Đọc – hiểu văn bản: “Người cầm quyền khôi phục uy quyền” (Trích “Những người khốn khổ” – Huy-gô)

v

Đọc – hiểu văn bản: “Người cầm quyền khôi phục uy quyền” (Trích “Những người khốn khổ” – Huy-gô)

I. Ðọc – hiểu chú thích:

1. Tác giả: Vich-to. Huygô

– Vich-to. Huygô (1802-1885) nhà văn thiên tài nước Pháp, danh nhân văn hóa nhân loại, người bạn lớn của những người khốn khổ luôn hoạt động vì sự tiến bộ của con người.

a. Cuộc đời:

– Thơ ấu: chịu nhiều thiệt thòi về tình cảm gia đình.

– Là người thông minh, tài năng nảy nở sớm

– Ông sinh ra và lớn lên trong thế kỉ XIX, một thế kỉ đầy bão tố cách mạng. Suốt đời hoạt động xã hội và chính trị vì sự tiến bộ của thời đại.

– Là nhà văn nổi tiếng nước Pháp thế kỉ XIX, là chủ soái của dòng văn học lãng mạn tích cực. Vich-to. Huygô là nhà văn đầu tiên của nước Pháp sau khi mất được đưa vào chôn cất ở điện Păng-tê-ông, nơi trước đó chỉ dành cho vua, chúa.

b. Sáng tác:

– Sáng tác và cuộc đời gắn với thế kỉ XIX- thế kỉ đầy bão tố cách mạng.

– Cây đại thụ, nhà văn lớn của nước Pháp và nhân loại thế kỉ XIX

– Nghệ sĩ toàn diện, sáng tác 3 thể loại:

+ Tiểu thuyết: Những người khốn khổ (1862), Nhà thờ đức bà Pari (1831)
+ Thơ: Tia sáng và bóng tối (1840), Trừng phạt (1853)
+ Kịch: Ecnani (1830)

– Tác phẩm thể hiện lòng thương yêu bao la đối với những người dân lao động nghèo khổ.

2. Tác phẩm: Những người khốn khổ.

– Hoàn cảnh sáng tác: đoạn trích “Người cầm quyền khôi phục uy quyền” là chương IV, quyển 8 phần thứ nhất tiểu thuyết “Những người khốn khổ”. Huy-gô bắt tay vào việc sưu tầm tài liệu và bắt đầu viết bộ tiểu thuyết này vào năm 1840, hoàn thành nó vào năm 1861 và được xuất bản năm 1862.

–  Thể loại: Tiểu thuyết.

– Nội dung: Tái hiện khung cảnh Pari và nước Pháp ba thập kỉ đầu thế kỉ 19, xoay quanh nhan vạt Giăng Van-giăng từ khi được ra tù đến lúc qua đời, với một thông điệp: trên đời, chỉ có một điều ấy thôi, đó là thương yêu nhau.

– Bố cục: 3 phần:

+ Phần 1 (từ đầu đến “Phăng-tin đã tắt thở“): Gia-ve đến bắt Giăng Van-giăng khiến Phăng-tin đang bị bệnh càng khiếp sợ đến chết.
+ Phần 2 (Còn lại): Giăng Van-giăng từ biệt Phăng-tin, thầm hứa với linh hồn người phụ nữ bất hạnh.

* Tóm tắt tác phẩm: 

Phăng tin bị Gia-ve bắt bỏ tù, nhờ có Giăng Van-giăng chị mới thoát nạn rồi được đưa vào bệnh xá. Trong lúc đang hết lòng cứu giúp Phăng Tin, Giăng Van-giăng lại quyết định ra tòa tự thú vì muốn cứu một nạn nhân bị Gia-ve bắt oan. Đoạn trích kể lại tình huống tên Gia-ve dẫn lính đến bắt Giăng Van-giăng khi ông đến thăm Phăng-tin ở bệnh xá. Khi Gia-ve đến, Phăng-tin nghĩ hắn đến bắt mình nên vô cùng sợ hãi. Vì không muốn dập tắt niềm hi vọng của Phăng-tin nên Giăng Van-giăng hạ mình cầu xin Gia-ve cho ông ba ngày để tìm ra con gái của chị. Nhưng Gia-ve vẫn tàn nhẫn tuyên bố Giăng Van-giăng là một tên tù khổ sai vượt ngục, hắn sẽ bắt ông. Nghe xong những lời lẽ ấy Phăng-tin đã tuyệt vọng tắt thở. Căm phẫn trước sự tàn nhẫn của Gia-ve, Giăng Van-giăng khôi phục uy quyền khiến Gia-ve phải run sợ. Giăng Van-giăng đến chỗ Phăng- tin nói những lời cuối với chị rồi đứng dậy quay về phía Gia-ve và nói “giờ thì tôi thuộc về anh”.

II. Đọc – hiểu văn bản.

1. Ý nghĩa nhan đề “Những người khốn khổ”:

– Tầng nghĩa 1: Chỉ sự việc Gia-ve khôi phục uy quyền trước Giăng Van-giăng (trước khi Giăng Van-giăng là thị trưởng Ma – đơ – len, Gia – ve buộc phải phục tùng).

– Tầng nghĩa 2: Mặc dù Giăng Van-giăng là đối tượng săn đuổi của Gia-ve, nhưng bằng sự bất khuất và sức mạnh của tình thương, ông vẫn có thể đẩy lùi và chiến thắng được hắn, khiến hắn khuất phục, run sợ → Giăng Van – giăng khôi phục uy quyền.

⇒ Họ là nạn nhân của cường quyền và áp bức (một người đang bị bắt, một người ốm sắp chết mong được gặp con); là những người khốn khổ cùng cưu mang giúp đỡ nhau trong tình yêu thương đồng loại.

2. Nhân vật Giăng – Van – giăng

* Hoàn cảnh và số phận:

– Vì nghèo đói mà ăn cắp bánh mì nuôi cháu bị phạt tù khổ sai 19 năm trời.

– Ra tù được giám mục Mi-ri-en cảm hóa bằng tình thương, trở thành người tốt, được làm thị trưởng luôn giúp đỡ mọi người.

– Bị Gia –ve ganh ghét, tố giác, lại phải vào tù. Khi ra tù tiếp tục giúp đỡ mọi người, cuối cùng lại chết trong cảnh cô đơn.

⇒ Con người của tình thương, của sự nghèo khổ và kém may mắn

* Tính cách và phẩm chất:

– Vì cứu một người bị Gia –ve bắt oan nên Giăng Van –giăng phải tự thú mình là người tù khổ sai.

 * Thái độ với Gia-ve:

– Trước khi Phăng – tin chết: Cử chỉ điềm tĩnh, ngôn ngữ nhã nhặn, từ tốn, nhẹ nhàng, không hề run sợ, chỉ lo cho Phăng-tin, hạ mình cầu xin Gia –ve hoãn lại 3 ngày để tìm con cho Phăng -tin

– Sau khi Phăng – tin chết: Giọng điệu lạnh lùng, đầy thách thức với hành động
“cầm lăm lăm cái thanh giường trong tay và nhìn Gia – ve trừng trừng”, “Tôi khuyên anh đừng quấy rầy tôi lúc này”

→ thái độ quyết liệt, kiên cường, đầy bản lĩnh khiến Gia –ve cũng phải chùn bước “run sợ”-> người cầm quyền đã khôi phục uy quyền

* Thái độ với Phăng – tin:

– Trước sự hốt hoảng của Phăng –tin khi Gia-ve đến: Quan tâm đến bệnh tình và quyết định tìm đứa con cho chị với thái độ đầy trách nhiệm.

– Khi Phăng – tin chết: Giăng Van –giăng xót thương khôn tả, thì thầm vào tai chị, sửa lại mái tóc cho chị, vuốt mắt cho chị, đặt lên bàn tay chị một nụ hôn → Là thái độ yêu thương của những người cùng khổ với nhau

⇒ Giăng Van Giăng là con người khốn khổ nhưng đầy trách nhiệm, có tình yêu thương cao cả, có bản lĩnh cứng cỏi chống lại cái ác.

+ Sự hiện diện của Giăng Van-giăng giống như một vị cứu tinh, một đấng cứu thế

3. Nhân vật Gia – ve.

* Chân dung Gia – ve:

– Ngoại hình:

+ Bộ mặt gớm ghiếc
+ Cặp mắt của hắn phóng vào tội nhân như cái móc sắt quen kéo giật vào bao kẻ khốn khổ
+ Cười ghê tởm phô ra tất cả hai hàm răng

– Giọng nói :

+ “có gì đó man rợ, điên cuồng”, “không còn là tiếng người nói mà là tiếng thú gầm”
+Lời lẽ : Mày tao thô bạo

– Hành động, thái độ:

+ Với Giăng Van – giăng: “hét lên”, “nắm lấy cổ áo ông thị trưởng”, “giậm chân”, “túm lấy cổ áo và ca-vát của Giăng Văn – giăng”

→ Hành động lỗ mãng, ngạo ngược, tác oai tác quái

+ Thái độ trước Phăng-tin: Gia – ve không một chút động lòng thương cảm nào mà hoàn toàn coi cô là một con điếm mạt hạng

→ Thái độ, cách cư xử hết sức tàn nhẫn, vô lương tâm, mất hết tính người

⇒ Đó là chân dung của một con kẻ nham hiểm độc ác, một con ác thú ghê tởm, một con chó săn phụng sự cho một chế độ phi nhân tính.

4. Sự đối lập giữa hai nhân vật Gia-ve và Giăng Van-giăng:

* Nhân vật Gia – ve:

Hình thức: Giọng nói man rợ, “điên cuồng như tiếng thú gầm”. Cặp mắt “nhìn như cái móc sắt từng quen kéo giật vào hắn bao kẻ khốn khổ, đi thấu vào xương tủy”. Cái cười “ghê tởm phô tất cả hai hàm răng” Dùng từ thô lỗ, đầy vẻ khinh miệt, ác ý, độc địa.

⇒ Từ chỗ lột tả bản chất của Gia-ve qua cử chỉ, hành động tác giả đã vẽ nên ấn tượng về thái độ của Gia-ve qua đôi mắt nhìn của một loài ác thú. Sự so sánh độc đáo đã tạo nên cho bạn đọc cảm giác về sự hiểm ác ẩn chìm trong ánh nhìn.

Thái độ:

– Đối với Giăng Van-giăng: Ban đầu “hắn đứng lì một chỗ mà nói”, ”kéo giật vào hắn”, sau đó hắn mới “lao tới tiến vào giữa phòng” , “nắm lấy cổ áo ông Thị trưởng”. Tác giả sử dụng hàng loạt những động từ mạnh kế tiếp nhau với mức độ tăng dần nhằm miêu tả hành động của Gia – ve chứa đựng đầy đủ sự bạo tàn nham hiểm của một con ác thú. Quả thật, Gia – ve hiện nguyên hình là một con ác thú không hơn không kém

– Đối với Phăng-tin: Gia-ve không hề quan tâm đến người bệnh là Phăng-tin. Hắn quát tháo làm náo loạn cả phòng bệnh. Hắn không dấu điều mà Giăng-van-giăng phải bí mật với Phăng-tin khi hắn giễu cợt “Mày nói giỡn! Mày xin tao 3 ngày để chuồn hả? Mày bảo là đi tìm đứa con cho con đĩ kia! Á à! Tốt thật, tốt thật đấy!” ⇒ Thái độ hống hách, quát đạt trịnh thượng, coi khinh con người.

– Khi Phăng-tin qua đời: hắn phát khùng hét lên, toan gọi lính tráng (Đứng lại, tay nắm lấy đầu can, lưng tựa vào khung cửa; Mắt không rời Giăng Văn-giăng) ⇒ Trước những hành động của Giăng Van-giăng, Gia-ve đã phải run sợ.

– Gia-ve lạnh lùng tàn nhẫn trước tình máu mủ thiêng liêng hắn không một chút động lòng thương xót. Trái tim hắn không một chút tình người, hắn là một kẻ vô tình – một kẻ lòng lang dạ thú. Trước hành động cao thượng và rất người của Giăng Van-giăng, hắn đã lùi bước trong run sợ ⇒ Hình ảnh của một loài ác thú.

⇒ Gia-ve đứng trên công lí của nền dân chủ tư sản Pháp.

* Nhân vật Giăng Van – giăng:

Hình thức: một giọng nói hết sức nhẹ nhàng và điềm tĩnh: ”cứ yên tâm. Không phải nó đến bắt chị đâu”.

⇒ Có thể nói, Giăng Van-giăng là người biết đồng cảm và sẻ chia. Sự xuất hiện của con người này thật sự trở thành niềm an ủi, hạnh phúc cho Phăng-tin. Điều này chứng tỏ Giăng Van-giăng là một người có bản lĩnh thép, không sợ cường quyền, ở trong hoàn cảnh này, bản lĩnh thép của Giăng Van-giăng lại tỏa sáng.

Thái độ:

– Đối với Gia-ve : Nếu như Gia-ve hùng hổ, hách dịch : « Nói to ! Nói to lên !…ai nói với ta thì phải nói to » thì Giăng-van-giăng lại hết sức nhã nhặn : « Tôi biết là anh muốn gì rồi ! »  Đây là một thái độ  hết sức khiêm nhường, tự kiềm chế biết mình biết người ⇒ Không hề muốn xảy ra xung đột, muốn giữ hòa khí`.

– Ngay cả khi Gia-ve nóng giận, cơn giận sôi sùng sục, bừng bừng khí thế gây chiến thì Giăng-van-giăng vẫn giữ phép lịch sự, từ tốn. Giăng-van-giăng có thái độ như thế để xin Gia-ve gia hạn thêm ba ngày để tìm con cho Phăng tin.

– Đối với Phăng – tin: Yêu thương, trân trọng. Ông cầu xin Gia-ve gia hạn để tìm con cho Phăng-tin. Ông muốn giữ lời hứa với chị, vì không muốn chị đau khổ thêm nữa. Chứ thực sự, ông có một sức khỏe siêu việt, có thể trốn thoát khỏi tay Gia-ve bất cứ lúc nào. Tất cả những hành động đó đều xuất phát từ lòng thương, sự chở che, bảo vệ con người.

– Khi Phăng – tin qua đời: Ngồi yên lặng, nâng đầu đặt ngay ngắn, thắt lại dây rút áo, vén gọn tóc, vuốt mắt cho chị. Động thái trang nghiêm, từ tốn, đầy tình thương ⇒ Hình ảnh gợi xúc động trong lòng người đọc.

– Sau khi Phăng-tin chết, Giăng Van-giăng không nín nhịn nữa ông đã phản ứng : “Để tay lên bàn tay Gia-ve đang túm lấy ông, cậy bàn tay hắn ra như cậy bàn tay trẻ con và bảo hắn: Anh đã giết chết người đàn bà này rồi đó”. Giăng Van – giăng dần khôi phục lại uy quyền. Lời nói của Giăng Van-giăng tuy từ tốn nhưng có một sức mạnh lớn lao như lời kết án của quan tòa. Địa vị người thực thi công lí đã thay đổi.

⇒ Giăng Van-giăng dựa trên công lí của lương tri. Chính lương tri đạo đức con người đã mang lại cho Giăng Van-giăng một sức mạnh vô song.

5. Nhân vật Phăng-tin:

– Với Giăng Van-giăng: Biết ơn, tin tưởng.

– Với Gia-ve: Sợ hãi, ghê tởm. “Chị không thể chịu đựng được bộ mặt gớm ghiếc ấy, chị thấy như chết lịm đi, lấy tay che mặt và kêu lên hãi hùng”, “Chị rùng mình”…

III. Tổng kết.

1. Giá trị nội dung:

– Thông qua hình ảnh Giăng Van-giăng, tác giả thể hiện, quan điểm, tư tưởng, niềm tin vào con đường cải tạo xã hội. Cho dù trong hoàn cảnh nào, con người chân chính vẫn có thể bằng ánh sáng của tình thương đẩy lùi bóng tối của cường quyền và nhen nhóm niềm tin vào tương lai. Luôn yêu thương, trân trọng con người. Luôn có niềm tin vào con người, vào lòng tốt và tình yêu thương đồng loại của con người.

– Đoạn trích đã khắc họa được sự đối lập giữa ác quỉ và thánh nhân, giữa cường quyền bạo lực và tấm lòng yêu thương mênh mông giữa những người cùng khổ. Kết cục là sự run sợ của cường quyền. Ánh sáng của tình thương có sức mạnh đẩy lùi bóng tối, dẫn dắt người cùng khổ đến với cái mà họ khao khát.

2. Giá trị nghệ thuật:

– Khắc họa tính cách nhân vật và đối lập nhân vật. Giàu xung đột kịch tính.
– Bài học: “trên đời chỉ có một điều thôi, đó là thương yêu nhau”.
– Sử dụng các thủ pháp nghệ thuật: so sánh, ẩn dụ, phóng đại.
– Sử dụng yếu tố hư cấu.


GIỚI THIỆU TIỂU THUYẾT “NHỮNG NGƯỜI KHỐN KHỔ”

Victor Hugo (phát âm: Vích-to Huy-gô, hay cách khác là Vích-to Hu-go), sinh ngày 26 tháng 2, 1802 tại Besançon – 22 tháng 5, 1885 tại Paris là một nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch thuộc chủ nghĩa lãng mạn nổi tiếng của Pháp. Ông cũng đồng thời là một nhà chính trị, một trí thức dấn thân tiêu biểu của thế kỷ XIX.

Victor Hugo chiếm một vị trí trang trọng trong lịch sử văn học Pháp. Các tác phẩm của ông đa dạng về thể loại và trải rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Với tư cách là nhà thơ trữ tình, Hugo đã xuất bản tập Odes et Ballades (1826), Les feuilles d’automne (1931) hay Les Contemplations (1856). Nhưng ông cũng thể hiện vai trò của một nhà thơ dấn thân chống Napoléon III bằng tập thơ Les Châtiments (1853) và vai trò một nhà sử thi với tập La Légende des siècles (1859 và 1877). Thành công vang dội của hai tác phẩm Nhà thờ Đức Bà Paris và Những người khốn khổ đã đưa Victor Hugo trở thành tiểu thuyết gia của công chúng. Về kịch, ông đã trình bày thuyết kịch lãng mạn trong bài tựa của vở kịch Cromwell (1827) và minh họa rõ nét thể loại này ở hai vở kịch nổi tiếng Hernani (1830) và Ruy Blas (1838).

Victor Hugo đã cống hiến lớn lao cho sự đổi mới thơ ca và sân khấu. Ông được người đương thời ngưỡng mộ nhưng cũng gây ra tranh cãi ở một số tác gia hiện đại. Cuộc lưu đày 20 năm trong đế chế thứ hai của ông đặt ra sự suy ngẫm cho nhiều thế hệ về vai trò của một nhà văn trong đời sống chính trị xã hội.

Những lựa chọn mang tính đạo đức và chính trị của Victor Hugo, cùng với những kiệt tác văn học đã đưa ông trở thành gương mặt nổi bật của thời đại đó. Khi qua đời, Victor Hugo được nhà nước cử lễ quốc tang và thi hài ông được đưa vào điện Panthéon.

Victor Marie Hugo là con trai út của vị tướng triều đình Joseph Léopold Sigisbert Hugo (1773-1828) với bà Sophie Trébuchet (1772-1821). Hai người anh lớn của ông là Abel Joseph Hugo (1798-1855) và Eugène Hugo (1800-1837). Năm 1811, Victor cùng với anh trai Eugène được gửi trọ học tại trường Collège des Nobles, Madrid. Khoảng năm 1813, ông về Paris sống với mẹ, lúc này đã chia tay cha ông và đi lại với tướng Victor Fanneau de la Horie. Tháng 9 năm 1815, ông vào trọ học tại trường Cordier. Theo Adèle Hugo, đây là khoảng thời gian mà Victor Hugo bắt đầu làm thơ. Ông tự mày mò học vần và luật. Được mẹ và anh trai ủng hộ, Victor đã tỏ rõ tham vọng lớn lao của mình khi ông viết trong nhật kí lúc mới 14 tuổi: “Tôi muốn trở thành Chateaubriand hoặc không gì cả!”.

Tập thơ Odes ra mắt năm 1821 khi ông 19 tuổi, với 1500 ấn bản được tiêu thụ trong vòng 4 tháng. Vua Louis XVIII sau khi chiêm ngưỡng tác phẩm này, đã dành tặng ông một học bổng trị giá một nghìn franc một năm.

Sau khi mẹ ông mất (1821), Victor Hugo làm đám cưới với người bạn gái thời thơ ấu Adèle Foucher. Họ sinh được năm người con:
Léopold (1823-1823)
Léopoldine (1824-1843)
Charles(1826-1871)
François-Victor (1828-1873)
Adèle (1830-1915)
Victor Hugo có rất nhiều tình nhân, nổi bật trong số đó là mối quan hệ nồng cháy với Juliette Drouet (Julienne Gauvain). Họ gặp nhau lần đầu tiên năm 1833, năm Victor Hugo ra mắt vở kịch Lucrèce Borgia. Juliette vào vai công chúa Négroni, một vai diễn bé nhỏ nhưng để lại ấn tượng mạnh cho khán giả và nhất là cho Victor Hugo. Họ bắt đầu đi lại với nhau. Juliette trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho Victor. Juliette luôn dành cho ông một tình yêu mãnh liệt, một sự chiếm hữu lớn, một tính cách thất thường.

7 tháng 2 năm 1841, Victor Hugo được bầu vào Viện Hàn Lâm Pháp, sau bốn lần thất bại.

Mùa hè năm 1843, ông cùng Juliette đi nghỉ. Tại một quán cà phê ở Rochefort, ông tình cờ nhận được tin dữ thông qua một bài báo: Léopoldine-con gái ông và chồng bị chết đuối trên sông Seine ở vùng Villequier. Sự kiện này đã chấn động dữ dội Victor Hugo.

Năm 1845, Hugo bắt đầu đi vào chính trị. Năm 1848, ông được bầu làm nghị sĩ hội đồng lập hiến. Ông lên án cuộc đảo chính ngày 2 tháng 12 năm 1851 của hoàng tử Louis-Napoléon (cháu của Napoléon Bonaparte). Ngay lập tức, Victor Hugo bị buộc đi đày ở Bỉ, sau đó là đảo Jersey và Guernesey.

Trong khoảng thời gian sống lưu vong, Hugo vẫn không ngừng sáng tác. Ông cho ra đời các tập thơ: les Châtiments (1853), les Contemplations (1856) và hoàn thành tiểu thuyết les Misérables (1862) – tác phẩm được công chúng đón nhận nồng nhiệt.

Sau khi nền cộng hòa Pháp được thiết lập năm 1870, Victor Hugo trở về Paris.

Ngày 8 tháng 2 năm 1871, ông được bầu vào quốc hội Pháp.

Năm 1876, ông được bầu làm thượng nghị sĩ. Những tham luận đầu tiên của ông hướng đến sự ân xá cho các chiến sĩ công xã Paris.

Ngày 22 tháng 5 năm 1885, Victor Hugo qua đời vì sung huyết phổi. Hai triệu người dân đã đưa tiễn ông đến điện Panthéon.

Tác phẩm Những người khốn khổ
Les Misérables (book 1)
Bìa sách “Những người khốn khổ” bằng tiếng Pháp

Lấy bối cảnh xã hội Pháp thế kỷ 19, Les Misérables là câu chuyện đầy mê hoặc kể về những giấc mơ tan vỡ và tình yêu không thành, cùng với đó là những đam mê, hy sinh và chuộc tội – cuốn truyện là một bằng chứng trường tồn theo năm tháng kể lại hành trình tồn tại của tinh thần con người. Một cựu tù nhân tên Jean Valjean, bị săn lùng hàng thập kỷ bởi tay cảnh sát tàn nhẫn Javert sau khi tái phạm tội. Khi Valjean đồng ý chăm sóc cô con gái nhỏ của một công nhân nhà máy tên là Cosette, cuộc đời họ thay đổi mãi mãi.

Những người khốn khổ chia làm 5 phần:

Phangtin
Codet
Mariuyt
Tình ca phố Poluyme và anh hùng ca phố Xanh Đơni
Giăng Van-giăng
Đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền nằm ở cuối phần thứ nhất. Vì muốn cứu một nạn nhân bị Giave bắt oan, Giăng Van-giăng buộc phải tự thú nhận mình là ai, và Madolen chỉ là một cái tên giả. Bởi vậy, ông phải đến từ giã Phangtin trong khi nàng chưa biết gì về sự thật tàn nhẫn…

Năm 2012, Những người khốn khổ đã được trình chiếu tại tất cả các rạp trên toàn thế giới, được đạo diễn bởi Tom Hooper. Nội dung phim được xây dựng dựa trên cả tiểu thuyết lẫn vở nhạc kịch cùng tên của nhà văn Victo Hugo, kể về nhiều nhân vật với những mảnh đời khác nhau, được kết nối bởi Jean Valjean, một cựu tù nhân khổ sai, một mặt đang cố chuộc lại lỗi lầm trong quá khứ để khẳng định bản chất lương thiện, một mặt, luôn phải trốn chạy sự săn đuổi của tay thanh tra tàn nhẫn Javert… Trong phim này, đây là câu chuyện cảm động của những giấc mơ tan vỡ, tình yêu không được đáp trả, niềm đam mê, sự hy sinh và chuộc tội.

Đánh giá bài viết:

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị tiết lộ.