Hướng dẫn đọc thêm văn bản: “Mùa lá rụng trong vườn” (Ma Văn Kháng)

doc-hieu-van-ban-mua-la-rung-trong-vuon-cua-ma-van-khang-huong-dan-doc-them.jpg

Hướng dẫn đọc thêm văn bản: “Mùa lá rụng trong vườn” (Ma Văn Kháng)

I. Tìm hiểu chung.

1. Tác giả:

– Ma Văn Kháng, tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn, sinh năm (1936), quê gốc ở phường Kim Liên  – quận Đống Đa – Hà Nội.

– Là người có nhiều đóng góp tích cực cho sự vận động và phát triển nhiều mặt của văn học nghệ thuật.

– Ông được tặng giải thưởng văn học ASEAN năm 1998 và giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001.

* Các tác phẩm chính: (sgk)

2. Tác phẩm:

Bố cục: 3 phần

– Phần 1 (từ đầu đến bệnh đấy chị ơi): chị Hoài và sự trở về trong ngày ba mươi Tết
– Phần 2 (tiếp đến phải đi): ông Bằng khi gặp lại người con dâu
– Phần 3 (còn lại): mọi người trong gia đình ông Bằng với lễ cúng tất niên.

* Tóm tắt:

Chị Hoài từng là dâu trưởng, vợ anh cả Tường liệt sĩ, trong nhà ông giáo Bằng. Sau đó chị đã có gia đình mới và sinh sống ở quê nhưng cả gia đình ông Bằng vẫn rất yêu quý chị. Nhận được thư ông Bằng kể về truyện Cừ bỏ trốn ra nước ngoài, chị thu xếp lên với nhà chồng cũ vào chiều 30 Tết. Thấy chị, những người em chồng đều mừng rỡ, tay bắt mặt mừng. Chị ân cần hỏi han từng người và đem quà quê biếu gia đình. Ông Bằng đang chuẩn bị cúng bữa cơm tất niên. Cả ông Bằng và chị Hoài đều rưng rưng xúc động, không ngăn được dòng nước mắt. Sau những lời hỏi thăm ân cần, ông Bằng chắp tay thành kính cúng tổ tiên. Dòng tâm tư và lời khấn vái của ông bày tỏ tấm lòng tri ân với tiên tổ, kết nối quá khứ với hiện tại. Ông Bằng vừa cúng xong, Hoài liền thế chân ông cụ bái lạy tiên tổ. Sau lễ cúng, mọi người hân hoan ngồi vào mâm cơm chiều 30 Tết, một mâm cơm sung túc, đủ đầy với đủ các món ăn truyền thống và thêm cả những món cầu kì do cô Lí chuẩn bị.

II. Đọc – hiểu văn bản

1. Nhân vật chị Hoài:

– Người phụ nữ nông dân giản dị, đôn hậu: vẻ ngoài mộc mạc (trạc năm mươi, cặp mắt đằm thắm, cái miệng tươi, gót chân nứt nẻ), thái độ xởi lởi vui vẻ, lời nói tình cảm, ấm áp (hỏi han hết mọi người, chân thật kể chuyện mình),…

– Người phụ nữ đẹp người đẹp nết, thùy mị nết na, có quá khứ đáng trân trọng và khâm phục, để lại tình cảm và sự tin yêu sâu sắc trong các nhân vật. Nét đằm thắm toát lên từ tâm hồn chị, từ tình cảm đôn hậu, từ cách ứng xử, quan hệ với mọi người. Từng là dâu trưởng trong gia đình ông Bằng, bây giờ chị đã có một gia đình riêng với những quan hệ riêng, lo toan riêng, mọi người vẫn nhớ, vẫn quý, vẫn yêu chị.

– Người phụ nữ giàu tình nghĩa, thủy chung, luôn quan tâm sâu sắc đến từng người: dù đã có gia đình riêng, đã sống một số phận khác nhưng vẫn luôn quan tâm đến mọi người.( tình nghĩa ) : đã lập gia đình mới nhưng vẫn luôn quan tâm đến gia đình chồng cũ, vẫn chia sẻ buồn vui và ứng xử như dâu con trong nhà (thăm hỏi các em, thư từ với ông Bằng, thu xếp việc nhà về an ủi ông Bằng, mang một làn nặng quà cho mọi người…). Mọi người trong gia đình dù khác nhau tính cách nhưng đều yêu quý chị Hoài vì chị từng là dâu trưởng thùy mị nết na, đẹp người đẹp nết trong gia đình trong quá khứ và vì chị đã có gia đình mới nhưng vẫn hết lòng quan tâm và chia sẻ vui buồn với gia đình ông Bằng như con cái trong nhà.

– Người phụ nữ bản lĩnh, đảm đang, biết vượt lên số phận: xây dựng gia đình mới, chăm chỉ làm ăn, làm chủ nhiệm hợp tác xã đan dệt thảm ngô…

– Chị Hoài – hình tượng tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam truyền thống, chính là sợi dây kết nối, xóa đi những khoảng cách vô hình mà xã hội với nền kinh tế thị trường, với sự tính toán vụ lợi làm phá vỡ những giá trị tốt đẹp, làm nguội lạnh quan hệ tình cảm thiêng liêng trong gia đình.

→ Trong tiềm thức mọi người “vẫn sống động một chị Hoài đẹp người, đẹp nết”. Chị Hoài là mẫu người phụ nữ vẫn giữ được nét đẹp truyền thống quý giá thuỷ chung, tình nghĩa trước những cơn địa chấn xã hội.

2. Cảnh sum họp trước giờ cúng tất niên:

* Ông Bằng:

– Chuẩn bị tâm thế chỉn chu để cúng 30 tết: “cố đi cho ngay ngắn”, phong thái “trang trọng, chỉnh tề hơn”; gương mặt “ánh lên cái cảm xúc…hai bên cằm”.

– “Nghe thấy xôn xao tin chị Hoài lên”. Bất ngờ và xúc động khi gặp lại chị Hoài: “ông sững lại khi nhìn thấy Hoài, mặt thoáng một chút ngơ ngẩn. Rồi mắt ông chớp liên hồi, môi ông bật bật không thành tiếng, có cảm giác ông sắp khóc oà”

– “Giọng ông bỗng khê đặc, khàn rè: Hoài đấy ư, con?”.

– Vẫn yêu quý con dâu như ngày nào: ân cần hỏi han con dâu.

→ Nỗi vui mừng xúc động không giấu giếm của ông khi gặp lại người đã từng là con dâu trưởng mà ông rất mực yêu mến

* Chị Hoài:

– Xúc động sâu sắc khi gặp lại ông Bằng: “gần như không chủ động được mình, lao về phía ông Bằng, quên cả đôi dép, đôi chân to bản… kịp hãm lại khi còn cách ông già hai hàng gạch hoa”. Tiếng gọi “ông” của chị nghẹn ngào trong tiếng nấc.

– Mừng rỡ, bồi hồi kể cho ông nghe về gia đình hiện tại của mình.

⇒ Cảnh gặp gỡ vui mừng nhiễm một nỗi tiếc thương đau buồn, ê nhức cả tim gan. Sự xúc động sâu sắc của hai người cho thấy tình cảm gia đình sâu nặng giữa họ vẫn như xưa. Họ vẫn luôn quan tâm, chia sẻ những vui buồn và lo lắng cho gia đình này như trước. Đó là tấm lòng của những người có ý nghĩa như trụ cột nâng đỡ ngôi nhà. Tình cảm tốt đẹp, bền chặt và lối ứng xử đẹp chính là giá trị thiêng liêng và cao quý trong gia đình.

3. Khung cảnh Tết:

– Khói hương, mâm cỗ thịnh soạn “vào cái thời buổi đất nước còn nhiều khó khăn sau hơn ba mươi năm chiến tranh…”, mọi người trong gia đình tề tựu, quây quần… Tất cả chuẩn bị chu đáo cho khoảnh khắc tri ân trước tổ tiên trong chiều 30 Tết.

– Ông Bằng: “soát lại hàng khuy áo, chỉnh lại cà vạt, ho khan một tiếng, dịch chân lại trước mặt bàn thờ.” “Thoáng cái ông Bằng như quên hết xung quanh và bản thể. Dâng lên trong ông cái cảm giác thiêng liêng rất đỗi quen thân và tâm trí ông bỗng mờ nhoà…Thưa thầy mẹ đã cách trở ngàn trùng mà vẫn hàng sống cùng con cháu. Con vẫn vẳng nghe đâu đây lời giáo huấn…”

– Lời khấn, dòng tâm tư của ông Bằng và khung cảnh Tết gợi nhiều cảm xúc và suy nghĩ về truyền thống văn hóa đẹp đẽ của dan tộc ta:

+ Tưởng nhớ và tri ân một cách thành kính, thiêng liêng đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người thân đã mất trong dịp đầu xuân năm mới. Phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương, dân tộc.

+ Quá khứ và hiện tại liền mạch, tổ tiên và con cháu không tách rời, đó là dòng chảy tốt đẹp của truyền thống gia đình.

+ Đó là giây phút mỗi cá nhân lắng lại và nhìn lại mình trong một năm đã qua để rồi cầu nguyện những điều tốt đẹp cho năm mới.

+ Khung cảnh mâm cơm ngày Tết sung túc, đủ đầy, chuẩn bị kĩ lưỡng cho thấy người Việt rất đỗi coi trọng sự sum họp đoàn viên, coi trọng nếp nhà, coi trọng gia đình.

→ Những hình ảnh đó gieo vào lòng người đọc niềm xúc động rưng rưng, để rồi “nhập vào dòng xúc động tri ân tiên tổ và những người đã khuất”. Bày tỏ lòng tri ân trước tổ tiên, trước những người đã mất trong lễ cúng tất niên – chiều 30 Tết → nét văn hoá truyền thống đáng trân trọng và tự hào của dân tộc ta. “Quá khứ không tách rời với hiện tại. Tổ tiên không tách rời với con cháu. Tất cả liên kết một mạch bền chặt thuỷ chung”. Dù cuộc sống có hiện đại muôn sự đổi thay cùng sự thay đổi của những cách nghĩ, cách sống, những quan niệm mới, nét đẹp truyền thống văn hoá ấy vẫn đang và rất cần được giữ gìn, trân trọng

III. Tổng kết:

1. Giá trị nội dung:

Thông qua câu chuyện xảy ra trong gia đình ông Bằng, một gia đình nề nếp, luôn giữ gia pháp nay trở nên chao đảo trong những cơn địa chấn từ bên ngoài, nhà văn bày tỏ niềm lo lắng sâu sắc cho giá trị truyền thống trước những đổi thay của thời cuộc.

2. Giá trị nghệ thuật:

– Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sinh động, hấp dẫn

– Nghệ thuật dẫn truyện tự nhiên

– Nghệ thuật khắc họa nhân vật tài tình

– Nghệ thuật dựng cảnh chân thực, tinh tế.




Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.