Lộc nhung (nhung hươu) – khẳng định bản lĩnh phái mạnh

loc-nhung-than-duoc-bao-ve-than-tang-cuong-sinh-ly-6868

Nhung hươu là gì?

Nhung hươu hay nhung hươu nai, nhung lộc là sừng của hươu đực hay nai đực. Hàng năm, vào cuối mùa hạ, loài hươu hay nai thường rụng sừng đi để mùa xuân năm sau mọc sừng mới. Phần sừng mới này chính là nhung hươu nai có đặc điểm rất mềm, mặt ngoài phủ đầy lông, sờ vào êm như nhung nên có tên gọi như vậy. Bên trong nhung hươu chứa nhiều mạch máu, có thể phân nhánh hoặc không phân nhánh.

Có thể hiểu ở loài hươu, sừng có khả năng tái sinh trọn vẹn. Đây là cấu trúc lớn được tạo thành từ xương, có thể tăng trưởng hằng năm theo chu trình “chết đi – rụng xuống – tái sinh”. Sừng có cấu tạo gồm các mô xương bên trong, các mạch máu cùng lớp da phủ bên ngoài. Sừng hươu từ lúc mới nhú mọc đến khi hóa cứng gọi là nhung hươu.

Khi sừng hươu phát triển hoàn chỉnh (khoảng 3-4 tháng sau khi mọc) lớp da bên ngoài sừng sẽ tiêu giảm hết để lại phần xương gọi là gạc hươu. Gạc hươu rụng vào cuối mùa hạ – mùa kết đôi và đến mùa xuân năm sau một cặp sừng mới tái sinh hình thành nhung hươu.

NHUNG-HUOU-THAN-DUOC-CUA-DAN-ONG

Thành phần của nhung hươu tươi:

Nhung hươu tươi có nhiều đóng góp hữu ích trong y học, trong dinh dưỡng, sức khỏe và cả làm đẹp chính là nhờ những thành phần có ích của sản phẩm này. Nhiều năm gần đây, các nhà khoa học đã có những nghiên cứu sâu rộng về tác dụng, ứng dụng lâm sàng cũng như dược lí và thành phần của nhung hươu tươi để đưa đến kết luận về những chất có trong sừng non loài hươu này.

Khảo sát nghiên cứu của các nhà khoa học đã đưa ra thành phần hóa học của nhung hươu tươi bao gồm:

25 loại Acid amin, Calci Phosphat, Calci Carborat, chất keo, Oestrogen, Testosteron,…
26 loại nguyên tố vi lượng như: Cu, Fe, Zn, Mg, Cr, Br, Coban, Kiềm,…
Ngoài ra nhung hươu tươi còn có rất nhiều hoạt chất tốt cho sức khỏe như chất collagens, Chondroitin, Pantocrine, Glycosami – noglycans, Hyaluronic, Acid Uronic, Alkaline Phosphatase, Protein mô xương, bạch cầu trung tính, các khoáng chất, Prostaglandins.

Phân tích vai trò và công dụng của hoạt chất:

Collagens

Collagens được biết đến là kết cấu chính Protein trong không gian ngoại bào ở nhiều mô liên kết trong cơ thể sống động vật. Đây được xem là thành phần chính của các mô liên kết thường thấy nhiều trong các loại thú. Thông thường các loại thú thường chứa 25-35% hàm lượng Collagens trong tổng hàm lượng Protein của cơ thể.

Chondroitin

Trong cơ thể sống, Chon droid tin thường gắn liền với Protein và là một phần của Proteoglycan. Một chuỗi Chondroitin có thể chứa tới hơn 100 đường riêng biệt. Đây được xem là thành phần cấu trúc quan trọng của sụn có khả năng cung cấp sự dẻo dai, cứng rắn cho khớp hoạt động một cách bền bỉ.

loc-nhung-than-duoc-bao-ve-than-tang-cuong-sinh-ly-68

Pantocrine

Pantocrine được tìm thấy nhiều trong gạc hươu, nhung hươu non, là nguồn nguyên liệu tái tạo tự nhiên. Pantocrine dùng để bào chế các loại thuốc đặc hiệu hỗ trợ suy giảm chức năng sinh lí, trẻ hóa cơ quan sinh sản, nội tiết,…

Glycosaminoglycans

Là một trong những thành phần quan trọng hình thành mô liên kết, Chondroitin và Heparin là hai hoạt chất thuộc nhóm Glycosaminoglycans (GAGs). Chất này rất tốt cho việc hấp thu nước, hữu ích trong việc bôi trơn khớp, tăng cường sự dẻo dai, bền bỉ của khớp, duy trì độ ẩm mô chống dính. Mucopolysaccharides là tên gọi khác của chất này.

Acid uronic

Được biết đến là loại Acid thuộc lớp Acid đường kết hợp cùng Cacbonyl và Acid Cacboxylic có chức năng sinh hóa quan trọng giúp tăng cường thể lực, hoạt hóa các cơ quan trên cơ thể, tạo hưng phấn cùng cảm giác dễ chịu.

Alkaline Phosphatase

Là một Hydrolase enzyme chịu trách nhiệm loại bỏ Phosphats tập trung từ nhiều loại phân tử, trong đó bao gồm các nút Nucleotide, Protein và Ancaloit. Qúa trình loại bỏ Phosphate này được gọi là Dephosphorylation.

Protein mô xương

Trong nhung hươu tươi, thành phần Protein mô xương là những đại phân tử được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân mà các đơn phân là Acid amin. Khi kết hợp với nhau chúng tạo thành mạch dài nhờ liên kết Peptide.

Bạch cầu trung tính

Trong cơ thể loài hươu, bạch cầu trung tính chiếm số lượng nhiều nhất (40-70%) trong tổng số bạch cầu. Đây là thành phần không thể thiếu của hệ miễn dịch tự nhiên. Hoạt chất này được tạo thành từ từ các tế bào gốc trong tủy xương của hươu, có đời sống ngắn và di chuyển cao.

Hyaluronic

Hyaluronic Acid là thành phần chính của các mô hoạt dịch, chất lỏng rất tốt cho khớp xương. Đây là Acid duy nhất trong số các Glycosaminoglycans với hình thức trong màng tế bào giúp đỡ đáng kể trong quá trình sản sinh tế bào mới, chuyển hóa các tế bào cũ.

Các khoáng chất

Các khoáng chất chứa nhiều trong nhung hươu tươi như Potassium, Magnesium, Nitrogen và Selenium là thành phần rất cần thiết cho chế độ dinh dưỡng có lợi cho cơ thể.

Prostaglandins

Prostaglandins (PG) bao gồm các Acid béo không bão hòa ở các mô. Chất này có vai trò như một chất trung gian hóa học của quá trình viêm và cảm nhận đau, ngoài ra còn có tác dụng sinh lí ở các mô riêng biệt.

Các chất trong nhung hươu tươi trên kết hợp với nhau tạo ra giá trị duy trì chức năng bình thường của bộ máy sinh sản, nâng cao sinh lý, chữa các chứng hư tổn trên cơ thể nam giới, điều hòa nội tiết nữ giới. Tế bào muễn dịch đặc hiệu CD4, CD8 tăng khi sử dụng nhung hươu tươi góp phần chữa lành vết thương cực kỳ hiệu quả.

Tác dụng dược lý:

Theo Y học cổ truyền:

 Sách Bản kinh: ” chủ lậu hạ ác huyết, hàn nhiệt kinh giản, ích khí cường chí, sinh xỉ bất lão”.

Sách Danh y biệt lục: “liệu hư lao, gầy yếu, chân tay đau mỏi, đau vùng thắt lưng, tiểu nhiều, hoạt tinh, tiểu có máu, phá ứ huyết ở bụng, tán thạch lâm (sỏi đường niệu), ung nhọt, sưng phù, cốt trung nhiệt thư, dưỡng cốt an thai, uống lâu kéo dài tuổi thọ”.

Sách Dược tính bản thảo: “chủ bổ nam giới: vùng thắt lưng và thận hư lạnh, chân gối yếu, mộng tinh; nữ giới: băng trung lậu huyết. chủ trị xích bạch đới hạ”.

Sách Bản thảo cương mục quyển 51: “sinh tinh bổ tủy, dưỡng huyết ích dương, cường cân kiện cốt. Trị các chứng hư tổn, tai điếc, mắt mờ, huyễn vựng, hư lî”.

Ngoài ra, các sách thuốc cổ cũng ghi chép các bộ phận khác của Hươu Nai cũng có tác dụng bổ dưỡng cơ thể như:

Sách Bản thảo cương mục ghi: “toàn thân con Hươu đều bổ dưỡng cho người, nấu chưng, sấy khô, ngâm rượu uống đều tốt”.

Về máu Lộc: Lý thời Trân trong quyển Bản thảo cương mục viết: Lộc nhung đại bổ hư tổn, ích tinh huyết, giải ôn độc, dược độc, dùng tốt đối với các chứng hư tổn yêu thống, tâm quí thất miên, phế nuy thổ huyết, băng trung đới hạ”.

Về tủy lộc: là tủy xương hoặc tủy sống của Mai hoa lộc hoặc Mã lộc.

Sách Danh y biệt lục: ” trượng phu, nử tử thương trung tuyệt mạch, cân cấp thống, khái nghịch, dùng rượu hòa uống”.

Sách Bản thảo cương mục: ” lấy não và tủy sống của Lộc nấu thành cao, mỗi ngày một lạng gia mật 2 lạng luyện đều bỏ hũ sành bịt kín dùng làm thuốc tư bổ rất tốt.

Về thận của Lộc: thận của Lộc tức Ngọc hành tinh của con hươu đực.

Sách Danh y biệt lục: ” bổ trung yên ngũ tạng, tráng dương khí, ngâm rượu hoặc nấu cháo gạo mà ăn. Chủ trị chứng thận hư yêu thống, ù tai, liệt dương và bào cung lạnh vô sinh”.

Về bào thai của Lộc: tức bào thai con và rau thai của Mai hoa lộc hoặc Mã lộc.

Sách Bản thảo tân biên: ” thai Lộc bổ dưỡng chân khí (thiện chân) là thuốc tốt để tu ích thiếu hỏa. Thuốc bổ hạ nguyên, điều kinh sinh con. Trị huyết hư sinh tổn, băng lậu đới hạ, cho vào thuốc hoàn tán hoặc nấu cao uống”.

loc-nhung-than-duoc-bao-ve-than-tang-cuong-sinh-ly-9

Kết quả nghiên cứu dược lý chứng minh thuốc có tác dụng cường tráng, làm giảm mệt mỏi, nâng cao hiệu lực công tác, cải thiện giấc ngủ, tăng thèm ăn, cải thiện trạng thái suy dinh dưỡng và rối loạn chuyển hóa đạm, cải thiện trạng thái chuyển hóa năng lượng thấp làm cho chuột chịu đựng tốt hơn ở môi trường nhiệt độ cao và nhiệt độ thấp.

Thuốc có tác dụng nâng cao tính miễn dịch của cơ thể, làm tăng hồng huyết cầu, huyết sắc tố và sự tăng sinh của tế bào lưới hồng cầu, tăng bạch cầu.

Thuốc có tác dụng làm tăng lưu lượng máu động mạch vành của tim chuột lớn cô lập, tim co bóp mạnh hơn, nhịp tim chậm lại, cường tim. Trên thực nghiệm, nhận xét thuốc còn có tác dụng phòng trị nhịp tim không đều, tăng nhanh sự hồi phục huyết áp thấp do mất máu cấp.

  1. Polysaccharide của Lộc nhung có tác dụng chống loét rõ đối với mô hình gây loét bằng acid acetic hoặc thắt môn vị.
  2. Có tác dụng như kích tố sinh dục làm tăng cân nặng nhanh và chiều cao của động vật con thí nghiệm và tử cung vật cái phát triển, tăng nhanh sự hồi phục của xương gãy và vết thương chóng lành.
  3. Thuốc không độc, dùng bơm dạ dày thuốc đến 40g/kg vẫn không gây chết. Không đo được liều độc cấp LD50. Tác dụng phụ thường là rối loạn tiêu hóa, da đỏ ngứa, chu kỳ sinh kéo dài.

Bài thuốc hay từ nhung hươu:

1. Trị chứng thận dương bất túc tinh khí hao tổngây nên các chứng như liệt dương, di tinh, hoạt tinh, tảo tiết, lưng đau gối mỏi, váng đầu, ù tai có thể phối hợp với Hoài sơn ngâm rượu uống hoặc dùng Sâm nhung vệ sinh hoàn (Lộc nhung, Nhân sâm, Thục địa, Câu kỷ tử, Phụ tử).

2. Trị phụ nữ băng lậu, vô sinh do dương hư hỏa suydùng bài Lộc nhung tán (Lộc nhung, Thục địa, Nhục thung dung, Ô tặc cốt).

3. Trường hợp thiếu máu nặng do dương khí suydùng Lộc nhung gia Hoàng kỳ, Đảng sâm, Đương qui để ích khí dưỡng huyết.

4. Trị trẻ em chậm phát triển, còi xương, suy dinh dưỡngmỗi ngày cho uống bột Lộc nhung 1 – 2,5g.

5. Về ngoại khoa: dùng Lộc nhung chữa gãy xương giúp cho xương liền chóng, trường hợp thương sang, thư sang dùng Lộc nhung có tác dụng làm lành loét .

6. Trị tuyến vú tăng sinhTrương Duy Từ và cộng sự theo dõi điều trị 86 ca bệnh tuyến vú tăng sinh bằng phương pháp tiêm bắp thuốc Thuộc Hoa bàn vào thời gian trước lúc hành kinh 10 – 15 ngày, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 2 ml cho đến lúc có kinh ngưng thuốc, tỷ lệ kết quả 87,2% (Tạp chí Trung y dược Thượng hải 1980,3:31).

7. Trị sỏi niệu: Lục Kỷ Văn dùng Lộc giác sương, mỗi liều 30g điều trị sỏi niệu 12 ca, kết quả tốt (Tạp chí Trung y dược Thượng hải số 1980,4:36). Hạ Dịch Đình cũng dùng Lộc giác sương trị sỏi tiết niệu làm lại xác định có kết quả (Tạp chí Trung y dược Thượng hải 1982,10: bìa).

8. Trị chứng tiêu chảy do thận hư: Trương Quế Bảo dùng dịch tiêm Lộc nhung tinh 1 – 2ml, tiêm bắp, mỗi ngày hoặc cách ngày tiêm 2 lần, kết quả trị 16 ca: khỏi 12 ca, 3 ca kết quả, 1 ca không khỏi (Tạp chí Trung y dược Cát lâm, 1985,2:22).

9. Trị liệt dương: Từ khả Phúc và cộng sự dùng Lộc nhung tinh thủy châm các huyệt Khí hải, Quan nguyên, Trung cực, Khúc cốt, Túc tam lý, mỗi huyệt 0,5ml; Mệnh môn 1ml, các nhật, liệu trình 15 lần, có kết hợp uống Trung dược theo biện chứng kết quả tốt trong điều trị 42 ca (Tạp chí Trung y Triết giang 1983,11:498).

10. Trị rối loạn dẫn truyền nhĩ thất: Thái tố Nhân dùng Lộc nhung tinh tiêm bắp mỗi ngày 2ml, một liệu trình 25 – 30 ngày. Trị 20 ca, có kết quả 85% (tạp chí Triết giang 1988,1:22).

Liều thường dùng và chú ý:

Liều: 1 – 3g tán bột cho vào thuốc hoàn tán, thuốc tể. Âm hư hỏa vượng không dùng độc vị. Người có đàm tuyệt đối không dùng.

!

Bình luận: