Đọc – hiểu văn bản: Hầu trời của Tản Đà

huong-dan-tim-hieu-bai-tho-hau-troi

Đọc – hiểu văn bản: Hầu trời của Tản Đà

I. Đọc – hiểu chú thích:

1. Tác giả: Tản Đà.

Tản Đà sống giữa hai thời đoạn hết sức quan trọng của nèn thi ca Việt Nam. Đến thời ông, nên văn học cũ đang suy tàn đến cùng cực. Trong khi đó, nền văn học mới đang sinh sôi nảy nở hết sức mạnh mẽ. Bởi thế, ông là “con người của 2 thế kỉ” cả về học vấn, lối sống và sự nghiệp văn chương. Cái gạch nối, cái bản lề của văn học trung đại và văn học hiện đại.

– Sự nghiệp văn chương:

+ Sáng tác bằng quốc ngữ
+ Thuộc lớp nhà văn đầu tiên của Việt Nam coi viết văn, làm báo là nghề nghiệp chính.
+ Các thể loại cũ nhưng tình điệu, cảm xúc mới mẻ. Tất cả ảnh hưởng không nhỏ đến cá tính sáng tạo của thi sĩ

Tác phẩm: Hầu trời

– Xuất xứ: In trong tập Còn chơi, xuất bản lần đầu năm 1921, gồm thơ và văn xuôi.

– Hoàn cảnh sáng tác: đầu những năm 20 của thế kỷ XX, thời điểm mà:

+ Lãng mạn đã là điệu tâm tình chủ yếu của thời đại
+ Xã hội thực dân nửa phong kiến ngột ngạt, tù hãm, u uất, đầy rẫy những cảnh ngang trái, xót đau. Người trí thức có lương tri không chấp nhận nhập cuộc, nhưng không ai có dũng khí chống lại nó.

– Bài thơ cấu tứ như một câu chuyện: Thi sĩ Tản Đà lên tiên gặp trời. Tản Đà đọc thơ cho trời và các chư tiên nghe. Nghe thơ, Trời khen hay và hỏi chuyện. Tác giả đã đem các chi tiết rất thực về thơ và đời mình đặc biệt cái nghèo khó của văn chương hạ giới kể cho Trời nghe. Trời cảm động và thấu hiểu tình cảnh, nỗi lòng thi sĩ.

– Chuyện có vẻ khó tin nhưng cái hay và mới, cái lãng mạn và ngông của hồn thơ Tản Đà được kết đọng trong đó.

II. Đọc – hiểu văn bản.

1. Cách mở đầu câu chuyện.

Cách vào đề bài thơ khá độc đáo:

+ Chuyện tác giả đọc thơ cho Trời và các chư tiên nghe khá thú vị.
+ Bài thơ có sự kết hợp hai nguồn cảm hứng: lãng mạn và hiện thực, có nhiều cái mới.

Cách vào đề của bài thơ gợi cho người đọc cảm giác tò mò về câu chuyện mà tác giả sắp kể. Câu thơ mở đầu mối nghi vấn khơi gợi sự hiếu kì của người đọc. Chuyện có vẻ như mơ mộng, bịa đặt nhưng dường như là thật. Tác giả dùng 3 câu khẳng định để củng cố niềm tin:

Đêm qua chẳng biết có hay không,
Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!
Thật được lên tiên – sướng lạ lùng.

– Tình huống: Thi nhân buồn → ngắm trăng, ngâm thơ → làm trời mất ngủ.

– Giọng thơ: hóm hỉnh, chi tiết dí dỏm, trần tục hoá chuyện thiên đình.

⇒ Lối vào đề có sức hấp dẫn, gây ấn tượng mạnh mẽ độc đáo, có duyên, hứa hẹn nhiều thú vị.

2. Câu chuyện hầu trời:

a. Lí do và thời điểm lên hầu trời:

“Nguyên lúc canh ba nằm một mình,
Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh.
Nằm buồn, ngồi dậy đun nước uống,
Uống xong ấm nước, nằm ngâm văn”. 

– Không gian: Trăng sáng. Thời gian: canh ba (rất khuya)

– Nhà thơ không ngủ được, thức bên ngọn đèn xanh, vắt chân chữ ngũ… Tâm trạng buồn, ngồi dậy đun nước, ngâm ngợi thơ văn, ngắm trăng trên sân nhà.

– Hai cô tiên xuất hiện, cùng cười, nói: trời đang mắng vì người đọc thơ mất giấc ngủ của trời, trời sai lên đọc thơ cho trời nghe:

“Chơi văn ngâm chán lại chơi trăng
Ra sân cùng bóng đi tung tăng
Trên trời bỗng thấy hai cô xuống
Miệng cười mủm mỉm cùng nói rằng:

– “Trời nghe hạ giới ai ngâm nga,
Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà!
Làm Trời mất ngủ, Trời đương mắng
Có hay lên đọc, Trời nghe qua” .

– Theo lời kể của nhân vật trữ tình, không gian, cảnh tiên như hiện ra:

“Cửa son đỏ chói, oai rực rỡ
Thiên môn đế khuyết như là đây! “

+ “Đường mây”  rộng mở. “Cửa son đỏ chói” tạo nên cảnh huy hoàng, rực rỡ

+ “Thiên môn đế khuyết” nơi ở của vua, vẻ sang trọng. “Ghế bành như tuyết vân như mây” quý phái, sang trọng hết mức.

b. Cảnh đọc thơ cho trời và các chư tiên nghe:

– Tâm trạng của thi sĩ say sưa đọc thơ: Thi sĩ đọc rất nhiệt tình, cao hứng, có phần tự hào tự đắc vì văn thơ của chính mình, đọc thơ say sưa:

“Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lí lại văn chơi
Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi. “

– Thái độ của trời và các chư tiên: Trời khen nhiệt tình và đánh giá rất cao thơ văn thi sĩ:

+ “Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay.
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga, Chúc Nữ chau đôi mày
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay. “

+ “Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:
– “Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”
Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt!
Văn trần được thế chắc có ít!”.

c. Câu chuyện về cuộc đời của thi sĩ và của các tác giả sáng tác văn chương đương thời

– Cảnh đời nghèo khó:  “thước đất cũng không có”, tài sản duy nhất: có một bụng văn.Văn chương rẻ như bèo kiếm được đồng lãi thực rất khó, làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu:

“Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu”.

– Lời động viên của trời:

Rằng: “Con không nói Trời đã biết
Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết
Thôi con cứ về mà làm ăn
Lòng thong chớ ngại chi sương tuyết!” 

Thực chất đó là lời động viên của chính mình và các văn sĩ cùng thời với mình. Bài thơ thể hiện rất rõ thái độ ngông: tự tin kiêu hãnh giá trị của bản thân tự nhận là trích tiên để thực hiện sứ mệnh cao cả là khôi phục lại thiên lương của nhân loại. Có ý thức trách nhiệm với cuộc đời.

Bình luận:

Tác giả thể hiện một cái “ngông” cá tính khác đời. Trong văn chương là thái độ phản ứng của người nghệ sĩ tài hoa, có cốt cách, tâm hồn không chấp nhận sự bằng phẳng đơn điệu nên thường “phá cách” tự đề cao cá tính của mình.

Thi sĩ rất cao hứng và có phần tự đắc: đương cơn đắc ý, ran cả cung mây, lại tự khen mình văn đã giàu, thay lại lắm lối. Trời đánh giá cao và không tiếc lời tán dương: Văn thật tuyệt, Văn trần được như thế chắc có ít! Nhời văn chuốt đẹp như sao băng! Khí văn hùng mạnh như mây chuyển! Êm như gió thoảng, tinh hơn sương! Đầm như mưa sa lạnh như tuyết. .. Chư tiên nghe thơ cũng rất xúc động, tán thưởng và hâm mộ.

Giọng thơ hào sảng, lai láng tràn trề. Chuyện hư cấu, tưởng tượng được kể chân thực như chuyện có thật giúp người đọc cảm nhận được về tâm hồn thi sĩ Tản Đà. Ý thức rất rõ về tài năng, giới thiệu cụ thể: tên họ, quê hương, bản quán, đất nước, châu lục. Táo bạo, tự tin bộc lộ “cái tôi”. Tất cả thể hiện cái “ngông” một cách thoải mái, phóng túng.

Tản Đà rất ý thức về tài năng của mình. Thi sĩ còn là người rất táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ bản ngã của mình trước Ngọc Hoàng, thượng đế và chư tiên. Đó là niềm khao khát không bị kiềm chế, cương toả, phóng khoáng. Giữa chốn hạ giới mà văn chương rẻ rúng, thân phận nhà văn bị khinh bỉ, Tản Đà không tìm được tri âm, đành lên tận cõi tiên cho thoả mộng.

3. Cuộc đời người nghệ sĩ tài hoa trong xã hội thực dân nửa phong kiến:

Tản Đà là một thi sĩ nổi tiếng một thời. Vậy mà suốt đời phải sống trong cảnh nghèo khổ, cùng quẫn. Cuối đời, ông phải mở cửa hàng xem tướng số để kiếm ăn nhưng không có khách, mở lớp dạy Hán văn và quốc văn nhưng không có học trò. Ông chết trong cảnh nghèo đói, nhà của bị chủ nợ tịch biên, chỉ còn một cái giường mọt, cái ghế ba chân, một đống sách mát và be rượu.

“Hôm qua chửa có tiền nhà
Suốt đêm thơ nghĩ chẳng ra câu nào
Đi ra rồi lại đi vào
Quẩn quanh chỉ tốn thuốc lào vì thơ”

– Tản Đà đã vẽ một bức tranh chân thực và cảm động về chính cuộc đời mình cũng như cuộc đời các nhà văn An Nam khác:

– Khai với Ngọc Hoàng đầy đủ họ tên, quê quán, gia cảnh (nghèo khó)… đến những tác phẩm đã xuất bản. Đặc biệt, nhà thơ kể một cách chi tiết với giọng đầy chua chát về thân phận tủi hổ của người nghệ sĩ tài hoa trong xã hội thực dân phong kiến.

– Không chỉ riêng Tản Đà, nhiều nhà văn cùng thời với ông và sau ông cũng cùng chung số phận.

⇒ Bức tranh hiện thực qua chính lời kể của tác giả giúp ta hiểu thêm vì sao Tản Đà chán cõi trần thế, muốn thoát tục lên tiên, vì sao ông phải lặn lội tìm cõi tri âm nơi trời cao. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn. Song bức tranh hiện thực được đặt giữa cảm hứng lãng mạn đã tạo nên một hiệu quả nghệ thuật lớn. Nhà văn dù có bay lên chín tầng trời vẫn không thoát được cảnh đời cơ cực, thân phận tủi hổ đeo bám. Đôi cách lãng mạn khiến cho hồn thơ của thi sĩ thăng hoa. Đôi cánh hiện thực giữ cho ý thơ sâu sắc, thấm thía. Bài thơ vì thế thấm đẫm tinh thần nhân văn.

III. Tổng kết:

1. Giá trị nội dung:

Tản Đà đã mạnh dạn tự biểu hiện cái tôi cá nhân, một cái tôi ngông, phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình, khao khát được khẳng định mình giữa cuộc đời.

2. Giá trị nghệ thuật:

– Thể thơ: Thể thất ngôn trường thiên khá tự do phóng khoáng. Tình điệu cảm xúc mới, hồn thơ lãng mạn.
– Ngôn ngữ: Gần lời ăn tiếng nói đời thường, ít có những uớc lệ, cách điệu như thơ trung đại ( ngôn ngữ này đến thơ mới được kế thừa và phát triển).
– Giọng thơ linh hoạt: khi hóm hỉnh hài hước, lúc sôi nổi phóng khoáng, khi ngậm ngùi chua chát.
– Cách biểu hiện cảm xúc phóng túng, tự do, không hề bị gò ép.

⇒ Tản Đà đã tìn được hướng đi đúng đắn để khẳng định tài năng của mình trong lúc thơ phú nhà Nho đang đi dần đến dấu chấm hết.


Bài tham khảo: Cảm nhận cái “tôi” độc đáo trong bài thơ Hầu trời

  • Mở bài:

Tản Đà được xem là con người của hai thế kỉ. Là gạch nối giữa nền văn học trung đại và văn học hiện đại Việt Nam. Bằng bản lĩnh của mình, Tản Đà đã mang đến một luồng sinh khí mới cho nền văn học Việt Nam. Thi sĩ trực tiếp thể hiện cái tôi bản ngã của mình một cách hết sức độc đáo và mới mẻ. Và “Hầu Trời” là một trong những bài thơ kết tinh những nét riêng độc đáo đó.

  • Thân bài:

– Cái tôi độc đáo của Tản Đà là sự kết tinh giữa 3 yếu tố: xê dịch, ngông và đa tình. Trong đó ngông là yếu tố chủ đạo tạo nên cái tôi riêng không nhầm lẫn với bất kì nhà thơ nào

– Cái ngông ở đây được nói đến là ngông dựa trên khả năng mình có, nghĩa là chỉ những người tài năng, tự tin bởi cái tài của mình, tự tin để khẳng định nó với đời mới là cái ngông được người đời chấp nhận. Người ngông tạo cho mình những phong cách riêng, khác người nhưng để lại những ấn tượng sâu đậm.

– “Hầu Trời” là bài thơ được trích trong tập Còn chơi (1921). Bài thơ đã thể hiện rõ cái tôi cá nhân của Tản Đà thông qua sự việc lên thiên đình đọc thơ.

– Biểu hiện của cái tôi độc đáo của Tản Đà qua sự việc lên thiên đình đọc thơ:

Chuyện tưởng tượng nhưng như thật, vào đề tự nhiên, hấp dẫn nhưng có duyên. Đã có dịp được lên Thiên đình, vì thế Tản Đà tranh thủ “quảng cáo” tài năng của bản thân. Tự đắc với tài năng nên càng đọc thì giọng càng tốt, văn càng hay. Sẵn tiện, giới thiệu về bản thân và tiếp tục khoe tài bằng những tác phẩm của mình sáng tác

Tài năng ngay đến Trời cũng say mê, chư tiên cũng phải yêu thích. Với Tản Đà, văn chương là một nghề kiếm sống mới, có người bán kẻ mua, có thị trường tiêu thụ và bản thân thị trường đó cũng hết sức phức tạp. Chỉ Tản Đà mới dám nói lên nỗi lòng của những người viết văn: nghề viết văn đôi khi rất phũ phàng. (văn chương rẻ như bèo. Kiếm được thì ít mà tiêu thì nhiều…). Nhận mình là “trích tiên” bị đày xuống hạ giới để thực hiện thiên lương.

Kế thừa nét ngông của truyền thống, song trong sự ngông của Tản Đà, người ta không thấy cái ngông đến mức lấy thú ăn chơi hưởng lạc có phần tiêu cực như một cách để đối lại với đời như Nguyễn Công Trứ. Và cũng không thấy cái ngông trong việc đi tìm một phong cách, một lối thể hiện riêng của người tôn thờ cái đẹp như Nguyễn Tuân. Cái ngông của Tàn Đà là cái ngông của một người chìm đắm trong mộng: mộng về cuộc đời, mộng về sự đổi thay, say để mộng, mộng để ngông với người đời. Nhưng có thể thấy rằng, họ gặp nhau ở một điểm cơ bản mà nếu như thiếu nó thì sẽ không thể “ngông” được đó là cái tài, cái tình và ý thức về cái tôi bản ngã của chính mình. Họ làm nên những phong cách nghệ thuật riêng độc đáo, nhưng ấn tượng đặc biệt, không thể nào phai trong lòng người đọc và không lẫn với cái ngông của nhà thơ nào khác.

  • Kết bài:

Nét độc đáo trong cái tôi của Tản Đà là sự dung hòa nhiều yếu tố khác nhau. Tất cả tạo nên ở thi sĩ tính cách của một nhà Nho tài tử, đa tình, ngông và xê dịch. Cái cũ và mới, xưa và nay đan xen đưa Tàn Đà trở thành người nối kết hai thời đại thi ca, trở thành ngôi sao sáng với vẻ đẹp rất riêng trên bầu Trời văn học Việt Nam.

Bài viết cùng chủ đề:

Đánh giá bài viết:

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị tiết lộ.