cảm chia lìa. Cảnh và người thôn Vĩ thật đẹp nhưng chỉ còn trong hoài niệm.

2. Cảnh sông nước xứ Huế đêm trăng và niềm đau cô lẻ, chia lìa (khổ thơ 2).

– Không gian mênh mông có đủ gió, mây, sông, nước, trăng, hoa. – Mặc cảm chia lìa ảnh hưởng, tác động đến hình ảnh thơ với những sự vận động tạo sự li tan. – Thi nhân tìm về với trăng như tìm về sự cứu rỗi, tìm về sự an ủi mộng mị nhưng nhận về chỉ là sự hoài nghi, vô vọng. Thơ là tiếng nói của thân phận, điều đó đúng với Hàn Mặc Tử.

“Gió theo lối gió mây đường mây”:  Cảnh thôn Vĩ thật êm đềm thơ mộng, nhịp điệu khoan thai, nhẹ nhàng: Gió mây nhè nhẹ bay đi, dòng chảy lững lờ, cây cỏ khẽ đung đưa. Cách ngắt nhịp 4/3 gợi tả không gian gió mây chia lìa như một nghịch cảnh đầy ám ảnh của sự chia lìa, xa cách.

– Hình ảnh “gió” – “mây”: Lẽ thường thì gió thổi mây bay, nhưng ở đây “gió lối gió, mây đường mây”. Điều này có vẻ phi lí nhưng trở nên hợp lí khi nhìn qua lăng kính tâm trạng. Thi hào Nguyễn Du có viết trong Kiều “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Hàn không chỉ buồn mà còn có cả đau khổ và mặc cảm thân phận. Đây chính là biểu hiện của sự chia cách.

“Dòng nước buồn thiu”: nghệ thuật nhân hóa dòng sông trở thành một sinh thể mang tâm trạng gợi cảm giác u buồn. Dòng sông không thể tự buồn mà nhà thơ đã gửi nỗi buồn vào dòng sông.

“Hoa bắp lay”: sự chuyển động rất nhẹ, “lay” gợi nỗi buồn hiu hắt, thưa vắng.

→ Cảnh vật được nội tâm hóa bộc lộ nỗi đau thân phận, sự chia lìa xa cách.

“Sông trăng”: hình ảnh vừa lạ vừa quen thuộc gợi lên vẻ đẹp lãng mạn, nhẹ nhàng, tất cả như đang đắm chìm trong bồng bềnh mơ mộng, như thực mà cũng như ảo. Dòng sông tràn ngập ánh trăng vàng. Con thuyền vốn là hình ảnh có thực được nhìn qua con mắt của thi nhân trở thành một hình ảnh mộng tưởng. Thuyền đậu trên bến sông trăng để trở trăng về một nơi nào đó trong mơ. Gợi lên vẻ đẹp lãng mạn, nhẹ nhàng, tất cả đang đắm chìm trong bồng bềnh mơ mộng, như thực như ảo.

– Đại từ phiếm chỉ “ai” gợi cảm giác mơ hồ, xa lạ, đầy ảo mộng.

“Có trở trăng về kịp tối nay?” : câu hỏi tu từ thoảng thốt, băn khoăn, có gì đó khắc khoải, khẩn thiết. Chữ kịp khiến cho khoảng thời gian “tối nay” càng trở nên ngắn ngủi. Ta cảm nhận được sự lo sợ, một mặc cảm về hiện tại ngắn ngủi, hé mở cho ta thấy chủ thể như muốn chạy đua với thời gian.

– Câu hỏi: “Có chở trăng về kịp tối nay?” Đóng vai trò làm sáng lên hi vọng gặp gỡ nhưng lại thành ra mông lung, xa vời. Từ “kịp” kết hợp yếu tố chỉ thời gian “tối nay” có lẽ đã dâng lên trong tâm trí nhà thơ nỗi sợ hãi. Nó như gấp rút vội vàng mà lại vô cùng tuyệt vọng.

+ Hàng loạt các thủ pháp nghệ thuật như nhân hóa, liệt kê, đối lập, lấy động tả tỉnh được sử dụng một cách tài tình để bật lên tâm trạng có vẻ thờ ơ xa cách cuộc đời. Đối với thi nhân đó là cả một nỗi cô đơn, quạnh vắng, nỗi hụt hẫng khi mọi thứ đã góp phần đóng sầm cánh cửa thanh xuân.

Khổ thơ thứ hai đã vẽ nên một bức tranh sông Hương nên thơ, huyền ảo, phảng phất tâm trạng u buồn, cô đơn của nhà thơ. Cảm xúc chuyển biến đột ngột từ niềm vui của hi vọng gặp gỡ sang trạng thái lo âu đau buồn thất vọng khi tác giả nhớ và mặc cảm về số phận bất hạnh của mình.

* Bình luận:

– Chỉ bằng vài nét chấm phá Hàn Mặc Tử đã gợi dậy thần thái, linh hồn của Huế trong đêm trăng thơ mộng: mây trời đìu hiu, sông nước lặng tờ, thuyền ai gối bãi ăm ắp đầy trăng. Cảnh sắc hiện lên êm đềm huyền ảo mà tĩnh lặng, u buồn.

– Bức tranh chứa đựng tâm trạng não nề của thi sĩ. Mặc cảm chia lìa trong hình ảnh Gió theo lối gió, mây đường mây. Câu thơ hằn lên sự chia lìa ngang trái trớ trêu: gió mây vốn luôn quấn quýt với nhau mà giờ đây gió một đằng, mây một nẻo. Sự chia lìa thấm vào hình ảnh hằn lên trong nhịp điệu thơ: nỗi đau tuyệt giao với cuộc đời của thi sĩ

– Nỗi cô đơn bơ vơ trong hình ảnh: “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”. Đó là một nỗi buồn bâng khuâng mà da diết, khắc khoải phảng phấp trong câu thơ để rồi thấm đượm và hồn người đọc. Danh từ “lay” tự nó không vui, không buồn nhưng đặt trong câu thơ này sao lại gợi một nỗi buồn hiu hắt đến thế. Hình ảnh “hoa bắp lay” thật tủi sầu như ám lấy thi sĩ – thân phận bị cuộc đời xa lánh, ruồng bỏ.

– Quá tuyệt vọng, Hàn Mặc Tử ao ước có trăng trở về với mình. Câu thơ như lời khẩn cầu da diết, khắc khoải đến cháy bỏng: “Có chở trăng về kịp tối nay”

– Thật xót xa khi hiện thực khiến thi sĩ tuyệt vọng: cơ hội ngắm trăng ngắn ngủi trong tối nay mà trăng thì lại ở mãi ngoài kia xa vời vợi, con thuyền chở trăng thì vu vơ, phiếm chỉ.

3. Hình ảnh người thiếu nữ và tâm trạng của nhà thơ (khổ thơ 3).

– Tâm trạng của nhà thơ qua khổ thơ cuối: “Mơ khách đường xa khách đường xa”. Điệp ngữ “khách đường xa”: Có hai cách hiểu. Khách đường xa là ai? Có lẽ là một người ở phương xa đến thăm thi nhân. Hay khách đường xa chính là thi nhân trong cuộc hành trình tâm tưởng trở về thăm chốn cũ người xưa? Cho dù là cách hiểu nào thì cũng chỉ là những khát khao được giao cảm nhưng vô vọng.

+ “Mơ”: trạng thái vô thức, nhà thơ đang đắm chìm trong cõi mộng. Điệp ngữ “khách đường xa”: nhấn mạnh khoảng cách xa rời, chỉ là khách trong mơ.

“Áo em trắng quá nhìn không ra”: từ “quá” diễn tả sự choáng ngợp, thảng thốt; “nhìn không ra” cực tả sắc trắng, trắng một cách kì lạ, bất ngờ. Đây không còn là màu sắc thực nữa mà là màu trong tâm tưởng.

– “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”: câu thơ có thể hiểu theo hai nghĩa.

+ Về nghĩa thực, xứ Huế nắng nhiều, mưa nhiều nên nhiều sương khói và sương khói làm tăng thêm vẻ hư ảo, mộng mơ của xứ Huế.

+ Về nghĩa bóng, sương khói làm mờ ảo cả bóng người hay chính là tượng trưng cho một mối tình mong manh, xa vời, không trọn vẹn.

+ Sắc trắng cực tả: Màu trắng ở câu thơ thứ hai có hai cách hiểu. Một số người thì cho là áo em trắng lại ở giữa nơi đầy sương khói nên áo em lẫn vào khói sương nhìn không ra. Cách hiểu thứ hai, màu trắng đến lóa mắt không thể nhìn rõ được, không thể nắm bắt. Và màu trắng ở đây phải chăng còn là sự trong sáng của một cô gái nơi vườn ngọc?

“Ai biết tình ai có đậm đà”: đại từ phiếm chỉ “ai” mở ra hai lớp nghĩa: Nhà thơ làm sao biết tình người xứ Huế có đậm đà với mình hay không hay cũng mờ ảo như làn khói kia. Người xứ Huế có biết chăng tình cảm của nhà thơ với cảnh Huế, người Huế hết sức đậm đà, thắm thiết. Khi hoài niệm về quá khứ xa xôi hay ước vọng về những điều không thể nhà thơ càng thêm đau đớn. Điều đó chứng tỏ tình yêu tha thiết cuộc sống của một con người luôn có khát vọng yêu thương và gắn bó với cuộc đời.

– Nhà thơ là người cho máu. Hạt mầm thơ của Hàn Mặc Tử đã gieo xuống vùng đất của cái chết và nỗi đau để rồi nở ra những đóa hoa thơm thật đẹp. Đóa hoa ấy hướng về ánh sáng và sự sống, đồng thời an ủi tâm hồn những người cùng khổ. Nó thầm thì với ta về những điều chân thực trong cuộc sống: mọi sự sống thật quý giá. Hãy trân trọng sự sống vì được sống đã là hạnh phúc

→ Khổ thơ thể hiện nỗi cô đơn, trống vắng trong một tâm hồn tha thiết yêu thương con người và cuộc đời đã nhuốm màu đau thương, bất hạnh. Lời thơ bâng khuâng hư thực gợi nỗi buồn xót xa trách móc. Khi hoài niệm về quá khứ xa xôi hay ước vọng về những điều không thể nhà thơ càng thêm đau đớn. Điều đó chứng tỏ tình yêu tha thiết cuộc sống của một con người luôn có khát vọng yêu thương và gắn bó với cuộc đời.

* Bình luận:

– Bước vào địa hạt cõi mộng, ngôn ngữ mang đậm màu sắc siêu thực. Không gian huyền bí, mờ ảo, vô định, khó nắm bắt. Vang vọng câu hỏi chơi vơi nhưng không một lời đồng vọng. Tự hỏi bản thân, cuộc đời,…

– Ao ước có trăng không thành, thi sĩ mơ tưởng về người thôn Vĩ. Nhưng trong giấc mơ người thương yêu thủa nào đã là khách đường xa. Bóng hình người thương vừa hiện ra đã chợt mất hút. Hình bóng người thương hiện lên thật ám ảnh: “Áo em trắng quá nhìn không ra”. Tác giả cực tả sắc trắng lạ lùng của áo em thi sĩ muốn gửi gắm nỗi niềm đắm say trước vẻ đẹp lộng lẫy của người yêu dấu cùng nỗi tuyệt vọng bất lực giữa anh và em là vực sâu thăm thẳm, em là thiên thần còn anh là tội đồ trong địa ngục tối tăm

– Thi sĩ đành ngậm ngùi trở về thực tại ở đây là trại phong lạnh lẽo, mịt mù sương khói phủ mờ cả bóng anh. Ta nghe như có tiếng dội đau thương của kiếp người bị lãng quên trong lãnh cung xa thẳm.

– Bám víu cuối cùng của thi sĩ là chút tình với cuộc đời ngoài kia nhưng cũng mong manh xa vời lắm: “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Câu thơ đọng lại tình yêu hướng về cuộc đời trần thế mãn liệt mà vô vọng, đau đớn .

  • Kết bài:

– Với trí tưởng tượng phong phú kết hợp với nghệ thuật so sánh nhân hóa, thủ pháp lấy động gợi tĩnh, sử dụng câu hỏi tu từ,.., nhà thơ đã khác họa thành công vẻ dẹp bức tranh thôn Vĩ. Cảm xúc nổi bật thấm đẫm bài thơ là niềm đau thương nhưng mạch thơ hết sức tự do, phóng túng. Cách thể hiện cảm xúc tinh tế, tài hoa, bút pháp gợi tả với những hình ảnh biểu tượng mở ra khoảng trống mênh mang đế người đọc tự suy ngẫm, liên tưởng. Hình ảnh sáng tạo, có sự hòa quyện giữa thực và ảo biểu hiện nội tâm rất tinh tế. Mạch thơ tưởng như đứt đoạn nhưng lại hợp lí và gắn kết. Tất cả đều là nhịp thơ 4/3 có khi gấp gáp, có khi khẩn khoảng, có khi trầm lắng ưu tư. Ngôn từ trong sáng tinh tế, có khả năng gợi hình biểu cảm cao. Bài thơ là một bức tranh đẹp về một miền quê của đất nước, là tiếng lòng của một cong người tha thiết yêu đời, yêu người. Đau thương chính là cảm xúc chủ đạo. Càng yêu đời tha thiết càng mặc cảm thân phận, càng khát khao yêu thương càng chới với hoài nghi. Và, có cả nỗi buồn của kẻ tuyệt vọng. Nhưng dù thế nào, người đọc vẫn tìm thấy khát vọng sống, khát khao giao hòa với đời. Tất cả được bộc lộ rõ qua lăng kính hoài niệm vô cùng trong sáng.

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của nhà thơ Hàn Mặc Tử




Bài viết liên quan:

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.