Đóng vai Thúy Kiều kể lại những tháng ngày bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích

dong-vai-thuy-kieu-ke-lai-nhung-thang-ngay-bi-giam-long-o-lau-ngung-bich-68

Đóng vai Thúy Kiều kể lại những tháng ngày bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích

Mã giám Sinh nhân cách kém cỏi, lòng tham không đáy, ta có ngờ đâu hắn cũng là phường “buôn thịt bán người”, lỡ tin tưởng để đến nổi sa hàm sẩy hang. Mê mụi trước ma lực của đồng tiền, Mã Giám Sinh sau khi hứa hẹn đã nuốt lời lừa bán ta cho Tú Bà, một bà chủ lầu xanh nức tiếng trong vùng. Biết được sự tình, ta tủi nhục quá độ, toan rút dao tự vẫn, không thiết sống nữa. Tú Bà đứng cạnh, hoảng hồn ngăn cản vì sợ mất món tiền lớn vừa mới giao cho họ Mã.

Tú Bà quả thực là tay cáo già lọc lõi, già đời trong nghề. Sợ ta quẫn trí làm liều, mụ lựa lời ngon ngọt ra dụ dỗ, hứa hẹn nhiều điều. Mụ khuyên ta đến lầu Ngưng Bích nghỉ dưỡng một thời gian cho khuây khỏa rồi hứa sẽ tìm một tấm chồng xứng đáng cho ta. Mụ khóc lóc than trách rằng mình cũng bị Mã Giám Sinh lừa gạt chứ sự tình chẳng muốn thế. Tin lời, ta tạm đến Ngưng Bích. Ngay lập tức, mụ biệt giam ta ở đây, không cho ai tiếp cận đồng thời cho người canh phòng hết sức cẩn trọng. Biết mình chẳng thoát được, ta đành ngồi đợi cho ngày tháng dần trôi mà trong lòng muôn vàn ngán ngẩm.

Mỗi ngày, mình ta một bóng. Sớm nhìn trong cửa biển bốn bề mênh mong, tối quạnh hiu, bẽ bàng đối diện ngọn đèn. Nỗi lòng thương cha nhớ mẹ đâu đấu chẳng biết tỏ cùng ai. Làm thân con gái, chưa từng hạnh phúc thì đã sa vào cạm bẫy cuộc đời.

Đêm tối bao trùm lầu vắng. Ánh trăng mịt mờ cuối dãy núi xa. Không gian vốn đã hoang vắng giờ càng thêm tàn tạ. Chợt nghĩ về chàng Kim mà trong lòng quặn thắt, nước mắt dàn giụa trên mi. Chắc giờ này, chàng cũng đang mong mỏi ta, ngày trong mai chờ vò võ. Chén rượu năm xưa còn nồng trên môi mà giờ người đã xa quá. Lời nguyện ước chưa thành mà cuộc tình đã tan tành, chia lìa đoi ngả. Dẫu Thúy Vân đã nhận lời thay ta kết duyên cùng chàng, vẹn lời nguyền ước nhưng trái tim làm sao quên được những mạn nồng ái ân.

Tiếc thay, chim không về tổ, cá đã lạc bầy, giờ nơi đất khách quê người, muôn trùng cách biệt, biết bao giờ được mới được đoàn viên. Thân ta giờ đây đã bị làm nhục, thanh danh vấy bẩn, tấm thân này gột rửa đến bao giờ cho vơi. Hỡi ôi, dẫu có muốn thì cũng chẳng còn mặt mũi nào mà trở về gặp chàng, gợi lại tình xưa. Nghĩ mà càng thêm đau.

Ngày ta cất bước đi cùng họ Mã, chắc cha và em cũng đã được quan phủ cho xuất lao. Sự đời tai bay vạ gió, ông trời oán giận điều chi mà nỡ trừng phạt để đến nỗi vướng vòng lao lý, kẻ nam người bắc muôn vàn khổ sầu. Xót xa khi nghĩ vè mẹ ngày đêm tựa cửa ngóng trông con về. Cánh nhạn đi về bao tối mà tin con vẫn bặt vô âm tín. Giờ đây, biết còn ai quạt nồng ấp lạnh, phụng dưỡng song thân cho chu toàn. Chữ hiếu chưa tròn, phân mình bơ vơ nơi góc bể chân trời, càng nghĩ càng thêm xót xa.

Quê hương xa cách, chốn hoang vu không người, cạm bẫy của đời giằng đặt khắp nơi, chẳng biết ngày mai sẽ thế nào. Càng ngóng trông càng thấy mờ mịt. Ta thực muốn trở về nhà, ngóng trong cửa biển, cánh buồm xa chở nặng ưu tư. Cánh buồm kia có mang tin về với quê nhà, nói với chàng Kim ta hãy còn yêu, nói với cha mẹ ta hãy còn sống. Cánh buồm dần khuất không biển sóng mịt mù.

Rồi cuộc đời ta sẽ về đâu? Ôi phận gái khác nào như đóa hoa kia, lênh đênh giữa dòng đời vô định không bến bờ tựa nương. Nội cỏ đìu hiu héo rũ trải một màu buồn đến thê lương. Cỏ xanh ngày ấy, bây giờ còn xanh? Tuổi thanh xuân như làn sương sợi khói bỗng chốc tan tành. Chợt thấy đường đi lối về  không còn hi vọng nữa. Than ôi, đớn đau thay! Tủi nhục thay! Có lẽ, cuộc đời ta sẽ chết mòn tại đây mà không ai hay biết.


Bài tham khảo:

Trước lầu Ngưng Bích, từng ngày, ta cứ ngồi thơ thẩn, mắt nhìn về phía vô định, tựa nhưng chẳng có gì có thể ảnh hưởng đến ta. Khuôn mặt kỳ sắc đượm vẻ buồn khiến cho khu lầu bỏ hoang này càng vắng lặng hơn. Gió thổi làm vài cọng tóc ta khẽ bay, nhưng chẳng làm ta quan tâm như người có thể xác nơi này mà linh hồn đã bay đi đi tìm lối thoát cho sự giam cầm của Tú Bà ở Lầu Ngưng Bích – cái tên thật đẹp nhưng lại khác xa với vẻ ngoài của nó.

Đây là khu lầu bị bỏ hoang nằm trơ trội giữa bốn bề mênh mông là nước. Nó cao ngất, đứng trên lầu như sắp với được Mặt Trăng.Từ trên lầu nhìn ra chỉ thấy những dãy núi xa xăm ,cồn cát bụi bay mịt mù. Thúy Kiều ta đã quen với việc suốt ngày ở trong cái lầu buồn tẻ, sớm quen với việc trò chuyện cùng cây cỏ hoa lá nơi đây. Hôm nay lại là một ngày mới trôi qua trong lầu Ngưng Bích, mọi thứ dường như chẳng thay đổi kể từ ngày bị Tú Bà giam lỏng nơi đây, ta vẫn phải ở nơi này, gió lạnh lẽo vẫn thổi vào.

Nhớ lúc bị Mã Giám Sinh mua, tủi nhục biết bao, tưởng chừng phải làm vợ người ta, ai ngờ đâu, vừa một khắc, đã phải trở thành con cờ của Tú Bà, giúp mụ kiếm tiền, phải vào chốn thanh lâu mà ta kinh tởm nhất. Ngay cả ta cũng kinh tởm bản thân mình.Nhưng biết làm sao bây giờ,để đổi lấy sự bình yên cho phụ mẫu và em gái, ta đành lòng đem bán tấm thân mình cho người khác. Buồn tủi, cô đơn biết bao nhiêu, một mình trong đêm, hình ảnh người đàn ông mà tôi hằng đem thương nhớ lại hiện ra trong tâm trí ta.

Nhớ lại đêm cùng đính ước với Kim Trọng, khoảng thời gian ta cùng chàng bên nhau, hạnh phúc biết bao nhiêu. Giờ ngồi nơi này, những kỉ niệm mà ta từng nhớ như in lại như vết dao đâm vào lòng ta, ta đã phụ lời thề với chàng, không còn trong sạch, làm sao dám quay về mà gặp chàng đây. Buồn thương, ta lại nhớ về cha mẹ. Ta nghĩ bây giờ chắc họ lại ngóng chờ con gái nâng niu của họ quay về, nhưng họ nào biết ta đã bị vấy bẩn,đã không có tư cách đoàn tụ sum họp cùng họ.

Ta lại xót xa lúc cha mẹ tuổi già sức yếu lẽ ra mình phải ở bên để đỡ đần, phụng dưỡng thì nay lại phải xa xôi cách biệt. Ta tự hỏi, không biết giờ đây ai đang chăm sóc cha mẹ, ai là người trời nóng bức thì quạt cho cha mẹ ngủ, trời lạnh giá thì vào nằm trước trong giường cho ấm chiếu chăn để cha mẹ được yên giấc ? Kể từ ngày xa cha mẹ đến nay đã mấy mùa mưa nắng. Quê nhà chắc đã nhiều sự đổi thay. Cha mẹ mỗi ngày thêm già yếu, mà con thì lưu lạc xứ người…

Nghĩ đến đây, lòng ta vô cùng đau đớn, nghĩ mình đã phụ công sinh thành nuôi dưỡng của họ Gió lại thổi vào khiến tóc bay phất phới, ta trông về phía cửa biển. Chiều buông, cả một vùng nước non bát ngát, hoang vắng khiến nỗi cô đơn của ta càng thêm nhiều. Xa xa, thuyền ai thấp thoáng lúc ẩn, lúc hiện. Hãy nhìn lên ngọn thác kia đi, ngọn nước vừa đổ xuống xô đẩy cánh hoa lạc loài tan tác trôi xuôi như cuộc đời ta bị số phận vùi dập đưa đẩy. Ta trông sang nội cỏ, chân mây, mặt đất… Mọi thứ, tiếp nối nhau thành một màu xanh rợn ngợp. Trông xuống mặt duềnh. Ngọn gió thổi mạnh cuốn theo sóng biển ầm ầm, thét gào xung quanh như một dự báo hãi hùng về số phận, cuộc đời mình.


Bài tham khảo:

Cảm nhận đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”

Đoạn thơ mở ra hoàn cảnh cô đơn, cay đắng, xót xa của Kiều:

Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

Sáu câu thơ đầu gợi tả cảnh thiên nhiên nơi lầu Ngưng Bích với không gian, thời gian. Không gian nghệ thuật được miêu tả dưới con mắt nhìn của Thúy Kiều. Lầu Ngưng Bích là nơi Kiều bị giam lỏng. Hai chữ “khóa xuân” đã nói lên điều đó. Cảnh đẹp nhưng mênh mông, hoang vắng và lạnh lẽo. Ngước nhìn xa xa, chỉ thấy dãy núi mờ nhạt. Nhìn lên trời cao chỉ có “tấm trăng gần”. Thời gian chiều tối càng gợi thêm nỗi buồn xa xăm. Xa hơn nữa, nhìn ra “bốn bề bát ngát xa trông” là những cát vàng cồn nọ nối tiếp nhau cùng với bụi hồng trên dặm dài thăm thẳm.

Nghệ thuật liệt kê, đối lập tương phản “non xa”/”trăng gần”, đảo ngữ, từ láy “bát ngát”  gợi không gian rợn ngợp, vắng lặng không một bóng người. Đối diện với cảnh ấy, Kiều cảm thấy trống trải cô đơn. Nàng đau đớn, tủi nhục cho thân phận của mình:

 Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng. 

Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn khép kín, quanh đi quẩn lại hết “mây sớm”  lại “đèn khuya”. Thời gian cứ thế trôi đi, rồi lặp lại, Kiều thấy tuyệt vọng với tâm trạng cô đơn, buồn tủi, hổ thẹn đến “bẽ bàng”. Bốn chữ “như chia tấm lòng” diễn tả nỗi niềm chua xót, nỗi lòng tan nát của Kiều. Bút pháp chấm phá đặc sắc, khung cảnh làm nền cho Kiều thổ lộ tâm tình. Thiên nhiên rộng lớn mà con người nhỏ bé, đơn côi.

Nhìn cảnh nhớ người. Trong lòng thúy Kiều dội lên nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ quặn thắt tâm can:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Chân trời goocs bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

Chính trong hoàn cảnh cô đơn nơi đất khách quê người, tâm trạng của Kiều chuyển từ buồn sang nhớ. Kiều nhớ người yêu, nhớ cha mẹ. Nỗi nhớ ấy được Nguyễn Du miêu tả xúc động bằng những lời độc thoại nội tâm của chính nhân vật.

Trước hết, Kiều nhớ đến Kim Trọng bởi trong cơn gia biến, Kiều đã phải hi sinh mối tình đầu đẹp đẽ để cứu gia đình, Kiều đã phần nào “đền ơn sinh thành” cho cha mẹ. Vì thế trong lòng Kiều, Kim Trọng là người mất mát nhiều nhất, nỗi đau ấy cứ vò xé tâm can Kiều khiến Kiều luôn nghĩ đến Kim Trọng.

Nàng nhớ đến cảnh mình cùng Kim Trọng uống rượu thề nguyền dưới ánh trăng. Chữ “tưởng” ở đây có thể xem là một nhãn tự. Nguyễn Du không dùng chữ “nhớ” mà dùng chữ “tưởng”.“Tưởng”  vừa là nhớ, vừa là hình dung, tưởng tượng ra người mình yêu.

Thúy Kiều như tưởng tượng thấy, ở nơi xa kia, người yêu cũng đang hướng về mình, đang ngày đêm đau đáu chờ tin nàng: “Tin sương luống những rày trông mai chờ”. Rồi bất chợt, nàng liên tưởng đến thân phận “bên trời góc biển bơ vơ” của mình. Kiều băn khoăn tự hỏi: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”:

Câu thơ muốn nói tới tấm lòng son của Kiều, tấm lòng nhớ thương Kim Trọng sẽ không bao giờ phai mờ, nguôi quên dù cho có gặp nhiều trắc trở trong đường đời. Câu thơ còn gợi ra một cách hiểu nữa: Tấm lòng son trong trắng của Kiều bị những kẻ như Tú Bà, Mã Giám Sinh làm cho dập vùi, hoen ố,biết bao giờ mới gột rửa được? Trong bi kịch tình yêu, Thúy Kiều có nỗi đau về nhân phẩm.

Nhớ người yêu, Kiều cũng xót xa nghĩ đến cha mẹ:

Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

Chữ “xót” diễn tả tấm lòng Kiều dành cho đấng sinh thành. Nàng lo lắng xót xa nghĩ đến hình bóng tội nghiệp của cha mẹ, khi sáng sớm, lúc chiều hôm tựa cửa ngóng tin con, hay mong chờ con đến đỡ đần. Nàng lo lắng không biết giờ đây ai là người chăm sóc cha mẹ khi thời tiết đổi thay rồi xót xa khi cha mẹ ngày một thêm già yêu mà mình không được ở bên cạnh để phụng dưỡng.

Tác giả đã sử dụng các thành ngữ “rày trông mai chờ”, “quạt nồng ấp lạnh”, “cách mấy nắng mưa” và các điển tích, điển cố “sân Lai,gốc Tử”để nói lên tâm trạng nhớ thương, lo lắng và tấm lòng hiếu thảo của Kiều dành cho cha mẹ.

Ở đây, Nguyễn Du đã miêu tả khách quan tâm trạng của Thúy Kiều vượt qua những định kiến của tư tưởng phong kiến: đặt chữ tình trước chữ hiếu. Trong cảnh ngộ khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng vẫn quên mình để nghĩ đến người yêu, nghĩ đến cha mẹ.Qua đó chứng tỏ Kiều là con người thủy chung hiếu nghĩa, đáng trân trọng.

Lối về vô vọng. Dẫu có ước muốn đến bao nhiêu đi chăng nữa, Kiều vẫn không thể thoát khỏi thực tại trái ngang đang bó buộc mình. Giờ đây, nàng bế tắt trong lầu cao cách biệt với thế giới, càng lo nghĩ, càng thêm đớn đau và tuyệt vọng:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Điệp ngữ “buồn trông” được lặp lại 4 lần tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc diễn tả nỗi buồn đang dâng lên lớp lớp trong lòng Kiều. Cảnh vật thiên nhiên qua con mắt của Kiều gợi nỗi buồn da diết.

Cánh buồm thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện nơi cửa bể chiều hôm gợi hành trình lưu lạc mờ mịt không biết đâu là bến bờ. Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa gợi thân phận nhỏ bé, mỏng manh, lênh đênh trôi dạt trên dòng đời vô định không biết đi đâu về đâu. Nội cỏ rầu rầu trải rộng nơi chân mây mặt đất gợi cuộc sống úa tàn, bi thương, vô vọng kéo dài không biết đến bao giờ.

Hình ảnh “gió cuốn mặt duềnh” và âm thanh ầm ầm của tiếng sóng “kêu quanh ghế ngồi”gợi tâm trạng lo sợ hãi hùng như báo trước,chỉ ngay sau lúc này, dông bão của số phận sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều.

Bằng nghệ thuật ẩn dụ, hệ thống câu hỏi tu từ, các từ láy “thấp thoáng”, “xa xa”, “man mác”,“rầu rầu”,”xanh xanh”,”ầm ầm”… góp phần làm nổi bật nỗi buồn nhiều bề trong tâm trạng Kiều. Tác giả lấy ngoại cảnh để bộc lộ tâm cảnh. Cảnh được miêu tả từ xa đến gần; màu sắc từ nhạt đến đậm; âm thanh từ tĩnh đến động; nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến cơn bão táp của nội tâm, cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều. Toàn là hình ảnh về sự vô định, mong manh, sự dạt trôi, bế tắc, sự chao đảo nghiêng đổ dữ dội. Lúc này, Kiều trở nên tuyệt vọng,yếu đuối nhất, vì thế nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời ô nhục.

Bài viết cùng chủ đề:

4 Trackbacks / Pingbacks

  1. Phân tích đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" (trích Truyện Kiều - Nguyễn Du) - Thế Kỉ
  2. Phân tích bút pháp tả cảnh ngụ tình trong 8 câu cuối “Kiều ở lầu Ngưng Bích" - Theki.vn
  3. Đọc - hiểu văn bản: "Chị em Thúy Kiều" trích "Truyện Kiều" của Nguyễn Du - Luyện thi tuyển sinh - Theki.vn
  4. Phân tích đoạn trích "Chị em Thúy Kiều" - Thế Kỉ

Đánh giá bài viết:

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị tiết lộ.