Hướng dẫn tìm hiểu bài thơ Hầu trời

huong-dan-tim-hieu-bai-tho-hau-troi

Tác giả Tản Đà:

Tản Đà sống giữa hai thời đoạn hết sức quan trọng của nèn thi ca Việt Nam. Đến thời ông, nên văn học cũ đang suy tàn đến cùng cực. Trong khi đó, nền văn học mới đang sinh sôi nảy nở hết sức mạnh mẽ. Bởi thế, ông là “con người của 2 thế kỉ” cả về học vấn, lối sống và sự nghiệp văn chương. Cái gạch nối, cái bản lề của văn học trung đại và văn học hiện đại.

Bài thơ “Hầu trời” có cấu tứ là một câu chuyện nhỏ. Đó là thi sĩ Tản Đà lên hầu trời, đọc thơ cho trời và chư tiên nghe. Trời và chư tiên khen hay và hỏi chuyện. Và tác giả đã kể những chi tiết rất thực về cuộc đời mình và cảnh nghèo khó của những người sáng tác văn chương ở hạ giới. Trời nghe cảm động và thấu hiểu nỗi lòng của thi sĩ.

Phân tích tác phẩm:

1. Cách mở đầu câu chuyện:

“Đêm qua chẳng biết có hay không,
Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!
Thật được lên tiên – sướng lạ lùng”.

Gây ấn tượng mạnh mẽ, gợi trí mò tò thu hút người đọc

2. Câu chuyện hầu trời:

a/ Lí do và thời điểm lên hầu trời:

“Nguyên lúc canh ba nằm một mình,
Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh.
Nằm buồn, ngồi dậy đun nước uống,
Uống xong ấm nước, nằm ngâm văn”. 

– Không gian: Trăng sáng. Thời gian: canh ba (rất khuya)

– Nhà thơ không ngủ được, thức bên ngọn đèn xanh, vắt chân chữ ngũ… Tâm trạng buồn, ngồi dậy đun nước, ngâm ngợi thơ văn, ngắm trăng trên sân nhà.

– Hai cô tiên xuất hiện, cùng cười, nói: trời đang mắng vì người đọc thơ mất giấc ngủ của trời, trời sai lên đọc thơ cho trời nghe:

“Chơi văn ngâm chán lại chơi trăng
Ra sân cùng bóng đi tung tăng
Trên trời bỗng thấy hai cô xuống
Miệng cười mủm mỉm cùng nói rằng:

– “Trời nghe hạ giới ai ngâm nga,
Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà!
Làm Trời mất ngủ, Trời đương mắng
Có hay lên đọc, Trời nghe qua” .

– Theo lời kể của nhân vật trữ tình, không gian, cảnh tiên như hiện ra:

“Cửa son đỏ chói, oai rực rỡ
Thiên môn đế khuyết như là đây! “

+ “Đường mây”  rộng mở. “Cửa son đỏ chói” tạo nên cảnh huy hoàng, rực rỡ

+ “Thiên môn đế khuyết” nơi ở của vua, vẻ sang trọng. “Ghế bành như tuyết vân như mây” quý phái, sang trọng hết mức.

b/ Cảnh đọc thơ cho trời và các chư tiên nghe:

– Tâm trạng của thi sĩ say sưa đọc thơ: Thi sĩ đọc rất nhiệt tình, cao hứng, có phần tự hào tự đắc vì văn thơ của chính mình, đọc thơ say sưa:

“Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lí lại văn chơi
Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi. “

– Thái độ của trời và các chư tiên: Trời khen nhiệt tình và đánh giá rất cao thơ văn thi sĩ:

+ “Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay.
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga, Chúc Nữ chau đôi mày
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay. “

+ “Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:
– “Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”
Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt!
Văn trần được thế chắc có ít!”.

c/ Câu chuyện về cuộc đời của thi sĩ và của các tác giả sáng tác văn chương đương thời

– Cảnh đời nghèo khó:  “thước đất cũng không có”, tài sản duy nhất: có một bụng văn.Văn chương rẻ như bèo kiếm được đồng lãi thực rất khó, làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu:

“Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu”.

– Lời động viên của trời:

Rằng: “Con không nói Trời đã biết
Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết
Thôi con cứ về mà làm ăn
Lòng thong chớ ngại chi sương tuyết!” 

Thực chất đó là lời động viên của chính mình và các văn sĩ cùng thời với mình. Bài thơ thể hiện rất rõ thái độ ngông: tự tin kiêu hãnh giá trị của bản thân tự nhận là trích tiên để thực hiện sứ mệnh cao cả là khôi phục lại thiên lương của nhân loại. Có ý thức trách nhiệm với cuộc đời.

Cảm nhận cái “tôi” độc đáo trong bài thơ Hầu trời

  • Mở bài:

Tản Đà được xem là con người của hai thế kỉ. Là gạch nối giữa nền văn học trung đại và văn học hiện đại Việt Nam. Bằng bản lĩnh của mình, Tản Đà đã mang đến một luồng sinh khí mới cho nền văn học Việt Nam. Thi sĩ trực tiếp thể hiện cái tôi bản ngã của mình một cách hết sức độc đáo và mới mẻ. Và “Hầu Trời” là một trong những bài thơ kết tinh những nét riêng độc đáo đó.

  • Thân bài:

– Cái tôi độc đáo của Tản Đà là sự kết tinh giữa 3 yếu tố: xê dịch, ngông và đa tình. Trong đó ngông là yếu tố chủ đạo tạo nên cái tôi riêng không nhầm lẫn với bất kì nhà thơ nào

– Cái ngông ở đây được nói đến là ngông dựa trên khả năng mình có, nghĩa là chỉ những người tài năng, tự tin bởi cái tài của mình, tự tin để khẳng định nó với đời mới là cái ngông được người đời chấp nhận. Người ngông tạo cho mình những phong cách riêng, khác người nhưng để lại những ấn tượng sâu đậm.

– “Hầu Trời” là bài thơ được trích trong tập Còn chơi (1921). Bài thơ đã thể hiện rõ cái tôi cá nhân của Tản Đà thông qua sự việc lên thiên đình đọc thơ.

– Biểu hiện của cái tôi độc đáo của Tản Đà qua sự việc lên thiên đình đọc thơ:

Chuyện tưởng tượng nhưng như thật, vào đề tự nhiên, hấp dẫn nhưng có duyên. Đã có dịp được lên Thiên đình, vì thế Tản Đà tranh thủ “quảng cáo” tài năng của bản thân. Tự đắc với tài năng nên càng đọc thì giọng càng tốt, văn càng hay. Sẵn tiện, giới thiệu về bản thân và tiếp tục khoe tài bằng những tác phẩm của mình sáng tác

Tài năng ngay đến Trời cũng say mê, chư tiên cũng phải yêu thích. Với Tản Đà, văn chương là một nghề kiếm sống mới, có người bán kẻ mua, có thị trường tiêu thụ và bản thân thị trường đó cũng hết sức phức tạp. Chỉ Tản Đà mới dám nói lên nỗi lòng của những người viết văn: nghề viết văn đôi khi rất phũ phàng. (văn chương rẻ như bèo. Kiếm được thì ít mà tiêu thì nhiều…). Nhận mình là “trích tiên” bị đày xuống hạ giới để thực hiện thiên lương.

Kế thừa nét ngông của truyền thống, song trong sự ngông của Tản Đà, người ta không thấy cái ngông đến mức lấy thú ăn chơi hưởng lạc có phần tiêu cực như một cách để đối lại với đời như Nguyễn Công Trứ. Và cũng không thấy cái ngông trong việc đi tìm một phong cách, một lối thể hiện riêng của người tôn thờ cái đẹp như Nguyễn Tuân. Cái ngông của Tàn Đà là cái ngông của một người chìm đắm trong mộng: mộng về cuộc đời, mộng về sự đổi thay, say để mộng, mộng để ngông với người đời. Nhưng có thể thấy rằng, họ gặp nhau ở một điểm cơ bản mà nếu như thiếu nó thì sẽ không thể “ngông” được đó là cái tài, cái tình và ý thức về cái tôi bản ngã của chính mình. Họ làm nên những phong cách nghệ thuật riêng độc đáo, nhưng ấn tượng đặc biệt, không thể nào phai trong lòng người đọc và không lẫn với cái ngông của nhà thơ nào khác.

  • Kết bài:

Nét độc đáo trong cái tôi của Tản Đà là sự dung hòa nhiều yếu tố khác nhau. Tất cả tạo nên ở thi sĩ tính cách của một nhà Nho tài tử, đa tình, ngông và xê dịch. Cái cũ và mới, xưa và nay đan xen đưa Tàn Đà trở thành người nối kết hai thời đại thi ca, trở thành ngôi sao sáng với vẻ đẹp rất riêng trên bầu Trời văn học Việt Nam.

Bình luận: