Hướng dẫn ôn tập và làm bài tập môn Ngữ văn 8 (Từ ngày 23/2 đến ngày 29/2/2020)

Hướng dẫn ôn tập và làm bài tập môn Ngữ văn 8 (Từ ngày 23/2 đến ngày 29/2/2020)

Củng cố kiến thức:

I. VĂN BẢN:

Văn bản: “Chiếu dời đô” (Thiên đô chiếu) – Lí Công Uẩn

Yêu cầu:

– Xem lại phần Chú thích (SGK/50).
– Học thuộc Ghi nhớ (SGK/51).

II. TIẾNG VIỆT:

Bài: “Câu phủ định”

Yêu cầu:

– Học thuộc Ghi nhớ (SGK/53).
– Làm bài tập: 1; 2; 3; 4; 5; 6 (SGK/53).

III. TẬP LÀM VĂN:

Đề bài: Thuyết minh về một danh lam, thắng cảnh hoặc một di tích lịch sử mà em yêu thích.

Yêu cầu: Học sinh làm trên giấy. Khi đi học lại nộp cho giáo viên.

Dàn bài hướng dẫn:

Mở bài:

Giới thiệu về danh lam, thắng cảnh, di tích cần thuyết minh.

(Lưu ý: các em nên chọn các danh lam, thắng cảnh, di tích gần gũi tại địa phương hoặc các danh lam, thắng cảnh, di tích nổi bậc để có nhiều dữ liệu thuyết minh).

Thân bài:

– Trình bày ấn tượng chung về danh lam thắng cảnh, di tích (so sánh với các danh lam thắng cảnh, di tích khác).
– Vị trí địa lí (ở đâu?, tiếp giáp?)
– Nguồn gốc/lịch sử hình thành:
+ Có từ bao giờ?
+ Lịch sử hình thành và phát triển?
– Đặc điểm cảnh quan:
+ Cảnh quan xung quanh (bên ngoài). → Nhận xét/đánh giá.
+ Đặc điểm chi tiết (bên trong hoặc các bộ phận,…) .→ Nhận xét/đánh giá.

Đánh giá: tầm vóc, quy mô, giá trị của danh lam thắng cảnh, di tích

– Vai trò, ý nghĩa và giá trị của danh lam thắng cảnh, di tích đối với đời sống con người.
– Trách nhiệm của bản thân đối với danh lam thắng cảnh, di tích ấy.
– Kiến nghị, đề xuất góp phần tôn giữ và phát triển danh lam thắng cảnh, di tích (nếu có)

Kết bài:

Khẳng định lại ý nghĩa và tầm quan trọng của danh lam, thắng cảnh, di tích ấy đối với cuộc sống và văn hóa dân tộc.


Chuẩn bị bài mới:

I. Văn bản:

Văn bản: Hịch tướng sĩ (Hịch tướng sĩ văn) – Trần Quốc Tuấn

Yêu cầu:

– Học sinh đọc kĩ văn bản và Chú thích, soạn bài theo câu hỏi trong SGK/51
– Chuẩn bị bài tập phần Luyện tập.

II. Tiếng Việt:

Bài: “Hành động nói”

– Xem phần I và II SGK/62-63 và trả lời các câu hỏi.
– Xem Ghi nhớ SGK/63.
– Chuẩn bị bài tập phần Luyện tập.


Hướng dẫn ôn tập và làm bài tập

I. Văn bản:

Văn bản: Hịch tướng sĩ (Hịch tướng sĩ văn) – Trần Quốc Tuấn

I. Tác giả:

Trần Quốc Tuấn (1231-1300) còn được gọi là Hưng Đạo Đại Vương. Ông là danh tướng kiệt xuất của dân tộc.  Năm 1285 và năm 1288. Ông chỉ huy quân đội đánh tan hai cuộc xâm lược của quân Nguyên-Mông. Ông lập nhiều chiến công lớn: 3 lần đánh tan quân Nguyên Mông.

II. Tác phẩm:

1. Hoàn cảnh sáng tác:

– Được viết vào khoảng thời gian trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ hai (1285): Khi giặc Nguyên Mông sang xâm lược nước ta lần thứ hai, lúc này quân giặc rất mạnh muốn đánh bại chúng phải có sự đồng tình, ủng hộ của toàn quân, toàn dân, vì vậy Trần Quốc Tuấn đã viết bài hịch này để kêu gọi tướng sĩ hết lòng đánh giặc

2. Thể loại: Hịch

3. Bố cục:

– Chia làm 3 phần:

+ Phần 1: Từ đầu đến “lưu tiếng tốt”: Nêu tên những trung thần nghĩa sĩ được sử sách lưu danh
+ Phần 1: Từ tiếp đến “ta cũng vui lòng”: Tình hình đất nước hiện tại và nỗi lòng của người chủ tướng
+ Phần 3: Còn lại: Phê phán những biểu hiện sai trái tong hàng ngũ quân sĩ

4. Giá trị nội dung

– Bài Hịch phản ánh tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, thể hiện lòng căm thù giặc và ý chí quyết thắng.

5. Giá trị nghệ thuật

– Hịch tướng sĩ là một áng văn chính luận xuất sắc
– Kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc sảo, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng phong phú, sinh động.
– Kết hợp hài hoà giữa lí trí và tình cảm. Lời văn khi hùng hồn đanh thép, khi thống thiết chân thành có sức lôi cuốn và sức thuyết phục mạnh mẽ.

III. Luyện tập:

Câu hỏi: Sự ngang ngược và tội ác của giặc được lột tả như thế nào? Đoạn văn tố cáo tội ác của giặc đã khơi gợi điều gì ở tướng sĩ ?

Trả lời:

– Sự ngang ngược và tội ác của giặc: tham lam, tàn bạo, ngang ngược,… Dùng phép ẩn dụ, so sánh để miêu tả sự ngang ngược và tội ác của chúng: uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, khác nào đem thịt mà nuôi hổ đói.

– Đoạn văn đã khơi dậy nỗi nhục mất nước, lòng căm thù giặc và ý chí quyết tâm đánh giặc để bảo vệ quê hương, đất nước.

Câu hỏi: Phân tích lòng yêu nước, căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn qua đoạn văn tác giả tự nói lên nỗi lòng mình.

Trả lời:

– Nỗi đau quặn thắt gan ruột trước cảnh đất nước lầm than, sự trăn trở, dằn vặt vì yêu nước, thương dân đến quên ăn, mất ngủ đã được bộc lộ qua những câu văn chân thành và xúc động: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa”.

– Lòng yêu nước, căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn được thể hiện ở thái độ uất ức, căm tức, khao khát được trả thù. Kẻ thù phải được trừng phạt bằng hình phạt ghê gớm nhất thì mới hả lòng: “chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù”. Câu văn giàu tâm huyết của người viết khi nói về tinh thần sẵn sàng hi sinh để rửa mối nhục cho đất nước: “Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”.

Câu hỏi: Sau khi nêu mối ân tình giữa chủ soái và tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn phê phán những hành động sai của tướng sĩ, đồng thời khẳng định những hành động đúng nên làm là có dụng ý gì? Khi phê phán hay khẳng định, tác giả tập trung vấn đề gì? Tại sao phải như vậy?

Trả lời:

– Trần Quốc Tuấn phê phán những hành động sai của tướng sĩ, đồng thời khẳng định những hành động nên làm nhằm thức tỉnh sự tự ý thức, trách nhiệm, tự nhìn nhận lại mình để điều chỉnh suy nghĩ cũng như hành động của tướng sĩ.

– Khi phê phán hay khẳng định, tác giả đều tập trung vào vấn đề: đề cao tinh thần cảnh giác, chăm lo rèn luyện để chiến thắng kẻ thù xâm lược. Bởi vì, bài hịch này dù trực tiếp là nhằm khích lệ tiến sĩ học tập cuốn Binh thư yếu lược do chính Trần Quốc Tuấn biên soạn, nhưng mục đích cao nhất chính là kêu gọi tinh thần yêu nước quyết chiến quyết thắng với ngoại xâm.

Câu hỏi: Giọng văn là lời vị chủ soái nói với tướng sĩ dưới quyền hay lời người cùng cảnh ngộ? Là lời khuyên răn tỏ thiệt hơn hay lời nghiêm khắc cảnh cáo? Cách viết của tác giả có tác động đến tướng sĩ như thế nào?

Trả lời:

– Mối ân tình giữa chủ soái và các tướng sĩ là mối quan hệ chủ – tướng và mối quan hệ của những người cùng cảnh ngộ.

– Tác giả đứng trên mối quan hệ chủ – tướng để khích lệ tinh thần trung quân ái quốc, đứng trên quan hệ cùng cảnh ngộ để khơi dậy lòng ân nghĩa thủy chung của những người cùng chung hoàn cảnh “ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan”, “lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười”. Vì thế, lời lẽ trong đoạn này có khi nghiêm khắc, sỉ mắng, răn đe, có khi lại chân thành, tình cảm, bày tỏ thiệt hơn.

– Cách viết của tác giả không chỉ tác động đến nhận thức mà còn lay động cả đến tình cảm của các tướng sĩ.

Câu hỏi: Hãy nêu một số đặc sắc nghệ thuật đã tạo nên sức thuyết phục người đọc bằng cả nhận thức và tình cảm ở bài Hịch tướng sĩ.

Trả lời:

– Để tác động vào nhận thức của tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn đã dùng biện pháp so sánh giữa hai viễn cảnh, đầu hàng, làm ngơ trước tình cảnh đất nước lâm nguy thì sẽ mất lợi riêng cá nhân lẫn lợi chung của dân tộc, còn quyết tâm chiến đấu và thắng lợi thì sẽ được tất cả. Tác giả sử dụng nhiều từ ngữ mang tính chất phủ định khi nêu viễn cảnh thất bại: không còn, cũng mất, li tan, cũng khốn; sử dụng nhiều từ ngữ có tính chất khẳng định khi nêu viễn cảnh thắng lợi: mãi mãi vững bền, đời đời hưởng thụ, không bị mai một, sử sách lưu thơm.

– Các điệp ngữ, điệp ý tăng tiến có tác dụng tô đậm, nhấn mạnh, làm cho người đọc thấy rõ được đúng sai, phải trái.

– Để tác động vào tình cảm của tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn đã dùng giọng văn thống thiết, chân tình. Ông viết bằng cả trái tim đầy nhiệt huyết của mình. Do đó, sức truyền cảm, lay động của bài Hịch rất lớn.

II. Tiếng Việt:

Bài: “Hành động nói”

I. Hành động nói là gì?

Trả lời câu hỏi:

1. Lý Thông nói với Thạch Sanh nhằm lừa gạt Thạch Sanh để chàng sợ hãi và chạy trốn. Câu thể hiện rõ nhất mục đích đó “Thôi, bây giờ nhân trời chưa sáng em hãy trốn ngay đi.”

2. Lý Thông đạt được mục đích của mình. Câu thể hiện ” Thạch Sanh vội vàng từ giã mẹ con Lý Thông, trở về túp lều cũ dưới gốc đa, kiếm củi nuôi thân.”

3. Lý Thông đã thực hiện mục tiêu của mình bằng lời nói.

4. Nếu hiểu ” việc làm cụ thể của con người nhằm mục đích nhất định” thì việc làm của Lý Thông là một hành động, vì nó tác động dẫn tới hành động chạy trốn của Thạch Sanh.

II. Một số kiểu hành động nói thường gặp

Trả lời câu hỏi:

1. Câu ” Con trăn ấy là con trăn nhà vua nuôi đã lâu” mục đích thông báo.

Câu ” Nay em giết nó, tất không khỏi bị tội chết.” → mục đích đe dọa.
Câu ” Thôi, bây giờ nhân trời chưa sáng em hãy trốn ngay đi.” → mục đích đe dọa.
Câu ” Có chuyện gì để anh ở nhà lo liệu” → mục đích hứa hẹn.

2. “Vậy thì bữa sau con ăn ở đâu?” → hành động hỏi.

” Con sẽ ăn ở nhà cụ Nghị thôn Đoài” → hành động trình bày.
” U nhất định bán con đấy ư? U không cho con ở nhà nữa ư?” → mục đích hỏi.
” Khốn nạn thân con thế này! Trời ơi!” → mục đích bộc lộ cảm xúc đau khổ, buồn chán.

3. Những kiểu hành động nói qua phân tích ở mục I, mục II là hành động trình bày, hành động hỏi, hành động bộc lộ cảm xúc.

III. Luyện tập:

Bài 1 (trang 63 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Trả lời câu hỏi:

Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ nhằm mục đích:

+ Thể hiện sự căm phẫn, giận dữ trước cảnh giặc xâm lược ngang nhiên cướp bóc dân ta.
+ Mục đích thứ hai: Khích lệ lòng yêu nước, ý chí chống quân xâm lược của quân sĩ.

– Hành động nói: trình bày (câu trần thuật) – Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù.

– Hành động nói: Trình bày, đe dọa, yêu cầu – Nay ta chọn binh pháp…tức là nghịch thù”

Bài 2 (trang 64 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Trả lời câu hỏi:

a, Đoạn trích Tắt đèn:

– Bác trai đã khá rồi chứ? – hành động hỏi
– Cảm ơn cụ… mỏi mệt lắm – hành động trình bày
– Này, bảo bác ấy… cho hoàn hồn – hành động điều khiển, hứa hẹn.
– Vâng, cháu cũng… tới giờ rồi còn gì. – hành động hứa hẹn, bộc lộ cảm xúc.
– Thế thì phải giục… kéo vào rồi đấy! – hành động điều khiển.

b, Đoạn trích Sự tích Hồ Gươm.

– Đây là Trời có ý phó thác cho minh công làm việc lớn. – hành động trình bày.
– Chúng tôi nguyện đem… báo đền Tổ Quốc! – hành động hứa hẹn.

c, Đoạn trích Lão Hạc:

– Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ! – hành động trình bày
– Cụ bán rồi? – hành động hỏi.
– Bán rồi! Họ vừa bắt xong. – hành động trình bày
– Thế nó cho bắt à? – hành động hỏi
– Khốn nạn… dốc ngược nó lên – Hành động bộc lộ cảm xúc xen hành động trình bày.

Bài 3 (trang 65 sgk Ngữ văn tập 2):

Trả lời câu hỏi:

– Anh phải hứa với em không bao giờ để chúng ngồi cách xa nhau anh nhớ chưa? – hành động điều khiển.
– Anh hứa đi – hành động điều khiển.
– Anh xin hứa – hành động hứa, cam kết.

III. Tập làm văn:

Giới thiệu một vài bài văn thuyết minh về danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng:

  • Bài viết cùng chủ đề:

Đánh giá bài viết:

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị tiết lộ.