Nghị luận: Phải chăng, tiếng nói tri âm là khát vọng muôn đời của văn chương xưa nay?

phai-chang-tieng-noi-tri-am-la-khat-vong-muon-doi-cua-van-chuong-xua-nay

Phải chăng, tiếng nói tri âm là khát vọng muôn đời của văn chương xưa nay?

* Hướng dẫn làm bài:

Tri âm được hiểu là sự đồng điệu, thấu cảm. “Xưa nay nỗi khổ của người ta không gì bằng chữ tình, mà cái khó ở đời không gì bằng sự gặp gỡ.”( Hoa tiên truyện tự – Cao Bá Quát).

Sự tri âm giữa người đọc và người viết trước hết được bắt nguồn từ quy luật của sáng tạo nghệ thuật. Người nghệ sĩ cầm bút là để giải bày lòng mình. Nhà thơ mang tiếng nói điệu đồng đi tìm những tâm hồn đồng điệu. Nhà văn viết tác phẩm như ban phát phấn thông vàng đi khắp nơi, mong có ngươi theo phấn tìm về. Cho nên bạn đọc là một mắt xích không thể thiếu trong chu trình sáng tác – tiếp nhận tác phẩm. Bạn đọc cũng có suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc, có niềm vui và nỗi buồn, có cảnh ngộ và tâm trạng, nhiều khi bắt gặp sự đồng điệu với nhà văn, nhà thơ. Khi hai luồng sóng tâm tình ấy giao hoà thì tác phẩm sẽ rực sáng lên, trở thành nhịp cầu nối liền tâm hồn với tâm hồn, trái tim với trái tim. Phải chăng vì thế Lưu Quý Kì viết : “nhà thơ gói tâm tình của mình trong thơ. Người đọc mở ra bỗng thấy tâm tình của chính mình”.

Xét về đối tượng phản ánh của văn học: Những cuộc đời bi kịch, đau thương, những số phận ngang trái thường dễ khơi gợi cảm xúc đồng cảm xót thương của con người, nhất là những người nghệ sĩ ( quy luật của cuộc sống: con người nhạy cảm, quan tâm nhiều hơn trước nỗi buồn hơn là niềm vui, trước bất hạnh hơn là hạnh phúc, trước mất mát, thiệt thòi hơn là được, may mắn). Tiểu Thanh, Nguyễn Du, Lorca đã đi vào trong thơ của Nguyễn Du, Tố Hữu, Thanh Thảo bởi họ có chung số phận ấy.

Tri âm còn là tìm đến cái đẹp để ngưỡng mộ, ngợi ca. Bản thân cái đẹp có sức chinh phục lớn lao với những người nghệ sĩ. Cái đẹp có từ trong cuộc đời nhân cách của con người, cái đẹp còn có trong giá trị của tác phẩm nghệ thuật. Trong cảm xúc của các nhà thơ sự cảm thông, xót thương phải đi liền với sự ngợi ca, ngưỡng mộ, tôn vinh. Qua các tác phẩm thơ chúng ta thấy Nguyễn Du, Tố Hữu, Thanh Thảo luôn muốn lưu giữ lại với muôn đời những vẻ đẹp mà đối tượng tri âm của họ sở hữu – Trên cơ sở lí luận tiếp nhận văn học:

Khi nhà văn kết thúc trang viết cuối cùng của tác phẩm, thì lúc đó tác phẩm mới bắt đầu vòng đời của nó. Nói các khác quá trình hoạt động của tác phẩm không phải là một chu trình đóng kín, mà nó mở ra về phía đời sống. Và đối với những tác phẩm lớn thì cuộc đời của nó luôn luôn ẩn chứa những khả năng mới sẽ bộc lộ khi nó viễn du qua không gian và thời gian. Và khi đó sức sống của tác phẩm văn chương sẽ được bất tử hoá trong sợi dây tri âm linh diệu giữa tác giả và bạn đọc. Phải chăng vì vậy, M.Gorki đã viết: người tạo nên tác phẩm là tác giả nhưng người quyết định số phận của tác phẩm lại là độc giả.

Tác phẩm văn chương chỉ sống được trong tấc lòng của những người tri kỉ – là bạn đọc nhưng không phải bạn đọc nào cũng hiểu được tác phẩm và thông điệp của tác giả. Tiếp nhận văn học phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tâm lý và tâm thế tiếp nhận, môi trường văn hoá mà người đọc đang sống, đang tiếp thu, …. Chuyện khen hay chê trong văn chương là điều dễ thấy. Cho nên, ở bất kỳ thời đại nào, bất cứ nền văn học dân tộc nào cũng đều rất cần tiếng nói tri âm của bạn đọc dành cho tác giả. Nghĩa là bạn đọc ấy phải cảm thông, sẻ chia với những nỗi niềm tâm sự , nghĩ suy của người viết gửi gắm vào tác phẩm.

Thực tiễn văn học: Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân Nguyễn Đăng Tuyển từng có lời bình Truyện Kiều như sau: “Thuý Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như tử làm Truyện Thuý Kiều, việc tuy có khác nhau mà lòng thì là một, người đời sau thương người đời nay, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình thật là một cái thông luỵ của bọn tài tử khắp trong gầm trời và suốt cả xưa nay vậy”. Chính bởi ý nghĩa đặc biệt của tiếng nói tri âm trong văn chương mà biết bao nhà thơ, nhà văn đã sáng tác những tác phẩm mà đối tượng lại chính là các nhà văn, nhà thơ. Bằng Việt viết về Pauxtôpxki, Ximônôp sung sướng khi tìm được tri âm là Tố Hữu : “Ở đây tôi thấy thơ tôi, Sống trong bản dịch tuyệt vời của anh”, hay Thanh Thảo đã viết về Lorca bằng những vần thơ với nỗi đau “bốc cháy như mặt trời”. Trường hợp của Nguyễn Du và Tố Hữu trong hai bài thơ Độc Tiểu Thanh kí và Kính gửi cụ Nguyễn Du cũng không nằm ngoài mạch nguồn cảm hứng giàu giá trị nhân văn ấy .

Hơn ai hết trong nền văn học Việt Nam, Nguyễn Du là người khổ vì chữ tình và khát khao sự gặp gỡ đến khắc khoải. Thi hào là một con người suốt đời đi tìm tri kỉ giữa cõi đời đen bạc. Chắc hẳn đại thi hào sẽ ngậm cười chín suối vì cả cuộc đời nay hiểu Nguyễn Du, vì có biết bao người như Huy Cận, Tế Hanh, Chế Lan Viên, …và đặc biệt là Tố Hữu đã làm thơ giãi bày, giải toả hộ người những uất hận kia. Bài thơ Kính gửi cụ Nguyễn Du ra đời như bắt nhịp cầu tri âm đến những tâm sự của Tố Như trong Độc Tiểu Thanh kí, đồng thời cũng khẳng định ý nghĩa đặc biệt của tiếng nói tri âm trong văn chương.

Trước hết, Độc Tiểu Thanh kí là tiếng nói tri âm của một cá nhân dành cho một cá nhân, một lòng đau đi tìm một hồn đau, cất lên trong một không gian đa chiều của tiếng khóc – tiếng khóc là biểu tượng cho sự đồng cảm sâu sắc giữa hai con người khác thời đại và dân tộc. Có một khoảng không gian và thời gian diệu vợi, hun hút, ngăn cách hai người nhưng chính văn chương đã xoá nhòa biên giới địa lí, biên giới lịch sử để họ tìm đến với nhau. Khóc cho Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã khóc cho người, khóc cho một thiên tài kì nữ. Nguyễn Du coi mình là người cùng hội cùng thuyền với người xưa, khóc cho Tiểu Thanh để rồi khóc cho chính mình.

Bài Độc Tiểu Thanh kí của Tố Như viết theo thể đường luật cô đúc, hàm súc nhưng phảng phất giọng điệu bi phẫn do rất nhiều thanh trắc, gợi cảm giác trĩu nặng, ngưng đọng. Nếu “Độc Tiểu Thanh kí” là tiếng nói tri âm của một cá nhân dành cho một cá nhân, sự đồng cảm sâu sắc giữa hai người khác thời đại và dân tộc, thì “Kính gửi cụ Nguyễn Du” là tiếng lòng tri âm của những con người cùng nguồn cội, cùng dân tộc. Hai trăm năm sau Nguyễn Du , Tố Hữu đứng trên đỉnh cao của thời đại, của dân tộc hướng về quá khứ cha ông với niềm xót xa, thương cảm. Biết bao nhà thơ khác đồng cảm với Nguyễn Du nhưng ở Tố Hữu, sự đồng cảm ấy thật sâu sắc, mênh mông.

Nếu như Nguyễn Du chủ yếu tri âm với cuộc đời Tiểu Thanh thì Tố Hữu còn tri âm với cả thế giới nhân vật của tác phẩm Nguyễn Du. Tố Hữu không chỉ thương Nguyễn Du mà còn thương nhân vật mà Nguyễn Du thương. Không chỉ hiểu bi kịch của Nguyễn Du, Tố Hữu còn chia sẻ, cảm thông với bi kịch tình đời của thi hào. Tố Hữu không chỉ tri âm với tư cách là một người nghệ sĩ với một người nghệ sĩ mà còn tri âm trên tinh thần trân trọng truyền thống, di sản của cha ông. Hiện thực thời đại mới cho phép tác giả đánh giá đầy đủ, sâu rộng và chính xác hơn sự nghiệp sáng tác của một thiên tài. Như vậy, vấn đề tri âm còn là vấn đề thời đại với thời đại, lịch sử với lịch sử.

Tấm lòng tri âm của Tố Hữu với Nguyễn Du không chỉ là sự đồng cảm, sẻ chia mà còn là sự trân trọng, biết ơn, lòng cảm phục, ca ngợi. (“Tiếng thơ ai động đất trời … Tiếng thương như tiếng mẹ ru tháng ngày”). Tố Hữu đánh giá rất cao giá trị sáng tác Nguyễn Du, đặc biệt nhà thơ đã khẳng định sự trường tồn bất diệt của tác phẩm “Truyện Kiều” trong lịch sử văn học dân tộc.

Không chỉ thấu hiểu, sẽ chia với cuộc đời, ngợi ca thơ Nguyễn Du, Tố Hữu còn tìm cách lý giải nỗi đau của Nguyễn Du. Ông cho rằng nỗi đau ấy không phải do trời mà chính là do xã hội vạn ác thời nguyễn Du gây nên. Tố Hữu sử dụng thành công thể lục bát nhẹ nhàng, đằm thắm, trang trọng; hình thức tập Kiều, lẩy Kiều để chuyển tải giọng điệu lạc quan, hào hứng say mê.

Với bài thơ Tiếng đàn ghi ta của Lorca, nhà thơ Thanh Thảo đã thể hiện tấm lòng tri ân, sự ngưỡng mộ sâu sắc đối với người nghệ sĩ Lorca. Thanh Thảo từng tâm sự rằng, ông rất ngưỡng mộ Lorca, rằng cuộc đời và sáng tác của người nghệ sĩ tài năng này đã gây cho ông nhiều xúc cảm và ấn tượng.

Thanh Thảo tri âm sâu sắc với nguyện ước của Lor-ca: “khi tôi chết hãy chon tôi với cây đàn. Khát vọng đó thể hiện một tình yêu Tổ quốc nồng nàn và cũng là tình yêu nghệ thuật say đắm của Lor-ca. Thanh Thảo đã thấu hiểu và ngưỡng vọng sâu sắc chân dung và bản lĩnh người – thơ của Lor-ca. Một chiến sĩ yêu tự do và cái đẹp. Một nghệ sĩ du ca lãng tử, hào hoa có tâm hồn phóng khoáng, khao khát cách tân nghệ thuật, khao khát chế độ dân chủ song Lor ca rất cô đơn. Thanh Thảo bày tỏ nỗi bi phẫn trước cái chết oan khuất của Lor ca. Dưới bút thơ tài hoa của ông, tiếng đàn ghita đã vỡ ra thành hình, thành sắc để phục sinh cái chết oan khuất của người nghệ sĩ thiên tài .

Với tấc lòng xót thương và suy tư về cuộc giã từ của Lor-ca, Thanh Thảo khẳng đinh: Lor-ca là một tâm hồn bất diệt, một nghệ sĩ chân chính. Nhân cách và tài năng nghệ thuật của ông sẽ sống mãi với muôn đời. Nhà thơ cũng gửi tới người đọc một thông điệp đầy tiến bộ: cái đẹp của nhân cách con người, cái đẹp của sự sáng tạo nghệ thuật chân chính sẽ có sức sống bất diệt. Đây cũng là con đường mà Thanh Thảo hằng theo đuổi.

Với thơ tự do mang phong cách tượng trưng – siêu thực, sáng tạo hình ảnh thơ theo lối lạ hoá, tài hoa, xoá bỏ những liên từ trong thơ, bài thơ không dấu câu, khụng viết hoa đầu mỗi dòng thơ tạo nên cấu trú ngữ pháp độc đáo, nhịp bất thường, những từ mô phỏng âm thanh của các nốt ghi-ta ( li-la) được ―cấy vào bài thơ một cách tự nhiên… tất cả làm nên một kiệt tác.

Nhà văn sáng tạo không chỉ vì độc giả của hiện tại mà nhà văn thiên tài còn phải đáp ứng được những yêu cầu của mọi thời đại, mọi thế hệ. Nhà văn muốn tạo ra sự đồng cảm, tri âm với độc giả thì tác phầm của họ phải nói được những vấn đề bức xúc của thời đại, con người, những vấn đề mang tầm phổ quát; để rồi qua tác phẩm, người đọc không chỉ hiểu tác phẩm, hiểu nhà văn, mà còn hiểu thời đại nhà văn đang sống. Rộng hơn, độc giả còn so sánh được thời đại nhà văn sống và thời đại hiện tại của chính mình. Thời đại nào cũng thế, những khao khát tri âm luôn là mong ước cháy bỏng, mãnh liệt của con người.

Muốn vậy, nhà văn cần phải có một cái Tài, cái Tâm cao cả. Người nghệ sĩ luôn cần một tấm lòng sống và yêu hết mình với cuộc đời, con người. Và người đọc hãy sống hết mình với tác phẩm để hiểu được thông điệp thẩm mĩ của tác giả, để chia sẻ, cảm thông với tác giả và trở thành người đồng sáng tạ với nhà thơ, nhà văn.

Trong văn học nghệ thuật, tìm được kẻ tri âm không phải là dễ. Liệu Bá Nha có được mấy Chung Tử Kì? Thánh thơ Đỗ Phủ mà cũng phải trăn trở: “Bác niên ca tự khổ – Vị kiến hữu tri âm” (Cả đời nói lên nỗi khổ của mình – Chưa từng thấy tri âm). Như vậy tiếng nói tri âm giữa người đọc và người viết là điều văn học dân tộc nào, thời đại nào cũng hướng tới. Chẳng vậy mà nhà văn Bùi Hiển cho rằng : Ở nước nào cũng thế thôi, sự cảm thông sẻ chia giữa người đọc và người viết là trên hết.

Bài viết liên quan:

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.