Qua mối quan hệ Bá Kiến – CHÍ PHÈO – Thị Nở, hãy làm sáng tỏ ý kiến: “Nhà văn tồn tại ở trên đời trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường tuyệt lộ bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường; để bênh vực cho những người không còn ai bênh vực”.

qua-moi-quan-he-ba-kien-chi-pheo-thi-no-hay-lam-sang-to-y-kien-nha-van-ton-tai-o-tren-doi-truoc-het-de-lam-cong-viec-giong-nhu-ke-nang-giac-cho-nhung-nguoi-cung-duong-tu

Qua mối quan hệ Bá Kiến – CHÍ PHÈO – Thị Nở, hãy làm sáng tỏ ý kiến: “Nhà văn tồn tại ở trên đời trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường tuyệt lộ bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường; để bênh vực cho những người không còn ai bênh vực”. (Nguyễn Minh Châu)

* Hướng dẫn làm bài:

1. Giải thích nhận đinh:

– Trước hết: điều kiện cần thiết nhất, quan trọng nhất

– Những người cùng đường tuyệt lộ bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường: Những con người, những thân phận đau khổ, bế tắc, tuyệt vọng….

– Nâng giấc: cảm thông, chia sẻ, an ủi, bênh vực…

→ Nhà văn là người an ủi, động viên, chia sẻ, nâng đỡ con người, đặc biệt là những con người đau khổ. Đồng thời nhà văn phải biết bênh vực, đấu tranh chống cái xấu, cái ác để bảo vệ quyền sống, nhân phẩm của con người, nhất là những con người không còn được ai che chở.

2. Khẳng định ý kiến:

– Xuất phát từ mục đích của sáng tạo nghệ thuật, từ thiên chức của người nghệ sĩ: Nhà văn chân chính là người đến với văn chương từ những điều trông thấy đau đớn lòng về cuộc đời.

– Xuất phát từ đặc trưng của văn học: Văn học học phản ánh cuộc sống bao giờcũng gắn với việc thể hiện tư tưởng, tình cảm, khát vọng của nhà văn về một thế giới tốt đẹp hơn.

– Xuất phát từ vai trò, chức năng của văn học đối với con người; tác phẩm văn học đích thực bao giờ cũng đồng hành với con người trong cuộc sống; văn chương có thể chia sẻ những mất mát, đau thương, những ngọt ngàovới con người, giúp con người sống nhân ái, mạnh mẽ hơn.

3. Phân tích, chứng minh:

– Ý nghĩa của việc xây dựng mối quan hệ giữa nhật vật CHÍ PHÈO và những nhân vật khác: Mỗi nhân vật gắn với một bước ngoặt lớn trong cuộc đời CHÍ PHÈO. Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc khắc hoạ tính cách và số phận nhân vật. Từ đó thể hiện tư tưởng nhân đạo của nhà văn.


Tham khảo:

Viết văn giống như công việc của một người thợ đấu. Người viết văn tựa như một tướng cầm quân. Đó là một quá trình “cắt xé tư tưởng và vật lộn với dòng tư tưởng”, đầy đau đớn và trăn trở. Cái đẹp được cô, được đúc từ những giọt đau giọt xót, để rồi cái đẹp lại “cứu rỗi thế giới” – một đầu là nỗi đau, một đầu là hạnh phúc. Đó là nhiệm vụ cũng là ý nghĩa cao cả của một nhà văn chân chính. “Nhà văn tồn tại ớ trên đời trước hết để làm công việc như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác và số phận đen đủi đồn đến chân tường (…) để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực” (Nguyễn Minh Châu).

Một tác phẩm văn chương chân chính trước hết phải là sự thực ở đời, thậm chí hiện thực trong sáng tác văn chương còn cao hơn, thật hơn sự thật ngoài đời. Bởi hình tượng nghệ thuật phải là hình tượng điển hình, khái quát, khách quan của những cá thể, nhân vật của cuộc sống. Con người đọc những trang văn mà cũng như bắt gặp chính mình ở trong đó. Nhiệm vụ của người nghệ sĩ không phải là sao chép tự nhiên mà phải là biểu hiện sự tự nhiên. Thực tế cuộc sống phải là một cái gì đó lớn lao bén nhọn “phải được nén chặt, gọn mà nặng” (Nguyễn Quang Sáng), nhà văn phải có khả năng nắm bắt bản chất cuộc sống ở độ sâu tế vi nhất.

Qua các tác phẩm văn chương, người đọc không chỉ nắm bắt được vấn đề xã hội, mà còn nhận ra tư tưởng, quan điểm, lập trường sáng tác của nhà văn. Còn gì đẹp hơn khi nhà văn viết về cuộc sống để ngợi ca con người? Văn chương thật lớn lao và đầy ý nghĩa khi đi sâu và khám phá từng cảm giác và suy nghĩ, thiên về chiều sâu của nội tâm. Để ta ỵêu quý và trân trọng những con người bình dị nhất. Để ta phải giật mình sửng sốt khi nhận ra vẻ đẹp lấp lánh ẩn chứa bên trong những hình hài tưởng như gàn dở, xấu xí. Đó là lúc nhà văn lí giải cuộc sống theo cách riêng của mình và được mọi người chấp nhận. Mỗi trang văn có sức khuấy động lòng người, khơi gợi những tình cảm thẩm mĩ tốt đẹp trong lòng ta.

Viết về cái ác không phải để học tập mà giúp con người nhận ra bản chất, căm ghét, tránh xa, để hướng tới cái đẹp, cái cao cả. Nhà văn viết về cái ác không phải để con người xa lánh mà là thương xót, đồng cảm. Văn chương lúc đó gợi dậy khát khao cứu rỗi linh hồn, cảm hóa con người trong lòng độc giả. Đó chính là lúc độc giả trở thành người đồng sáng tác. Những dằn vặt, trăn trở, thậm chí là cả máu và nước mắt cho những thân phận xót xa, đầy đau khổ.

Văn chương không đơn thuần là văn chương mà phải là những trang đời chứa đựng những triết lí nhân sinh cao cả. Nhà văn lúc đó trở thành nhà nhân đạo chủ nghĩa, luôn xót thương đồng cảm, thậm chí hướng tới khát khao, mơ cho con người một cuộc sống đẹp đẽ hơn, công bình hơn, bác ái hơn, Để những thân phận bi kịch nhất cũng được ấm lòng bởi tình thương sâu sắc. Để những con người “cùng đường tuyệt lộ” nhất cũng khao khát ước ao một giấc mơ hạnh phúc. Văn chương chân chính không chỉ chứa đẩy tình thương mà phải gợi lòng tin, bản lĩnh sống cho con người. Nó không chỉ đưa con người hướng tới cái đẹp mà còn tiếp thêm sức mạnh để con người hướng tới và hoàn thiện cái đẹp. Quan niệm của Nguyễn Minh Châu về nhiệm vụ của người nghệ sĩ đã đặt ra quan điểm về chức năng văn học một cách sâu sắc, đúng đắn với mọi thời đại và có xu hướng “vị nhân sinh” cao cả.

Trong trào lưu văn học hiện thực 1930 – 1945 không hiểu sao, mỗi lần đọc Chí Phèo của Nam Cao, người đọc lại không thể không trăn trở, day dứt về vấn đề con người và ý nghĩa xã hội trong tác phẩm. Mỗi trang văn cứ trở đi trở lại, càng đọc càng thấm, càng ngẫm càng sâu. Đã bao năm trôi qua, đã bao đời phân tích, đánh giá bình luận về tác phẩm. Nhưng chí Phèo không bao giờ trở thành vấn đề “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” mà lại như viên ngọc càng mài càng sáng, có sức vang động đến muôn đời. Tại sao lại thế? Có phải vì ý nghĩa hiện thực sâu sắc trong tác phẩm? Hay do ngòi bút lạnh lùng, khách quan, tỉnh táo cùng bút pháp tài hoa, uyên bác của Nam Cao? Có lẽ, cái lớn lao sâu sắc nhất, cái tác động đến trực quan cũng như tư duy thẩm mĩ mạnh mẽ chính là cái “tĩnh” trong tác phẩm. Ở đó, Nam Cao đã dùng phép biện chứng tâm hồn để mà cảm, để mà hiểu. Nhà văn đã dùng chính tấm lòng trong sáng, ngây thơ, đáng quý mà cũng đầy xúc cảm của người nghệ sĩ để trò chuyện với tấm lòng luôn rỉ máu và nước mắt của thân phận bi kịch. Chỉ tấm lòng mới trò chuyện được với tấm lòng. Chỉ có cái tình sâu sắc và cái tâm cao cả mới có thể nối liền trái tim người nghệ sĩ với tâm hồn muôn người, muôn đời.

Ngay đầu tác phẩm, người ta lí giải được tại sao Chí Phèo lại bắt đầu từ tiếng chửi. “Hắn vừa đi vừa chửi… Bắt đầu chửi trời… Rồi hắn chửi đời… Tức mình hắn chửi cả làng Vũ Đại… Hắn nghiến răng mà chửi cái đứa nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng chí Phèo”. Cuộc đời bi kịch thế là dần dần mở ra. Người đọc không chỉ thấy bản chất lưu manh của tên Chí, mà có cảm giác băn khoăn, trăn trở, thậm chí xót xa cho hắn. Cuộc đời con người phải đắm chìm vào tìm ra căn nguyên bi kịch, căn nguyên nỗi đau con người. Đó là hình ảnh con người không tự ý thức được bi kịch của mình, không nhận ra mình là công cụ mà còn đồng tình trước sự tăm tối của chính thân phận. Cái nhìn hiện thực của nhà văn mang giá trị tố cáo và nhân đạo sâu sắc.

Ngòi bút Nam Cao tựa lưỡi dao của nhà phẫu thuật hiện thực lách sâu vào căn bệnh nô lệ mù quáng. Nam Cao thương xót, đồng cảm cho con người chính là lúc nhà văn nhận ra nỗi đau đớn nhất của họ. Nhà văn muốn “nâng giấc, thức tỉnh con người” trước hết phải thấu hiểu sâu sắc bi kịch và hướng con người tới những tình cảm thẩm mĩ tốt đẹp. Chí Phèo muốn thức tỉnh trước hết phải hiểu được nỗi đau của mình. Nam Cao đã xây dựng được tiền đề để đưa Chí Phèo đến sự thức tỉnh, giúp người đọc tự hiểu sâu hơn. Nhiệm vụ của nhà văn với con người là thức tỉnh. Nam Cao thức tỉnh Chí Phèo hay là thức tỉnh chút lương tri còn ngủ quên đâu đấy trong lòng người. Giá trị nhân văn cao cả và ngòi bút chiến đấu thể hiện một cách mạnh mẽ. Điều đó được chứng tỏ khi lần thứ ba, Chí đến nhà Bá Kiến để đòi lương thiện.

Tiếng kêu đòi lương thiện của Chí Phèo vang lên trong không gian nhà Bá Kiến chứ không phải bất cứ mệt nơi nào khác. Đó chẳng phải là dụng ý của Nam Cao sao? Đâu phải là vô tình, ngẫu nhiên? Nam Cao phát hiện ra bản chất sâu xa về căn nguyên nỗi đau con người, nên muốn nhân vật của mình tìm đến, đối diện với nó, để thức tỉnh, để đòi lương thiện. Nếu xét theo về quan niệm chức năng văn học và nhiệm vụ người nghệ sĩ của Nguyễn Minh châu, thì có thể coi sự nâng giấc của Nam Cao với “người cùng tuyệt lộ bị cái ác và số phận đen đủi dồn đến chân tường” là sự “nâng giấc” cao quý và thiêng liêng nhất. Bởi có ai có bi kịch như Chí Phèo. Bi kịch của Chí Phèo còn vượt qua bi kịch của thể xác, về miếng ăn, về cái đói mà Nam Cao vẫn thường trăn trở. Có còn con người nào cùng đường như Chí Phèo? Bị cả xã hội ruồng rẫy, bị cả những người cưu mang bỏ rơi?

Có lẽ trong văn học trước đó và sau này, sẽ mãi mãi chỉ có một Chí Phèo bị tha hóa đến tận cùng, biến chất đến đau đớn. Nhưng cao quý ở chỗ, Nam Cao đã để cho con người – con quỷ ấy – thức tỉnh, thức tỉnh một cách thực sự. Sự thức tỉnh của một con quỷ mới là sự thức tỉnh đáng quý nhất. Nam Cao đã làm được điều ấy. Vậy sao nhiều lúc còn trách nhà văn khô cứng, lạnh lùng? Chỉ có cái tâm thì nhà văn mới thức tỉnh, hướng thiện con quỷ ấy. Thế nên mới có ý kiến cho rằng: “Chí Phèo thức tỉnh không phải nhờ Thị Nở mà do chính Nam Cao, chính cái tình của một người nghệ sĩ đã nâng giấc cho nhân vật của mình đến con đường đẹp đẽ một cách thuyết phục nhất”. Trong khám phá của Nam Cao, không có sự song hành giữa hai bên thiện – ác. Còn Bá Kiến, Chí Phèo mãi chỉ là bi kịch, còn Bá Kiến thì không ai trong làng Vũ Đại như Binh Chức, Năm Thọ, Chí Phèo được lương thiện.

Tác phẩm Nam Cao thức tỉnh con người, chừng nào cái ác còn tồn tại thì cái thiện bị lấn át. Con đường đến nhà Bá Kiến không đơn giản là con đường đấu tranh giữa cái thiện – cái ác mà là con đường đang đến dần sự ý thức con người của Chí. Bước chân đến nhà Bá Kiến, vì thế, không ngẫu nhiên, không còn là cảm tính mà là lí tính, tự giác chứ không phải là tự phát. Đó là bước chân của ý thức đang dần được giác ngộ mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ phong kiến.

Có thể Chí Phèo chết là sự trả giá tất yếu nhưng xét đến cùng, đó mới thực sự là thức tỉnh số phận con người trong tinh thần mạnh mẽ quyết liệt. “Tao muốn làm người lương thiện”. Hai tiếng “lương thiện” mới cao quý làm sao, nhưng cũng có thể rất bình dị, giản đơn. Nhưng sao với Chí Phèo lại quá xa xôi, thậm chí là siêu tưởng. Anh Chí ấy đã từ tác phẩm bước ra sống ngật ngưỡng giữa cuộc đời. Bởi tuy chết, nhưng cái lương thiện tưởng như còn sót lại của Chí thì lại có sức sống đến ngàn đời. Câu hỏi của Chí như một tiếng kêu trăn trở muôn đời nhức nhối. “Yêu cho roi cho vọt”, để Chí chết cũng là khẳng định tình thương, sự đồng tình, bênh vực của Nam Cao đối với những con người đầy bi kịch.

Cuộc đời đã và sẽ có rất nhiều số phận giống Chí, tác phẩm của Nam Cao thôi thúc con người vươn tới cái đẹp, giúp con người vươn tới cái đẹp và hành động vì nó. Tài năng sáng tạo cùng với bản tính thơ văn chân chính – tính thẩm mĩ đã biến Chí Phèo thành một sinh mệnh đặc biệt, tồn tại vô hạn vô cùng trong một vẻ đẹp luôn luôn tươi mới. Nam Cao còn khẳng định và nâng cao mơ ước của người dân, đứng bên cạnh bênh vực và cứu vớt họ bằng một tình thương cao quý.

Bài viết liên quan:

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.