Nghị luận: “Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra khỏi thế giới này, nhưng thế giới này trong con mắt nhà văn phải có một hình sắc riêng” (Hoài Thanh)

nghi-luan-nha-van-khong-co-phep-than-thong-de-vuot-ra-khoi-the-gioi-nay-nhung-the-gioi-nay-trong-con-mat-nha-van-phai-co-mot-hinh-sac-rieng-hoai-thanh

“Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra khỏi thế giới này, nhưng thế giới này trong con mắt nhà văn phải có một hình sắc riêng” (Hoài Thanh)

  • Mở bài:

Quá trình sáng tạo nghệ thuật chân chính bao giờ cũng là một quá trình kép: vừa sáng tạo ra thế giới, vừa kiến tạo nên bản thân mình. Cái đẹp trong nghệ thuật luôn cao hơn cái đẹp trong cuộc sống. Thế giới trong văn chương luôn là hình ảnh của thế giới thực đã được nhà văn sáng tạo lại theo cách riêng của mình. bàn về điều đó, nhà phê bình Hoài Thanh cho rằng: “Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra khỏi thế giới này, nhưng thế giới này trong con mắt nhà văn phải có một hình sắc riêng”

  • Thân bài:

Phát biểu của Hoài Thanh khẳng định tính sáng tạo của nhà văn, cái riêng, sự độc đáo của mỗi tác giả trong tác phẩm. Mỗi nhà văn phải có một thế giới nghệ thuật riêng, một “chân trời” riêng, một “biên cương” riêng. Nhà văn có phong cách thì mới được người đọc chấp nhận và yêu mến. Phong cách càng độc đáo thì sức hấp dẫn càng lớn. Nhà văn phải bám sát hiện thực, mỗi tác phẩm phải là một thế giới riêng biệt không lặp lại.

“Nhà văn chân chính nào cũng có một thế giới riêng. Cái thế giới ấy là những hình tượng sáng tạo ra do nhân sinh quan và vũ trụ quan của nhà văn và phản anh nên cái thực tế của thời đại”. Một nhà văn chân chính mà không đem đến một cách nhìn khác đi? Một nhà văn đích thực mà chỉ đem một tiếng nói chung chung vô vùng nhạt nhẽo? Ấy đâu phải nghệ thuật. Nghề văn không hề dễ dàng, để sáng tạo nên tác phẩm tác phẩm hay đó là cả một quá trình lao động đầy gian khó và cực nhọc. Trải mình với đời, ta lắng lòng và chiêm nghiệm với những ngang trái trong bốn bể, ta chắt lọc được những điều quý giá và đẹp đẽ của cuộc đời và con người.

Quá trình sáng tạo nghệ thuật chân chính bao giờ cũng là một quá trình kép: vừa sáng tạo ra thế giới, vừa kiến tạo nên bản thân mình. Tự chính sự trải nghiệm, nhà văn sẽ dần hoàn thiện nhân cách bản thân, nhân văn hơn, tốt đẹp hơn. Nhận định trên đã nêu lên khái quát chung cho quá trình sáng tạo nghệ thuật chân chính. Không chỉ vẽ ra thế giới thu nhỏ của hiện thực cuộc đời mà chính nhà văn còn xây dựng và hoàn thiện bản thân cho cao đẹp.

Như một định luật muôn thuở, văn học phản ánh hiện thực và đã là định luật thì không có một ngoại lệ nào cả. Cuộc đời ẩn chứa biết bao điều bí ẩn mà ta chưa khám phá, những tiếng nói thỏ thẻ mà ta chưa thể lắng nghe và những tiếng khóc than hậm hực cho số phận chưa được đồng cảm. Cuộc đời này chính là chất liệu vô tận, là biển xanh trùng khơi cho người nghệ sĩ khai khác những “hạt bụi vàng” mà góp nên trang. cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” (Tố Hữu). Thoát thai từ hiện thực, văn học sẽ mãi luôn bén rễ vào cuộc đời, hút nguồn nhựa dạt dào chảy trong lòng cuộc sống và trở thành cây xanh tỏa bóng mát lại cho đời.

Là nhà văn, anh phải để ngòi bút thấm đẫm chất mặn mòi của nghiên mực để văn anh cất lên những âm thanh mang hơi thở của hiện thực, vẽ nên bức tranh về đời một cách chân thực và sâu sắc. Thần Ăng-tê chỉ bất khả chiến bại khi chân chạm vào đất. Không một ai địch nổi người trừ khi người bị nhấc ra khỏi mặt đất. Lúc ấy chàng sẽ chết vì không còn nhận được sức mạnh từ Đất Mẹ. Văn học cũng vậy, những tác phẩm sẽ sống nếu được tắm mát và nuôi dưỡng trong mạch sữa tươi mát của cuộc đời. Chế Lan Viên -người đã từng trải nghiệm thấm thía điều này nên trong bài “Sổ tay thơ” thi sĩ đã viết:

“Bài thơ anh, anh làm một nửa thôi
Còn một nửa, để mùa thu làm lấy
Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá
Nó không là anh, nhưng nó là mùa”.

Cuộc sống bao la và kì diệu làm sao! Nó đưa văn học gần gũi với cuộc đời thế nhưng văn học không phải phản ánh hiện thực như những gì nó có. Nhà phê bình người Nga Bêlinxki từng nói: “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó”. Văn học sẽ như thế nào nếu nó chỉ là những con chữ hiện thực nằm thẳng đơ trên trang giấy? Tác phẩm sẽ tồn tại nếu đó chỉ là sự photocopy không hơn không kém? Không, “văn học là sự thật ở đời” (Vũ trọng Phụng) nhưng chỉ được phơi bày qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ. Ngụp lặn giữa biển đời mênh mông, người nghệ sĩ đồng cảm, đau xót bằng tình cảm đã được rung lên bần bật với những số phận những bi kịch.

Và khi vào trang giấy, những con người ấy sẽ hiển hiện qua đôi mắt tư tưởng của nhà văn, thế giới được tái hiện trên tấm thảm tình cảm người nghệ sĩ. Bằng năng lực sáng tạo và độ nhạy bén tinh tế, nhà văn sẽ tạo lập cho mình một thế giới riêng và thế giới ấy là hiện thực được phản chiếu qua ánh sáng tư tưởng của nhà văn. Nói như Hoài Thanh : “Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra ngoài thế giới này, nhưng thế giới này trong con mắt nhà văn phải có một hình sắc riêng”.

Cùng một đề tài về người nông dân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan đã nói về số phận cơ cực của những người nông dân trong cảnh bần cùng hóa, Nam Cao thì đề cập sự tha hóa của con người trước những tác động nghiệt ngã của hoàn cảnh sống còn Thạch Lam âu lo cho tình trạng sống mòn, vô nghĩa, buồn tẻ của những số phận trong xã hội. Sự khai thác khác nhau này sẽ khắc họa chân dung từng nhà văn với đường nét mà ta có thể ghi nhớ bằng những tác phẩm tuyệt bút của họ. Không chỉ vậy, những cái nhìn khác biệt sẽ càng làm cho thi đàn văn học trở nên phong phú và đa dạng hơn và không ngừng làm mới trong chiều kích của thời gian.

Nếu như văn học Nga có Puskin với “Con gái của viên đại úy”, Đôttoiepxki với “Tội ác và trừng phạt”, Mỹ thì có O.Henri với truyện ngắn xuất sắc “Chiếc lá cuối cùng” thì ở Pháp ta có tiểu thuyết vĩ đại “Những người khốn khổ” của Victo Hugo. Đọc tác phẩm ta không chỉ thấy bối cảnh xã hội Pháp trong khoảng 20 năm đầu của thế kỉ 19 mà đó còn là một cuốn bách khoa thư đồ sộ về lịch sử, kiến trúc của Paris, nền chính trị, triết lý, luật pháp, công lý, tín ngưỡng của nước Pháp nửa đầu thế kỷ 19. Chính nhà văn Victor Hugo cũng đã viết cho người biên tập rằng: “Tôi có niềm tin rằng đây sẽ là một trong những tác phẩm đỉnh cao, nếu không nói là tác phẩm lớn nhất, trong sự nghiệp cầm bút của mình”.

Tác phẩm như tấm gương phản chiếu hiện thực lúc bấy giờ mà trong sự phản chiếu ấy bật lên những giá trị nhân văn cao đẹp. Cái đẹp trong tác phẩm được thể hiện đa dạng trên nhiều bình diện khác nhau nhưng chủ yếu nằm ở phẩm chất của con người. Họ là những người lao động khốn khổ, những người có thân phận thấp kém, bị xã hội tư sản phủ nhận, coi rẻ nhưng lại tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp, cao cả. Đó là GiăngVanGiăng – vị thánh vốn là một người tù khổ sai, người sống trọn một đời bao dung và cứu vớt người nghèo; là Phăngtin – “cô gái điếm” có tình mẫu tử sánh tựa Đức Mẹ, người đã bán cả răng, tóc và cả thân xác, bán đi danh dự và nhân phẩm của mình để con mình được hạnh phúc ;Côdét – cô bé lọ lem trong xã hội tư sản. Bị kịch của họ là đói nghèo, khốn khỏ bởi sự vùi dập của xã hội nhưng mỗi người vẫn toát lên vẻ đẹp từ phẩm chất của họ. Tác phẩm như bản tráng ca ca ngợi vẻ đẹp của người lao động, họ vượt qua số phận nghịch cảnh, họ bước ra từ bóng tối và vươn tới ánh sáng. Đại thi hào Vichto Hugo đã trao trọn niềm tin và tình yêu thương của mình dành cho người lao động, ông đã chỉ ra những phẩm chất sáng ngời của họ và ông xứng đáng là nhà nhân đạo chủ nghĩ vĩ đại nhất thế kỉ 19.

Quá trình sáng tạo là một hành trình song song, cuộc đời đã được thể hiện qua cái nhìn của nhà văn chất chưa bao duy tư, trăn trở của một tấm lòng yêu thương con người và chính những ưu tư day dứt về cuộc đời con người ấy nhà văn mới dần trở nên hoàn thiện mình, lấp đầy những thiếu xót và bồi dưỡng cho tâm hồn thêm trong sáng và thuần khiết. Ibsen từng khẳng định “Sáng tác, có nghĩ là tiến hành một cuộc xét xử không giả dối về chính mình”. Sáng tác là đem liên tưởng của mình đến với người đọc. Liên tưởng của người đọc bắt gặp được liên tưởng của nhà văn càng nhanh nhạy, càng sâu sắc bao nhiêu thì hiệu quả tiếp nhận càng cao bấy nhiêu” (Pautovski). Một cuộc xét xử sẽ khiến nhà văn càng thêm đầy đủ trong nhận thức về thế giới và đôi mắt sẽ luôn hướng về con người với bao niềm yêu thương và tin tưởng. Vui biết bao sau tác phẩm không riêng độc giả vươn đến giá trị chân – thiện – mỹ mà nhà văn, người sáng tạo cũng dần hoàn thiện bản thân hơn.

Những trang viết của Nam Cao về người trí thức nghèo trước cách mạng tháng 8 cũng chính là những suy tư, trăn trở của chính con người Nam Cao. Trong đó bi kịch của nhân vật Hộ trong “ Đời thừa” thể hiện rõ nhất những tăn trở, suy tư của ông với tư cách con người và nghệ sĩ. Hộ vấp phải bi kịch đầu tiên đó là bi kịch về những giấc mộng văn chương. Đối với anh, văn chương là trên hết, là khát vọng lớn nhất của anh. Anh muốn viết tác phẩm “lớn lao, mạnh mẽ vừa đau đớn vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương tình bác ái, sự công bình. Nó làm cho người gần người hơn”. Một giấc mơ cao cả và chính đáng, anh có quyền mơ như thế với tư tưởng lớn như vậy.

Thế nhưng đớn đau thay “cơm áo không đùa với khách thơ”. Anh không thể sống ích kỷ cho riêng mình, anh còn có mẹ già và vợ con, anh phải sống có trách nhiệm. Chính những nỗi âu lo về tiền bạc đã níu kéo giấc mộng văn chương của đời trai trẻ. Làm thế nào đây khi mai lại đến hạn nộp tiền? Sống sao khi đàn con thơ chưa ăn được bữa no? Anh phải viết, bắt buộc phải viết thật nhanh và vội để không chết đói. Cái nghèo đói và trách nhiệm gia đình đã đẩy anh vào bi kịch văn chương. Anh không khóc nhưng có lẽ ta có thể thấu những những giọt nước mắt chua xót bất lực của anh. Có người cho rằng anh chính là hình ảnh của Nam Cao thời kỳ trước cách mạng. Không, Nam Cao đã có có thể bị áo cơm ghì chặt nhưng ông vẫn hơn Hộ, ông đã viết nên những áng văn hay nhất về cuộc đời và những kiếp lầm than như Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa…

Nam Cao đã thể hiện tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo trong Đời thừa. Đó là ca ngợi khát vọng đẹp đẽ của Hộ và sự cảm thông sâu sắc với người trí thức nghèo. Phải có những hiểu biết sâu sắc về tâm tư tình cảm con người thì Nam Cao mới viết nên những câu văn lay động lòng người như thế. Nhà văn không “phản ánh để phản ánh” mà sau những câu chữ dường như lãnh đạm ấy lại chính là một tấm lòng sôi nổi, nhiệt thành, một trái tim của tình nghĩa.

Bàn về thiên chứ của người nghệ sĩ, nhà thơ Chế Lan Viên từng viết:

“Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành một mật
Một giọt mật thành, đời vạn chuyến ong bay
Nay rừng nhãn non Đoài, mai vườn cam xứ Bắc
Ngọt mật ở đồng bằng mà hút nhụy tận miền tây.”

Người nghệ sĩ phải hút lấy chất mật ngọt tinh túy nhất của “quặng” cuộc đời, chưng cất những chất liệu hiên thực để tạo nên tác phẩn thật sự có giá trị ở đời. Sáng tạo nghệ thuật là một hành trình lao động miệt mài và thấm đẫm những giọt nước mắt. Để trở thành nhà văn không khó nhưng một nhà văn chân chính lại không hề dễ dàng. Người nghệ sĩ phải sống thật với đời, “cảm” sâu những tiếng nói tình cảm vẫn ngày đêm thổn thức giữa chốn bộn bề, không ngừng sáng tạo và bồi dưỡng tâm hồn mình để tư tưởng tình cảm tốt đẹp có thể lan tỏa muôn nơi. Văn học dẫu cho cùng vẫn là câu chuyện của những trái tim đồng điệu, của những tiếng nói đồng tình, đồng chí, đồng ý vì thế bạn đọc phải nâng cao nhận thức cũng như không ngừng bồi đắp trái tim cho đẹp, cho tốt. Khi ấy văn học đã hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng của mình: hướng con người đến giá trị đích thực Chân – Thiện – Mỹ. Mỗi nhà văn chân chính bước lên văn đàn, về thực chất, là sự cất tiếng bằng nghệ thuật của một giá trị nhân văn nào đó được chưng cất từ những trải nghiệm sâu sắc trong trường đời

Vai trò của nhà văn với đời sống văn học Không có ong mật thì chẳng có mật ong. Và không có hoa thì ong c ũng chẳng thể làm ra mật. Không có nhà văn thì không có tác phẩm, tất nhiên cũng không thể có đời sống văn học. Lại còn phải có hiện thực phong phú tạo nguồn sáng tạo cho nhà văn thì mới có thơ văn. Từ muốn mặn, phù sa, hương sắc cuộc đời… nhà văn sống hết mình với hiện thực phong phú ấy may ra mới có tác phẩm văn học. Viết về mối quan hệ giữa nhà văn và đời sống hiện thực, Chế Lan Viên nói: “Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi, Còn một nửa cho mùa thu làm lấy. Cái xào xạc, hồn anh chính là xào xạc lá Nó không là anh, nhưng nó là mùa…”

Nhà văn phải khám phá và sáng tạo, không theo đuổi người. Không tô hồng cũng không bôi đen hoặc sao chép hiện thực. Nhà văn cũng không được lặp lại mình. “Văn chương quý bất tùy nhân hậu” (Hoàng Đình Kiên đời Tống”. Những nhân tố cần có đối với một nhà văn Một vạn học sinh đỗ tú tài, sau 5, 6 năm học tập ở đại học có thể đào tạo thành những kĩ sư, bác sĩ… nhưng rất ít hoặc không thể đào tạo thành nhà văn. Có một hiện tượng kỳ lạ là trong xã hội ta ngày nay sao mà nhiều “nhà thơ” thế. Thật ra đó là những “thi sĩ – vè”, “thi sĩ – con cóc”,… Lênin từng nói: “Trong lĩnh vực nghệ thuật, không có chỗ đứng cho kẻ trung bình”. Nhà văn phải có năng khiếu, có tài, có cái tâm đẹp, phải có vốn văn hóa rộng rãi (có học). Học vấn thấp hạn chế chẳng khác nào đất ít mầu mỡ, cây kém xanh tươi, hoa trái chẳng ra gì. Nhà văn phải có vốn sống như con ong giữa rừng hoa, phải sống hết mình, phải có một lí tưởng thẩm mĩ cao đẹp: sống và viết vì chủ nghĩa nhân văn, phải có tay nghề cao. Xuân Diệu gọi đó là “bếp núc làm thơ”. – Ngoài ra còn có một điều kiện khách quan ấy là môi trường sáng tác.

Nhà văn phải được sống trong tự do, dân chủ, phải có vật chất tạm đủ (cơm áo không đùa với khách thơ) …  Với nhà văn, kiêng kị nhất là thói kiêu ngạo, xu nịnh bợ đỡ… Vì thế văn chương có ngôi thứ: kẻ làm thơ, nhà thơ, thi nhân, thi s ĩ, thi hào, đại thi hào. Còn có loại “đẽo câu đục vần” được ngồi một chiếu riêng. Loại bồi bút thì bị độc giả khinh bỉ.  Nhà văn phải có năng khiếu, có vốn văn hóa rộng rãi và có tư tưởng nghệ thuật độc đáo. Nói như thế là đúng nhưng chưa đủ. Quá trình sáng tạo

Lao động nghệ thuật của nhà văn là một thứ lạo động đặc biệt. Phải có hứng, nếu không có hoặc chưa có cảm hứng thì chưa thể sáng tác. Mỗi nhà văn có một cách sáng tác riêng. Xuân Diệu làm thơ được “thiết kế” công phu chặt chẽ. Tố Hữu thì “câu thơ trước gọi câu thơ sau”. Hoàng Cầm làm thơ, có thể như có ai đọc chính tả cho chép lại. Ông sáng tác bài: “Lá Diêu Bông” vào quá nửa đêm mùa rét 1959. Khi cả nhà đang ngủ say, ông tỉnh giấc “chợt bên tai vẳng lên một giọng nữ rất nhỏ nhẹ mà rành rọt, đọc chậm rãi, có tiết điệu, nghe như từ thời nào, xa xưa vẳng đến, có lẽ từ tiền kiếp vọng về: “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng…”. Nhà thơ Chế Lan Viên qua đời còn để lại một núi “Phác thảo thơ – di bút”. Đọc hồi kí các nhà văn, nhà thơ danh tiếng, ta ngạc nhiên và vô cùng khâm phục về lao động sáng tạo của họ. Có câu thơ được viết hàng tháng. Có bài thơ hình thành nhiều năm. Có cuốn tiểu thuyết được sáng tác trong 1/10, 1/5 thế kỷ. Để có những “thiên cổ hùng văn”, “thiên cổ kì bút”, “Sách gối đầu giường cho thiên hạ” phải là những bậc thiên tài mới sáng tạo nên.

Đối với nhà văn khi sáng tạo không lặp lại mình không lặp lại người khác. Phải có cách nhìn, khám phá, phong cách độc đáo. Đối với người đọc, hãy xem tác phẩm viết gì, viết như thế nào. Đối với lịch sử văn học, thực chất đóng góp của nhà văn thể hiện cách nhìn, sự mới mẻ. Văn chương không có gì riêng sẽ không là gì cả hoặc Mác -xen Pruxt cho rằng: “Một cuộc thám hiểm thực sự không phải ở chỗ cần một vùng đất mới mà cần một đôi mắt mới”.

Yêu văn học ta càng yêu kính và biết ơn nhà văn, nhà thơ. Tác phẩm của họ đã làm tâm hồn ta thêm giàu có. Văn chương là cái đẹp muôn đời. Văn chương, văn hiến, văn hóa là niềm tự hào của mỗi quốc gia.

  • Kết bài:

Văn chương muôn đời là mảnh đất bí ẩn cần được khai thác. Chắt chiu từng những hạt bụt vàng giữa cuộc đời để đúc nên “bông hồng vàng”, nhà văn thực sự đem lại hạnh phúc cho cuộc sống và chính mình. “Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế, văn chương lại còn sáng tạo ra sự sống. Vũ trụ nầy tầm thường chật hẹp không đủ thỏa mãn mối tình cảm dồi dào của nhà văn. Nhà văn sẽ sáng tạo ra những thế giới khác“. (Hoài Thanh). Tác phẩm văn học dù cho viết về cái xấu hay cái tốt,lương thiện hay tàn ác nhưng một khi đã bắt rễ vào hiện thực và chất chứa những giá trị nhân văn to lớn thì mãi mãi văn học sẽ sống và bầu bạn với con người dẫu “mọi lý thuyết là màu xám, chỉ cầy đời mãi mãi xanh tươi” (Gớt).


Bài tham khảo:

“Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra ngoài thế giới này nhưng thế giới trong con mắt nhà văn phải có một hình sắc riêng.” (Hoài Thanh)

Nhận định trên có phù hợp để đánh giá về quá trình sáng tác thơ? Bằng hiểu biết cua anh/chị về bài thơ “Vội vàng” hãy trả lời câu hỏi trên.

  • Mở bài:

Văn học phải chăng cũng tựa bản nhạc mà nhạc sĩ Eđua Grigơ viết tặng nàng Đanhi – điệu nhạc du dương rạo rực, phập phồng hơi thở cuộc đời, như tiếng tù và vang vọng cánh rừng thông, tiếng gió reo ca trong những dây buồm… nơi thành phố Bécghen, quê hương nàng. Văn học là cuộc sống, là kết tinh muối mặn cuộc đời. Vậy phải chăng công việc của nhà văn nhất thiết chỉ cần đơn thuần dựa trên sự quan sát chính xác, không cần đến sáng tạo, tưởng tượng? Cũng như nhiều nhà văn khác, Maupassant hoàn toàn bác bỏ ý kiến trên. Ông không cho phép ai phủ nhận sự sáng tạo bởi nó mang đến sự phồn vinh của ý sáng tác, là đất đai mang vàng bạc đến cho thơ văn. Nói theo Hoài Thanh thì: “Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra ngoài thế giới này nhưng thé giới trong con mắt nhà văn phải có một hình sắc riêng.”

  • Thân bài:

Tác phẩm không phản ánh những điều mông lung xa vời và nhà văn cũng “không có phép thần thông để vượt ra ngoài thế giới này”.Đã trở thành một qui luật chung, bất di bất dịch, văn chương của anh sẽ mãi tươi màu, neo chặt trong bến tâm hồn người thưởng thức chỉ khi anh – nhà văn chấm ngòi bút của mình vào nghiên mực cuộc sống. Cuộc sống chính là mạch sữa ngọt ngào tuôn chảy không ngừng từ thế hệ này sang thế hệ khác để nuôi dưỡng văn học. Song nghệ thuật cũng là hoạt động của trí tưởng tượng bất kham và sự sáng tạo là “thâm cung linh thánh” của văn học. Vì vậy trong quá trình sáng văn học nói chung và sáng tác thơ ca nói riêng, người cầm bút không chỉ mang trách nhiệm “người thư kí trung thành của thời đại” mà còn phải “sáng tạo những gì chưa có”.

Cuộc sống là nơi cung cấp chất liệu cho thơ, thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống nên thơ bao giờ cũng chứa đựng bóng hình cuộc sống, bóng hình con người. Thơ ca là nơi con người gửi gắm tâm tình, ước mơ, khát vọng, những băn khoăn, rạo rực, ưu tư. Thơ không thể tách khỏi cuộc đời. Cuộc đời ban truyền nguồn nhựa sống mãnh liệt cho thơ và thơ nở hoa làm đẹp cuộc đời, cống hiến cho con người những phút giây tuyệt vời lắng đọng nhiều nỗi suy tư. Thơ ca là cuộc đời nhưng thơ ca không phải là trang giấy in nguyên ven bóng hình của cuộc đời rộng lớn. Cuộc đời vốn bao la, vô tận, như một bức tranh với ba chiều không gian trải rộng đến vô cùng. Nhà thơ như những chú ong cần mẫn bay lượn trong khu vườn ấy, hút lấy chất mật tinh túy nhất, ngọt ngào nhất để tạo nên những vần thơ thật sự có giá trị.

Hiện thực trong thơ là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan đã được khúc xạ qua lăng kính thi sĩ. Sự sáng tạo ở đây thể hiện qua góc nhìn mới mẻ, độc đáo và những phát hiện riêng của người cầm bút trong quá trình khám phá hiện thực cuộc sống. Nó cũng là kết quả của trí tưởng tượng nhằm tạo ra thế giới của ước mơ, lí tưởng, vươn lên trên hiện thực khách quan để phá vỡ các giới hạn của sự tồn tại.

Cùng bắt nguồn từ mảnh đất hiện thực nên nếu nhà văn không tìm tói, khám phá, sáng tạo, không có một điểm nhìn mới, một “hình sắc riêng” thì trang viết của anh cũng sẽ trở thành một món hàng sản xuất hàng loạt, thơ sẽ chỉ còn là sự nhai lại nhàm chán. Sự sáng tạo của thi nhân đã làm thơ vừa quen vừa lạ, vừa là cuộc sống vừa là xứ sở của lí tưởng và ước mơ.

Sứ mệnh cao cả của thi ca là trở thành “thứ vũ khí thanh cao mà đắc lực” (Thạch Lam) để chống lại cái xấu xa, giả dối. Vì vậy, ánh sáng lan tỏa và âm thanh lan truyền là điều mà mỗi tác phẩm phải có. Muốn tác động đến tâm trí người đọc, tác phẩm phải có một sức ám ảnh lớn, chiều sâu tư tưởng mạnh mẽ đối với nhận thức con người. Nếu thơ ca chỉ là sự rập khuôn, đơn điệu nhàm chán, chỉ là những điều bình thường, vụn vặt, tác phẩm sẽ trôi tuột khỏi tâm trí người đọc ngay khi cuốn sách khép lại.

Sức sống của tác phẩm và yếu tố làm nên phong cách tác giả – dấu hiệu quyết định tên tuổi nhà thơ, được tạo nên bởi yếu tổ sáng tạo trong thi ca. Văn học nói chung cũng như thơ nói riêng phải là hoạt động sáng tạo mang tính cá thể, không lặp lại người khác và lặp lại chính mình. Đó cũng là qui luật đào thải khắc nghiệt của văn chương: người không sáng tạo sẽ bị quên lãng. Điều này đòi hỏi người cầm bút phải có những điểm đặc biệt không bị lẫn với người khác, một “hình sắc riêng”, phải có thứ “vân tay nghệ thuật” in dấu trong lòng người đọc.

Thơ ca bao giờ cũng là dấu ấn sáng tạo của người cầm bút, thể hiện bản ngã, cái tôi. Thế nhưng, cái tôi trong thơ trung đại hầu hết hòa trong cái ta chung. Thơ ca trung đại đề cao tính vô ngã. Phải đến thơ mới, cái tôi mới được nhận thức và thể hiện như là trung tâm của thơ ca. Có thể nói, thơ ca hướng vào thể hiện cái tôi chính là con đường đưa thơ trở về với bản ngã của chính nó. Với tư cách là chủ thể nhận thức, cái tôi cùng hệ thống quan niệm thẩm mĩ mới mang dấu ấn của những tìm kiếm mới, sáng tạo mới, phong cách mới mà văn học mấy thế kỷ qua chưa đạt tới được. Cái tôi ấy không chỉ bó hẹp thơ ca trong mục đích tải đạo, nói chí, giáo huấn mà là chủ thể sáng tạo mang cá tính riêng, phong cách riêng với nhu cầu tự khẳng định mình. Cái tôi cũng là đối tượng phản ánh của thi ca với tất cả sự phong phú, hấp dẫn, phức tạp của nó. Với nhu cầu khẳng định cái tôi cá nhân, cá thể, các nhà thơ mới đã “đồng loạt cất lên bản hòa tấu tuyệt đẹp với những âm thanh mới lạ, tân kỳ chưa từng có trước đó” (GS. Hồ Thế Hà). Trong bản giao hưởng ấy, những vần thơ Xuân Diệu cất lên đầy sôi nổi, hăm hở của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt.

Có lẽ “Vội vàng” là tác phẩm bộc lộ đầy đủ nhất thế giới mang đậm thần thái, “hình sắc riêng” Xuân Diệu. Đó là thế giới đầy hương sắc của thiên nhiên với bao của ngon vật lạ kích thích mọi giác quan làm người ta say đắm. Nó là cái đẹp bát ngát mơn mởn của “đồng nội xanh rì”, sự non tơ tươi mới của “cành tơ phơ phất”, niềm hạnh phúc, yên bình mỗi sớm mai “thần vui hằng gõ cửa” chờ đón. Được cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muôn nên thiên nhiên cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình, mơn mởn, quyến rũ như một người tình kiềm diễm, tình tứ, rạo rực, trinh nguyên:

“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

Tháng giêng là sự khởi đầu mơn mởn của một năm, là hình ảnh biểu tượng cho khoảnh khắc tươi đẹp, khoảnh khắc hiện hữu của mùa xuân cuộc đời và của tuổi trẻ trên dòng chảy thời gian. Có lẽ trước Xuân Diệu, trong thơ Việt Nam chưa có cảm giác “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Nó là cảm giác của ái ân tình tự. Một hình dung rất trừu tượng là “tháng giêng” nhưng được cảm nhận cụ thể, gây ấn tượng mạnh qua từ “ngon”, phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác tài tình, mới lạ, táo bạo. Cảm nhận bằng vị giác lại hòa quyện trong những rung động của thị giác. Từ những rung động của một hồn thơ yêu đời, yêu sống đó đã làm cho người ta thấy tháng giêng mơn mởn, tơ non, tràn đầy sức sống thanh tân. Tháng giêng mang trong nó một sức quyến rũ không thể cưỡng được, như một “cặp môi gần” tươi hồng, chín mọng của thiếu nữ hé mở, chờ đợi, sẵn sàng hiến dâng.

Lần đầu tiên, bằng đôi mắt xanh non biếc rờn, cái tôi thơ mới cảm nhận toàn bộ thanh sắc của cuộc sống mang đậm màu sắc cá nhân. Song thơ mới cất tiếng khóc chào đời trong hoàn canh u buồn, đau đớn của một thế hệ mất nước nên mỗi nhà thơ trốn vào những “thiên đường” riêng, thoát li cuộc sống chán chường đương thời. Hoặc thả hồn mình trên chốn bồng lai tiên cảnh như Thế Lữ hãy quay về khóc than cho quá khứ vàng son dĩ vãng như Vũ Đình Liên hay tìm lãng quên trong những cơn say bất tận tựa Vũ Hoàng Chương, mỗi nẻo đường ấy mang nhiều màu sắc phức tạp khác nhau. “Lầu thơ” của Xuân Diệu cũng mang một “hình sắc riêng”. Nó được xây dựng trên đất của “một tấm lòng trần gian”, của một tình yêu say mê, cuồng nhiệt với cuộc sống. Vì vậy thiên đường trong thơ ông không đâu xa. Thiên đường ấy có ở ngay mùa xuân quanh mình, đang bày ra trước mắt mà địa chỉ là cõi trần. Nhà thơ tựa say sưa cùng tận với hơi men mùa xuân, hơi men cuộc sống, cái khát khao, hạnh phúc tuyệt đích khi được “uống hàm hồ dòng suối mặt trời” , “cắn hàm hồ vào trái tim của mùa xuân”.

Vẻ đẹp của đất trời đầy sức sống và rạo rực tuyệt bích là thế nhưng chỉ “ngon” nhất ở độ xuân còn con người cũng chỉ hưởng thụ được cái “ngon” kia khi còn trẻ mà thôi. Cả hai đều vô cùng ngắn ngủi, thời gian sẽ cướp đi hết thảy. Không như con người trung đại yên trí với quan niệm thời gian tuần hoàn “xuân khứ, xuân lai, xuân bất tận”, với cái chu kì bốn mùa cũng như cái chu kì ba vạn sáu nghìn ngày của kiếp người, thời gian trong quan niệm của Xuân Diệu mang đến tất cả và lấy đi tất cả. Trong hiện tại “đương tới” đã có màu li biệt “đương qua”, trong sự sống bắt đầu “còn non” đã ẩn chứa hạt mầm của sự tàn phai “đã già”. Chẳng thế mà thi sĩ cảm thấy thật hiển hiện mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại, “rớm vị chia phôi” để trở thành quá khứ thật sự là một cuộc ra đi vĩnh viễn. Trên mỗi thời khắc đều có một cuộc ra đi như thế, thời gian đang chia tay với con người, chia tay với không gian và với cả chính thời gian. Một sự tàn phai không thể nào tránh khỏi. Thế nên, chỉ có thể “vội vàng” mà sống, chạy đua với thời gian, tranh thủ sống:

“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây và cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi hương
Cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

Bài thơ kết thúc bằng những cảm xúc mãnh liệt, bằng những ham muốn mỗi lúc một cuồng nhiệt, vô vập. Ta như có thể nghe thấy giọng nói, nghe thấy cả nhịp đập của con tim thi sĩ. Nó hiện ra trong những làn sóng ngôn từ đan chéo nhau, giao thoa nhau của các tính từ chỉ xuân sắc, những động từ chi trạng thái đắm say, những danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân tươi trẻ, như những đợt sóng vỗ mãi vào tâm hồn người đọc. Cái “tôi” chật hẹp đã chuyển thành đại từ “ta” rộng lớn, sánh ngang với vũ trụ. Câu thơ “Ta muốn ôm” ngắn ngọn lại được đặt ở vị trí đặc biệt: chính giữa dòng thơ là hoàn toàn có dụng ý. Xuân Diệu muốn tạo ra hình ảnh một cái tôi đầy tham lam đang đứng giữa trần gian dang rộng vòng tay, nới rộng tầm tay để ôm cho hết, chi khắp, gom cho nhiều nữa mọi cảnh sắc mơn mởn, trinh nguyên của trần thế này vào, “cho chếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng”, “cho no nê thanh sắc của thời tươi”.

Nếu mở đầu bài thơ thi nhân muốn “tắt nắng”, “buộc gió”, lưu giữ tất cả những “tuần tháng mật”, “khúc tình si” trong lo âu dự cảm thì giờ đây nhà thơ hoàn toàn tự do tràn ngập trong hương thơm và ánh sáng. Lối sống “vội vàng” đã giúp con người vượt thoát khỏi tính hữu hạn của thời gian để mỗi khoảnh khắc sống trọn vẹn đều là vĩnh viễn. Khổ thơ như ly rượu tràn đầy và ngây ngất của cuộc sống mà chưng cất nên chất “rượu của thế gian” đắm say ấy là cái đắm say tận cùng của tình yêu trong “một cái hôn nhiều” và cái bồng bột của, hăm hở của tuổi trẻ trong ước muốn “cắn” “xuân hồng”, “cắn” cái vẻ đẹp căng mọng tròn đầy của cuộc sống như một con ong hút nhụy đã thỏa mãn, đã “no nê thanh sắc của thời tươi” đang lảo đảo bay đi. Sống là hạnh phúc và “vội vàng” là cách duy nhất để đến với hạnh phúc, là hạnh phúc cũng là cái giá phải trả cho hạnh phúc.

“Vội vàng” là thế giới mang đậm “hình sắc riêng” của “chất Xuân Diệu”. Nó là một dòng cảm xúc dào dạt, bồng bột có lúc thực sự là một cơn lũ cảm xúc, cuốn theo bao nhiêu hình ảnh thi ca như gấm như thêu của cảnh sắc trần gian. Nhưng nó cũng là một bản tuyên ngôn bằng thơ, trình bày cả một quan niệm nhân sinh về lẽ sống vội vàng. Đó là cách sống cuồng nhiệt, sống hết mình, sống thực sự có ý nghĩa với mỗi giây phút cuộc đời. Nó không phải là lối sống hưởng thụ, gấp gáp, bất cần. Quan niệm sống vội vàng của Xuân Diệu thể hiện khát khao sống mạnh mẽ, có bản sắc riêng. Con người bằng tài năng và nhiệt huyết sẽ thắp lên ngọn lửa chói lọi của đời mình, thi sĩ bằng thi ca sẽ chiến thắng cái chết và hư vô.

Thi ca là quá trình phản ánh và sáng tạo đời sống. Thơ là hoa thơm của cuộc đời nhưng nếu chỉ được kiến tạo từ trí tưởng tượng và cái tôi bé nhỏ thì nó chỉ là “những bông hoa làm bằng vỏ bào nhuộm khéo, một thứ vàng mạ.” (Pautovsky). Trong thơ văn, sự sáng tạo thi vị hóa sự phản ánh để nó trở nên mới mẻ, thu hút, giàu sức sống cũng như sự phản ánh giúp cho sự sáng tạo không chệch hướng, không trở thành những điều vô nghĩa. Nhà thơ phải là “người thư kí trung thành của thời đại” (Balzac) nhưng đồng thời dấu ấn chủ quan của anh phải được khẳng định. Vì vậy với tư cách là một chỉnh thể thẩm mĩ, mỗi bài thơ phải là sự kết hợp hài hòa giữa tính khách quan của chất liệu hiện thực và tính chủ quan của quá trình sáng tạo.

  • Kết bài:

“Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra ngoài thế giới này” (Hoài Thanh) bởi văn học là kết tinh muối mặn cuộc đời, góp nên trang là “những chữ của đời” (Chế Lan Viên). “Nhưng thế giới trong con mắt nhà văn phải có một hình sắc riêng.” vì sự sáng tạo là đất đai mang vàng bạc đến cho thơ văn, vì văn học là quá trình phản ánh và sáng tạo đời sống, vì mỗi trang viết in dấu hiện thực cũng đồng thời in dấu “vân tay nghệ thuật” riêng biệt, độc đáo và duy nhất của nhà văn

Bài viết cùng chủ đề:

Đánh giá bài viết:

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị tiết lộ.