Tài liệu bồi dưỡng kiến thức Ngữ văn 9 – Luyện thi tuyển sinh 10.

tai-lieu-boi-duong-kien-thuc-ngu-van-9-luyen-thi-tuyen-sinh-10

Nội dung:

Tài liệu bồi dưỡng kiến thức Ngữ văn 9 – Luyện thi tuyển sinh 10.

A. KIẾN THỨC VĂN BẢN.

HỌC KỲ I.

I. VĂN BẢN NHẬT DỤNG.

1. Văn bản “Phong cách Hồ Chí Minh” (Lê Anh Trà).

I. Tác giả, tác phẩm.

1. Tác giả:

– Lê Anh Trà (1927 – 1999), quê xã Phổ Minh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Ông là một nhà quân sự, một tác giả chuyên nghiên cứu và viết về chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Tác phẩm

– Xuất xứ: Văn bản được trích từ bài viết “Phong cách Hồ Chí Minh cái vĩ đại gắn liền với cái giản dị”, in trong tập “Hồ Chí Minh và văn hóa Việt Nam”, Viện văn hóa và xuất bản Hà Nội.

– Thể loại: Văn bản nhật dụng có sử dụng yếu tố nghị luận.

– Bố cục 3 phần:

+ Phần 1 (Từ đầu đến “rất hiện đại”): Quá trình hình thành và điều kì lạ của phong cách văn hóa Hồ Chí Minh

+ Phần 2 (Tiếp theo đến “hạ tắm ao”): Những nét cụ thể của phong cách sống và làm việc của Bác Hồ.

+ Phần 3 (Còn lại): Bình luận và khẳng định ý nghĩa của phong cách văn hóa Hồ Chí Minh.

II. Phân tích văn bản:

1. Con đường hình thành nên phong cách Hồ Chí Minh.

– Đi nhiều nơi có điều kiện để tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau, thành thạo nhiều thứ tiếng.

– Ham học hỏi, dày công học tập, rèn luyện không ngừng.

– Bác luôn tiếp thu các kiến thức và có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại.

– Giữ gìn và biết kết hợp văn hóa truyền thống với vẻ đẹp văn hóa nhân loại.

* Bình luận

– Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi nhiều, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa cả phương Đông lẫn phương Tây, chính bới vậy, Bác đã thu nhận được vốn tri thức văn hóa sâu rộng. Vốn tri thức sâu rộng có được do Bác hiểu tầm quan trọng của ngôn ngữ trong giao tiếp nên đã học và nói thành thạo nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Hoa, Nga… Bác học hỏi ngay cả khi trải qua những công việc kiếm sống: bác làm nhiều nghề và đến đâu Bác cũng học hỏi, tìm hiểu văn hóa đến một mức khá uyên thâm.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu một cách có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nước ngoài. Không phải tất cả văn hóa các nước Bác đều tiếp thu, Người chỉ tiếp thu những cái hay, cái đẹp, đồng thời phê phán những hạn chế, tiêu cực. Bác tiếp thu một cách chủ động. Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng trên cơ sở nền tảng là văn hóa dân tộc mà tiếp thu những ảnh hưởng bên ngoài. Những nhân tố đó đã tạo nên ở bác một phong cách văn hóa hiện đại và rất Việt Nam.

2. Vẻ đẹp trong lối sống của Hồ Chí Minh.

– Nơi làm việc đơn sơ: Chỉ vài phòng làm việc và tiếp khách, họp bộ chính trị và ngủ, nhà sàn vài ba phòng, ao cá,..

– Trang phục giản dị: Ít ỏi chiếc va li con với vài ba bộ quần áo bà ba, dép lốp thô sơ,…

– Ăn uống đạm bạc: Cá kho, rau luộc, dưa cà,…

* Bình luận:

– Nơi ở, nơi làm việc của Bác rất giản dị, là một chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh ao, chỉ vẻn vẹn vài phòng, đồ đạc “mộc mạc, đơn sơ”. Tư trang rất giản dị: bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp. Cách ăn uống rất đạm bạc với những món ăn dân tộc: cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối… Đó là những món ăn dân tộc không chút cầu kì, gắn liền với văn hóa Việt Nam.

– Lối sống của một vị Chủ tịch nước nhưng rất giản dị, thanh cao, không xa hoa lãng phí. Đây là lối sống có văn hóa, trở thành một quan điểm thẩm mĩ: Cái đẹp là sự giản dị, tự nhiên.

3. Ý nghĩa phong cách Hồ Chí Minh.

– Học tập và rèn luyện theo phong cách của Bác là hòa nhập với khu vực nhưng phải giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc.

– Phong cách của Người bộc lộ một quan niệm thẩm mĩ về lẽ sống, cách di dưỡng tinh thần.

– Đây chính là cách sống của người cộng sản lão thành.

* Bình luận:

– Phong cách sống của Bác là phong cách sống giản dị nhưng lại vô cùng thanh cao. Phong cách sống của Bác không phải là một cách tự thần thánh hóa, tự làm cho khác đời, hơn đời. Phong cách sống của Bác chính là phong cách sống với cái đẹp chính là sự giản dị, tự nhiên

 Phong cách Hồ Chí Minh là phong cách sống mang hồn dân tộc sợi nhắc đến phong cách của các vị hiền triết trong lịch sử dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm

III. Tổng kết:

– Nghệ thuật: Văn bản kết hợp giữa kể và bình luận một cách tự nhiên, chọn lọc những chi tiết tiêu biểu, đan xen thơ, dùng từ Hán Việt gợi sự gần gũi; sử dụng nghệ thuật đối lập để làm nổi bật ý: Vĩ nhân mà giản dụ, gần gũi, am hiểu mọi nền văn hóa nhân loại mà lại rất dân tộc, rất Việt Nam.  Cách lập luận chặt chẽ, luận điểm, luận cứ rõ ràng, xác đáng, cách trình bày ngắn gọn…

– Nội dung: Vẻ đẹp trong phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại, thanh cao và giản dị. Đoạn trích ngắn gọn nhưng để lại trong lòng người bao niềm ngưỡng vọng chân thành đối với vị lãnh tụ đáng kính của dân tộc. Mỗi chúng ta có thể học tập lối sống giản dị mà thanh cao rất Việt Nam ấy để vững vàng sống trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

LUYỆN TẬP.

1. Vốn tri thức văn hóa nhân loại của Chủ tịch Hồ Chí Minh sâu rộng như thế nào? Vì sao Người lại có được vốn tri thức sâu rộng như vậy?
2. Trình bày lối sống giản dị mà thanh cao của chủ tích Hồ Chí Minh.
3. Trình bày vẻ đẹp truyền thống và hiện đại trong lối sống của Hồ Chí Minh.
4. Vì sao có thể nói lối sống giản dị của Hồ Chí minh là một cách để “di dưỡng tinh thần”?
5. Nêu cảm nhận của em về những nét đẹp trong phong cách Hồ Chí Minh.


2. Văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” (Mác-két).

I. Tác giả, tác phẩm:

1. Tác giả:

– Nhà văn G.G Mác – két (Gabriel Garcia Marquez) sinh năm 1928, là nhà văn nổi tiếng người Cô-lôm-bi-a.

– Sự nghiệp sáng tác: Năm 1936, tốt nghiệp tú tài, ông học ngành Luật tại trường đại học Tổng hợp Bô-gô-ta và viết những truyện ngắn đầu tay. Ông được nhận giải thưởng Nô-ben cao quý về văn học năm 1982 với tác phẩm “Trăm năm cô đơn” (1976). Đây là giải thưởng xứng đáng cho những cống hiến của ông cho nèn văn học Cô – lôm – bi – a nói riêng và nền văn học thế giới nói chung.

2. Tác phẩm:

– Xuất xứ: Bài viết được trích từ bài tham luận của G.G Mác – két trong buổi gặp gỡ lần thứ hai vào tháng 8 năm 1986 giữa nguyên thủ 6 nước Ấn Độ, Mê-hi-cô, Thụy Điển, Ác-hen-ti-na, Hi Lạp, Tan-da-ni-a tại Mê-hi-cô để cùng đưa ra một bản tuyên bố kêu gọi chấm dứt chạy đua vũ trang, thủ tiêu vũ khí hạt nhân để bảo vệ an ninh và hòa bình thế giới

– Bố cục 3 phần:

+ Phần 1 (Từ đầu đến “mất đi khả năng sống tốt đẹp hơn”) : Chiến tranh hạt nhân là mối nguy hại khủng khiếp đe dọa đến loài người và mọi sinh vật sinh sống trên Trái đất

+ Phần 2 (Từ tiếp đến “trở lại điểm xuất phát của nó”): Chạy đua vũ trang giữa các nước làm mất khả năng để con người được sống tốt đẹp hơn, chiến tranh hạt nhân đi ngược lại lí trí của loài người và quy luật tự nhiên

+ Phần 3 (Từ tiếp đến hết): Nhiệm vụ đấu tranh ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, hướng đến một thế giới hòa bình, văn minh.

II. Phân tích văn bản:

1. Chiến tranh hạt nhân là mối nguy hại khủng khiếp đe dọa đến loài người và mọi sinh vật sinh sống trên Trái đất.

– Đặt câu hỏi “Chúng ta đang ở đâu?” để khơi gợi sự tò mò, chú ý của độc giả.

– Khẳng định tính chất khốc liệt và sự khủng khiếp của chiến tranh hạt nhân: Chiến tranh hạt nhân có sức tàn phá khủng khiếp, tiêu diệt tất cả các hành tinh và phá hủy thế thăng bằng của mặt trời.

– Dẫn chứng: Hơn 50000 ngàn đầu đạn hạt nhân trên toàn cầu, tương đương với việc mỗi người đang ngồi trên 4 tấn thuốc nổ. Tất cả sẽ nổ tung không chỉ 1 lần mà lên tới 12 lần tất thảy.

→ Vào đề trực tiếp với chứng cớ cụ thể, xác thực nhằm gây chú ý và giúp mỗi người nhận ra hiểm họa khủng khiếp của chiến tranh hạt nhân.

2. Chạy đua vũ trang giữa các nước làm mất khả năng để con người được sống tốt đẹp hơn, chiến tranh hạt nhân đi ngược lại lí trí của loài người và quy luật tự nhiên.

a. Chạy đua vũ trang giữa các nước làm mất khả năng để con người được sống tốt đẹp hơn:

– Tác giả đã đưa ra những dẫn chứng với số liệu cụ thể:

+ Số tiền 100 tỉ đô la bỏ ra cho 100 máy bay Mĩ và gần 7000 tên lửa có thể cải thiện cuộc sống cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất thế giới.

+ Giá 10 chiếc tàu sân bay Ni-mít đủ để thực hiện chương trình phòng bệnh trong 14 năm cho hơn 1 tỉ người và cứu hơn 14 triệu trẻ em châu Phi…

+ Chỉ 2 chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ tiền xóa mù chữ cho toàn thế giới…

– Số liệu cụ thể trên các lĩnh vực xã hội, y tế, tiếp tế thực phẩm, giáo dục, những mặt thiết yếu trong đời sống…. làm nổi bật sự tốn kém ghê gớm và tính chất phi lí của cuộc chạy đua vũ trang.

→ Lập luận xác đáng, dẫn chứng cụ thể, giàu sức thuyết phục.

b. Chiến tranh hạt nhân đi ngược lại lí trí của loài người và quy luật tự nhiên.

– Chiến tranh hạt nhân không những tiêu diệt toàn bộ loài người mà còn phá hủy mọi sự sống trên Trái đất mà còn đi ngược lại quy luật tiến hóa, quy luật tự nhiên.

– Tác giả đã đưa ra những chứng cứ khoa học địa chất:

+ Trải qua 380 triệu năm thì con bướm mới biết bay.

+ Phải mất hơn 180 triệu năm bông hồng mới nở.

+ Trải qua 4 kỉ địa chất con người mới hát hay hơn chim và mới chết vì yêu…

+ Nhưng chỉ cần “bấm nút” tất cả quá trình vĩ đại đó sẽ quay trở về điểm xuất phát của nó. Chiến tranh hạt nhân đẩy lùi quá trình tiến hóa, tiêu hủy mọi thành quả của quá trình tiến hóa.

3. Nhiệm vụ đấu tranh ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, hướng đến một thế giới hòa bình, văn minh.

– Mác két kêu gọi mọi người chống lại cuộc chạy đua vũ trang, kêu gọi mọi người: “hãy tham gia vào bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hòa bình, công bằng…”

– Lời đề nghị của tác giả:

+ Mở ra một nhà băng lưu giữ trí nhớ, có thể tồn tại sau thảm họa hạt nhân

+ Mục đích: Nhân loại biết rằng có sự sống tồn tại, tội ác của chiến tranh đã gây ra, lên án tố cáo những kẻ gây ra chiến tranh.

→ Cách diễn đạt đặc sắc, độc đáo, những thông điệp Mác – két đưa ra là những thông điệp có ý nghĩa cấp thiết và thực sự quan trọng

* Bình luận:

“Đấu tranh cho thế giới hòa bình” là một văn bản chính luận xuất sắc, đã nêu ra được những vấn đề cấp bách mà các cuộc chạy đua vũ trang cùng với nền khoa học hạt nhân đang mang lại. Bài viết nêu ra được những nhiệm vụ chính mà cả thế giới cần chung tay góp sức để chống lại chiến tranh hủy diệt, đồng thời đưa ra một đề nghị rất hay, là lời cảnh tỉnh cho thế hệ tương lai và cũng chính là lời tố cáo cho những kẻ gây ra các cuộc chiến phi nghĩa, vô nhân đạo.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Bài viết của Mác-két đã đề cập đến vấn đề cấp thiết nói trên với sức thuyết phục cao bởi lập luận chặt chẽ, chứng cớ phong phú, xác thực, cụ thể.

– Nội dung: Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe dọa toàn thể loài người và sự sống trên trái đất. Cuộc chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém đã cướp đi của thế giới nhiều điều kiện để phát triển, để loại trừ nạn đói, nạn thất học và khắc phục nhiều bệnh tật cho hàng trăm triệu người. Đấu tranh cho hòa bình, ngăn chặn và xóa bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân là nhiệm vụ thiết thân và cấp bách của toàn thể loài người.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Hãy nêu luận điểm và hệ thống luận cứ của văn bản.
Câu 2: Trong đoạn đầu văn bản, nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe dọa loài người và toàn bộ sự sống trên trái đất đã được tác giả chỉ ra rất cụ thể bằng cách lập luận như thế nào?
Câu 3: Sự tốn kém và tính chất vô lí của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân đã được tác giả chỉ ra bằng những chứng cứ nào?
Câu 4: Vì sao có thể nói: “Chiến tranh hạt nhân “không những đi ngược lại lí trí con người mà còn đi ngược lại cả lí trí tự nhiên nữa?” Em có suy nghĩ gì trước cảnh báo của nhà văn Mác-két về nguy cơ hủy diệt sự sống và nền văn minh trên trái đất một khi chiến tranh hạt nhân nổ ra?
Câu 5: Theo em, vì sao văn bản này lại được đặt tên Đấu tranh cho một thế giới hòa bình?


3. Văn bản “Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em”.

I. Tìm hiểu chung.

– Xuất xứ: Văn bản được trích từ Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em, trong Việt Nam và các văn kiện quốc tế về quyền trẻ em, NXB Chính trị quốc gia – Ủy ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam, Hà Nội, 1977).

– Bố cục 4 phần:

+ Phần 1 (2 đoạn đầu): khẳng định sự cấp thiết và cần thiết của hành động đảm bảo tương lại tốt đẹp cho tất cả trẻ em.

+ Phần 2 (Sự thách thức): thực trạng và những thách thức cho sự phát triển của nhiều trẻ em trên thế giới

+ Phần 3 (Cơ hội): Những điều kiện thuận lợi của cộng đồng quốc tế có thể đẩy mạnh việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em.

+ Phần 4 (Nhiệm vụ): Nhiệm vụ cụ thể từng quốc gia về cả cộng đồng cần làm vì sự sống còn, quyền được bảo về và phát triển của trẻ em

II. Phân tích văn bản.

1. Khẳng định sự cấp thiết và cần thiết của hành động đảm bảo tương lại tốt đẹp cho tất cả trẻ em (mục 1, 2).

– Mục 1 nêu vấn đề, giới thiệu mục đích và nhiệm vụ của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em.

– Mục 2 khái quát những đặc điểm, yêu cầu của trẻ em, khẳng định quyền được sống, được phát triển trong hòa bình, hạnh phúc. Đó cũng chính là nguyên nhân và cũng là mục đích của vấn đề: làm thế nào để đạt đảm bảo cho tất cả trẻ em có một tương lai tốt đẹp hơn.

Vấn đề được nêu ra ngắn gọn, rõ ràng, có tính chất khẳng định.

2. Thực trạng của trẻ em trên thế giới (mục 3 đến mục 7).

– Mục 3 đóng vai trò chuyển đoạn, chuyển ý ( tuy nhiên, thực tế cuộc sống thời thơ ấu của nhiều trẻ em lại không như vậy).

– Mục 7 kết luận cho phần Sự thách thức: nhận trách nhiệm phải đáp ứng những thách thức đã nêu trên thuộc về những nhà lãnh đạo chính trị các nước, những nguyên thủ quốc gia.

– Các mục 4,5,6 nêu những hiện tượng, vấn đề thực trạng trẻ em trên nhiều nước, nhiều vùng khác nhau đã trở thành nạn nhân của bao vấn nạn xã hội:

+ Thành nạn nhân của chiến tranh, bạo lực, chủ nghĩa khủng bố, phân biệt chủng tộc, xâm lược, sống tha hương, bị bóc lột, bị lãng quên,…

+ Mắc thảm họa đói nghèo, vô gia cư, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, mù chữ.

+ Chết (con số đau lòng: 40000 cháu/ngày) vì suy dinh dưỡng, bệnh tật.

→ Trẻ em đang phải trải qua những hiểm họa, cuộc sống khổ cực về nhiều mặt.

3. Những điều kiện thuận lợi của cộng đồng quốc tế có thể đẩy mạnh việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em (mục 8, 9).

– Mục 8 đã nêu ra hai cơ hội:

+ Sự liên kết lại của các quốc gia cùng ý thức cao của cộng đồng quốc tế trên lĩnh vực này. Đã có công ước về quyền của trẻ em làm cơ sở, tạo ra một cơ hội mới.

+ Sự hợp tác và đoàn kết quốc tế ngày càng có hiệu quả cụ thể trên nhiều lĩnh vực, phong trào giải trừ quân bị được đẩy mạnh tạo điều kiện cho một số tài nguyên to lớn có thể được chuyển sang phục vụ các mục tiêu kinh tế, tăng cường phúc lợi xã hội.

4. Xác định những nhiệm vụ có tính toàn diện vì sự sống còn, phát triển của trẻ em (mục 10 đến mục 17).

– Trên cơ sở những thách thức và cơ hội, văn bản nêu lên những nhiệm vụ cấp bách cần làm:

+ Tăng cường sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của trẻ em.

+ Quan tâm, chăm sóc trẻ em bị tàn tật và trẻ em có hoàn cảnh sống đặc biệt khó khăn.

+ Tăng cường vai trò của phụ nữ nói chung và phải đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ đề thực hiện lợi ích của trẻ em, đặc biệt là các em gái.

+ Bảo đảm sao cho trẻ em được học hết bậc giáo dục cơ sở và không để cho một em nào mù chữ.

+ Thực hiện kế hoạch hóa gia đình, tạo điều kiện đế các em lớn khôn và phát triển trên nền móng gia đình.

+ Phải chuẩn bị để các em có thể sống một cuộc sống có trách nhiệm trong một xã hội tự do.

+ Vì tương lai của trẻ em, cần cấp bách bảo đảm hoặc khôi phục lại sự tăng trưởng và phát triển đều đặn nền kinh tế ở tất cả các nước.

→ Các nhiệm vụ được nêu ra vừa cụ thể, vừa toàn diện, bao quát trên mọi lĩnh vực (y tế, giáo dục, xã hội), mọi đối tượng (trẻ em bị tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh sống đặc biệt khó khăn, em trai, em gái) và mọi cấp độ (gia đình, xã hội, quốc gia, cộng đồng quốc tế). Điều quan trọng là các nhiệm vụ đó được nêu lên với một thái độ dứt khoát, thể hiện quyết tâm cao độ của cộng đồng quốc tế. Mục 17 nhấn mạnh: “Các nhiệm vụ đó đòi hỏi tất cả các nước cần phải có những nỗ lực liên tục và phối hợp với nhau trong hành động của từng nước cũng như trong hợp tác quốc tế”.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Bản tuyên bố gồm có 17 mục, được chia thành 4 phần, cách trình bày rõ ràng, hợp lí. Kết cấu chặt chẽ. Lập luận thuyết phục. Sử dụng phương pháp nêu số liệu, phân tích khoa học.

– Nội dung: Bảo vệ quyền lời, chăm lo đến sự phát triển của trẻ em là một trong những vấn đề quan trọng, cấp bách, có ý nghĩa toàn cầu. Bản Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em ngày 30/09/1990 đã khẳng định điều ấy và cam kết thực hiện những nhiệm vụ có tính toàn diện vì sự sống còn, phát triển trẻ em, vì tương lai của toàn nhân loại.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Văn bản này (gồm 17 mục) được bố cục thành mấy phần? Phân tích tính hợp lí, chặt chẽ của bố cục văn bản.
Câu 2: Ở phần Sự thách thức, bản Tuyên bố đã nên lên thực tế cuộc sống của trẻ em trên thế giới ra sao?
Câu 3: Qua phần Cơ hội, em thấy việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong bối cảnh thế giới hiện nay có những điều kiện thuận lợi gì?
Câu 4: Phần Nhiệm vụ bản tuyên bố đã nêu lên khá nhiều điểm mà từng quốc gia và cả cộng đồng quốc tế cần phải nỗ lực phối hợp hành động. Hãy phân tích tính chất toàn diện của nội dung phần này?
Câu 5: Qua bản Tuyên bố, em nhận thức như thế nào về tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em, về sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề này?


II. VĂN BẢN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI.

4. Truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” (Nguyễn Dữ).

I. Tác giả, tác phẩm.

1. Tác giả:

– Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất), quê ở Hải Dương, sống vào nữa đầu thế kỷ XVI, là thời kì triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực, gây ra những cuộc nội chiến kéo dài.

– Ông học rộng, tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi cáo về, sống ẩn dật ở vùng núi Thanh Hóa. Đó là cách phản kháng của nhiều trí thức tâm huyết đương thời.

2. Tác phẩm:

– Xuất xứ: “Chuyện người con gái Nam Xương” là chuyện thứ 16 trong số 20 truyện nằm trong tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ “Truyền kì mạn lục”. Truyện có nguồn gốc từ một truyện cổ dân gian trong kho tàng cổ tích Việt Nam “Vợ chàng Trương”.

“Truyền kì mạn lục”: Là ghi chép tản mạn về những điều kì lạ vẫn được lưu truyền.Viết bằng chữ Hán, được xem là “Thiên cổ kì bút” (áng văn hay ngàn đời ). Gồm 20 truyện, với đề tài phong phú. Nhân vật trong truyện: Nhân vật chính thường là những ngườiphụ nữ đức hạnh, khao khát sống cuộc sống yên bình , hạnh phúc, nhưng lại bị những thếlực tàn bạo và lễ giáo phong kiến nghiệt ngã đẩy họ vào những cảnh ngộ éo le, bi thương,bất hạnh vì oan khuất. Hoặc một kiểu nhân vật khác, những trí thức tâm huyết với cuộc đờinhưng bất mãn với thời cuộc, không chịu trói mình trong vòng danh lợi,sống ẩn dật để giữđược cốt cách thanh cao.

– Bố cục 3 phần:

+ Phần 1: … của mình: Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sự xa cách vì chiến tranh và phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa cách

+ Phần 2: … qua rồi: Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương

+ Phần 3: còn lại: Cuộc gặp gỡ giữa Vũ Nương và Phan Lang trong động Linh Phi. Vũ Nương được giải oan.

– Nội dung: Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương. “Chuyện người con gái Nam Xương” thể hiện niềm thương cảm đối với số phận oan nghiệt, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của những người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến.

Tóm tắt: Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) là người phụ nữ nhan sắc, đức hạnh. Chồng nang là Trương Sinh phải đi lính sau khi cưới ít lâu. Nàng ở nhà, một mình vừa nuôi con nhỏ vừa chăm sóc mẹ chồng đau ốm rồi làm ma chu đáo khi bà mất. Trương Sinh trở về, nghe lời con, nghi vợ thất tiết nên đánh đuổi đi. Vũ Nương uất ức gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn, được thần Rùa Linh Phi và các tiên nữ cứu. Sau đó trương Sinh mới biết vợ bị oan. Ít lâu sau Vũ Nương gặp Phan Lang, người cùng làng chết đuối được Linh Phi cứu. Khi Lang trở về, Vũ Nương nhờ gửi chiếc hoa vàng nhắn chàng Trương lập đàn giải oan cho nàng. Trương Sinh nghe theo, Vũ Nương ẩn hiện giữa dòng, nói vọng vào bờ lời tạ từ rồi biến mất.

II. Phân tích văn bản:

1. Nhân vật Vũ Nương.

a. Vẻ đẹp phẩm chất nhân vật Vũ Nương.

– Vũ Nương là một người con gái “tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”. Đó là một vẻ đẹp chuẩn mực, cần có ở người phụ nữ.

– Trong cuộc sống vợ chồng, nàng luôn biết giữ gìn khuôn phép, không để vợ chồng thất hòa ⇒ Tạo dựng và giữ gìn hạnh phúc gia đình

– Khi tiễn chồng đi lính: Dặn dò cẩn thận, đầy tình nghĩa, thủy chung. Nàng không mong chồng khi trở về mang “ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ” mà chỉ mong chồng bình yên. Nàng không màng danh lợi, chỉ cầu hạnh phúc gia đình.

– Nàng là người phụ nữ đảm đang, là người mẹ hiền, con dâu thảo. Tận tình, chu đáo rất mực yêu thương con. Khi mẹ chồng mất, nàng lo ma chay chu tất

– Nàng là người vợ thuỷ chung yêu chồng tha thiết: hằng đêm vẫn chỉ vào bóng mình và bảo với con đó là cha nó để vơi đi nỗi nhớ chồng.

→ Vũ Nương là người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp tiêu biểu người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến. 

* Bình luận:

Vũ Nương là người phụ nữ đức hạnh, người vợ thủy chung, son sắt.

+ Mở đầu tác phẩm, tác giả đã có lời giới thiệu bao quát về Vũ Nương “Tính đã thuỳ mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp”. Cách giới thiệu nhằm tạo ấn tượng về một chân dung phụ nữ hoàn hảo. Sau đó, đi sâu miêu tả vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất của nhân vật trong các mối quanhệ khác nhau, trong các tình huống khác nhau.

+ Trước hết, Vũ Nương là ngư ời phụ nữ thuỷ chung, son sắc trong tình nghĩavợ chồng. Lúc mới lấy chồng, trong cuộc sống vợ chồng, biết Trương Sinh vốn có tính đanghi, nên nàng luôn “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa”. Nàng luôn giữ cho tình cảm gia đình đầm ấm, yên vui. Nàng là một người vợ hiền thục, khôn khéo, nết na đúng mực. Khi đất nước có chiến tranh, Trương Sinh phải đầu quân ra trận.

+ Trong buổi tiễn chồng, Vũ Nương rót chén rượu đầy, dặn dò chồng những lời tình nghĩa, đằm thắm, thiết tha: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong … thế là đủ rồi”. Ước mong của nàng thật bình dị, chứng tỏ nàng luôn coi trọng hạnh phúc gia đình,không mong danh hiển. Lúc xa chồng (chồng đi lính), nàng cảm thông trước những nỗi vất vả gian lao mà chồng sẽ phải chịu đựng; nàng cũng bộc lộ nỗi khắc khoải nhớ chồng của mình, thay chồng toan lo chu đáo mọi việc.

→ Vũ Nường là người vợ hết mực thùy mị, dịu dàng. Trái tim ấy giàu lòng yêu thương, biết chịu đựng những thử thách, biết đợi chờ để yên lòng người đi xa, thật đáng trân trọng.

+ Khi tan giặc, Trương Sinh trở về, hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ. Vũ Nương ra sức cứu vãn, hàn gắn. Khi người chồng trút cơn ghen bóng gió, Vũ Nương đã ra sức thanh minh, phân trần. Những lời nói nhún nhường tha thiết đó. Thái độ trân trọng chồng, trân trọng gia đình nhà chồng, muốn giữ gìn hạnh phúc gia đình.

+ Những năm tháng sống sung sướng ở chốn làng mây cung nước,nàng vẫn không nguôi nỗi thương nhớ chồng con. Vừa gặp lại Phan lang, nghe Lang kể vềtình cảnh gia đình, nàng đã ứa nước mắt xót thương. Mặc dù đã nặng lời thề sống chết vớiLinh Phi nhưng nàng vẫn tìm cách trở về với chồng con trong giây lát để nói lời đa tạ tấm lòng chồng. Rõ ràng trong trái tim người phụ nữ ấy, không chút thù hận, chỉ có sự yêu thương và lòng vị tha.

Tóm lại, Tâm trạng nhớ thương đau buồn ấy của Vũ Nương cũng là tâm trạng chung của những người chinh phụ trong mọi thời loạn lạc xưa kia. Thể hiện tâm trạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau khổ của Vũ Nương, vừa ca ngợi tấm lòng thủy chung, thương nhớ đợi chờ chồng của nàng.

– Vũ Nương còn là người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng, một người mẹ hiền rấ tmực yêu thương con.

+ Trong thời gian chồng đi lính, một mình nàng vừa là cô con dâu vừa làm cha, làm mẹ để chăm sóc phụng dưỡng mẹ chồng, nuôi dạy con thơ. Với mẹ chồng, nàng là một cô con dâu hiếu thảo. Với con thơ, nàng rất m ực yêu thương con. Chi tiết nàng chỉ bóng mình trên vách và bảo đó là cha Đản cũng xuất phát từ tấm lòng của người mẹ: để con trai mình bớt đi cảm giác thiếu vắng tình cảm của người cha.

Nguyễn Dữ đã dành cho nhân vật một thái độ yêu mến, trân trọng qua từng trang truyện, từ đó khắc họa thành công hình tượng người phụ nữ với đầy đủ phẩm chất tốt đẹp

b. Số phận bi kịch của Vũ Nương:

– Vũ Nương bị chồng vu oan:

+ Sau 2 năm đi lính trở về, mẹ mất, Trương Sinh vô cùng đau buồn.

+ Lúc bế con ra thăm mộ mẹ, nghe con nói có một người đàn ông hay đến nhà lúc trời tối, Trương Sinh nghĩ Vũ Nương không giữ gìn trinh tiết, đã chửi mắng thậm tệ, đánh đạp và đuổi nàng đi.

+ Vũ Nương hết lời phân trần để chồng hiểu tấm lòng thủy chung của mình, làng xóm can ngăn nhưng Trương Sinh một mực không nghe.

+ Thất vọng tột cùng, Vũ Nương chọn cái chết để bày tỏ tấm lòng mình.

→ Vũ Nương là người trọng danh dự, quyết bảo vệ bản thân dù phải chọn lấy cái chết.

* Nguyên nhân của nỗi oan khuất dẫn đến cái chết bi thảm của Vũ Nương:

– Do cuộc hôn nhân không bình đẳng. Vũ Nương con nhà nghèo khó, Trương Sinh con nhà hào phú. Khoảng cách về gia thế khiến Trương Sinh xem thường vợ mình.

– Trương Sinh là người thất học, tính cách hồ đồ, đa nghi, cố chấp, thiếu tin tưởng, với vợ thường phòng ngừa quá mức.

– Chiến tranh phi nghĩa đã khiến đôi vợ chồng trẻ phải cách biệt. Thời gian xa cách càng khiến Trương Sinh hồ nghi mãnh liệt.

– Do lời nói ngây ngô của đứa trẻ con.

* Ý nghĩa:

+ Lên án, tố cáo chiến tranh phi nghĩa, xã hội phong kiến trọng quyền uy người đàn ông và kẻ giàu.

+ Phát hiện, trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ.

+ Bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc đối với người phụ nữ trong xã hội.

* Bình luận:

– Vũ Nương là người phụ nữ bất hạnh.

+ Vũ Nương là nạn nhân của chế độ nam quyền, một xã hội mà hôn nhân không có phần không bình đẳng. Vũ Nương còn là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa. Chiến tranh đã làm xa cách, tạo điều kiện cho sự hiểu lầm trở thành nguyên nhân gây bất hạnh. Đó cũng là ngòi nổ cho thói hay ghen,đa nghi của Trương Sinh nảy nở, phát triển, dẫn đến cái chết oan uổng của Vũ Nương.

– Đỉnh điểm của bi kịch là khi gia đình tan vỡ, bế tắc, Vũ Nương đã phải tìm đến cái chết để giải nỗi oan ức, thoát khỏi cuộc đời đầy đau khổ, oan nghiệt. Cái kết thúc tưởng là có hậu hoá ra cũng chỉ đậm tô thêm tính chất bi kịch trong thân phận Vũ Nương.

→ Xây dựng hình tượng Vũ Nương, một mặt nhà văn ngợi ca những phẩm chất tâm hồn đáng quý của người phụ nữ, mặt khác thể hiện thái độ cảm thông thương xót cho số phận bất hạnh của họ và cực lực lên án xã hội phong kiến đương thời bất công, phi lí chà đạp, rẻ rúng con người, đặc biệt là người phụ nữ. Qua nhân vật Vũ Nương, người đọc đủ thấy chiều sâu hiện thực và nhân đạo của ngòi bút Nguyễn Dữ. Những lí do nào đã dẫn đến bi kịch oan khuất mà Vũ Nương phải chịu?

2. Nhân vật Trương Sinh.

– Nhân vật Trương Sinh có vai trò làm nổi bật tình huống truyện, khắc sâu hơn tấn bi kịch cuộc đời của nhân vật Vũ Nương.

+ Trương Sinh được giới thiệu là con nhà nhà khá giả (hào phú) nhưng thất học, lại có tính hay đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá mức.

+ Tính đa nghi, hay ghen của Trương Sinh đã gây ra tấn bi kịch cho cuộc đời Vũ Nương, ép nàng đến cái chết thương tâm: tin lời con nhỏ, Trương Sinh đã nghi là vợ hư, về nhà đã đem lời mắng nhiếc, đánh đập Vũ Nương, bỏ qua mọi lời biện minh của Vũ Nương và khuyên răn của hàng xóm

Trương Sinh là một người chồng vũ phu, tàn nhẫn, gia trưởng, ghen tuông một cách mù quáng.

– Trương Sinh còn là một kẻ vô tình bạc nghĩa:

+ Vũ Nương vốn dĩ vợ chàng, là người có công phụng dưỡng mẹ già lúc chàng đi lính.Thế nhưng, Trương Sinh đã không mảy may tưởng đến.

+ Khi Vũ Nương chết, Trương Sinh tuy giận cũng động lòng thương, tìm vớt thây nàng nhưng không thấy. Sau đó cũng không cất công tìm thêm nữa.

+ Ngay cả khi nhận ra vợ bị oạn thì sự ăn năn, hối hận của Trương Sinh cũng rất mờ nhạt.

Nguyễn Dữ đã rất thành công khi xây dựng nhân vật Trương Sinh. Bản chất của Trương Sinh hay cũng chính là bản chất bất công thối nát của xã hội phong kiến đương thời đã chà đạp lên số phận con người. Tính cách cố chấp, bảo thủ của Trương Sinh phản ánh chế độ nam quyền, trọng nam khinh nữ đã gây nên biết bao tấn bi kịch thương tâm. Tác giả phê phán sự ghen tuông mù quáng, bày tỏ sự cảm thông và ngợi ca người phụ nữ đức hạnh mà phải chịu nhiều đau khổ, bất hạnh.

* Bình luận:

Trương Sinh được giới thiệu là con nhà hào phú nhưng ít học, có tính lại hay đa nghi, với vợ lại phòng ngừa quá múc. Như thế, cuộc hôn nhân với Vũ Nương là cuộc hôn nhân không bình đẳng.

– Cuộc chiến tranh gây nên sự xa cách, càng làm cho sự đa nghi, hồ đồ của Trương Sinh tăng lên. Khi từ biên ải trở về, tâm trạng Trương Sinh nặng nề, buồn đau vì mẹ mất. Lại thêm lời nói ngây thơ của Đản kích động tính ghen tuông, đa nghi của chàng bùng nổ như ngọn lửa, không thể kiểm soát nổi. Trương Sinh xử sự hồ đồ, độc đoán, mắng nhiếc vợ thậm tệ, không nghe lời phân trần; không tin cả những nhân chứng bênh vực cho nàng, vũ phu thô bạo, đẩy vợ đến cái chết oan uổng.

– Hành động bộc phát, thiếu suy nghĩ, không chịu phân tích sự việc một cách cẩn thận,… Đặc biệt là vô tình bạc nghĩa với chính người vợ bên gối của mình. Thấy vợ tự vẫn mà không ngăn cản hay động lòng thương. Khi vợ chết, có cho người tìm xác vợ nhưng làm không đến nơi đến chốn, chỉ coi thành việc đã qua. Trương Sinh tự ân đoạn nghĩa tuyệt với vợ, lại xem đó là một nỗi ô nhục lớn, một thất bại trong cuộc đời mình.

→ Trương Sinh là đại diện cho thế lực tàn ác của chế độ phong kiến đương thời. Bản chất của Trương Sinh hay cũng chính là bản chất bất công thối nát của xã hội phong kiến đương thời đã chà đạp lên số phận con người.

3. Ý nghĩa kết thúc truyện.

– Có thể coi đây là một kết thúc có hậu, thể hiện niềm mơ ước của tác giả về một kết thúc tốt lành cho người lương thiện, niềm khát khao một cuộc sống công bằng nới cái thiện cái đẹp sẽ chiến thắng cái xấu, cái ác.

– Nhưng sâu xa, cái kết thúc ấy không hề làm giảm đi tính chất bi kịch của tác phẩm. Sau giây phút trở về, nàng vẫn phải trở về chốn thủy cung, gia đình li tán. Hạnh phúc lớn nhất đời người đàn bà ấy là được sum họp bên chồng bên con nhưng cuối cùng vẫn không đạt được. Sự trở về trong thoáng chốc và lời từ biệt của nàng đã hé ra cái sự thực cay đắng là cái nhân gian đầy oan nghiệt, khổ đau này không có chốn dung thân cho người phụ nữ vì thế mà “Thiếp chẳng thể trở lại chốn nhân gian được nữa”.

– Tuy có những phẩm chất tâm hồn đáng quý nhưng Vũ Nương đã phải chịu một số phận cay đắng, oan nghiệt. Cuộc đời của Vũ Nương chính là tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến bất công phi lí đương thời chà đạp lên hạnh phúc của con người.

Xây dựng hình tượng Vũ Nương, một mặt nhà văn ngợi ca những phẩm chất tâm hồn đáng quý của người phụ nữ xưa, mặt khác thể hiện thái độ cảm thông thương xót cho số phận bất hạnh của họ và cực lực lên án xã hội phong kiến đương thời bất công, phi lí chà đạp, rẻ rúng con người đặc biệt là người phụ nữ.

4. Vai trò của những yếu tố kì ảo.

– Những yếu tố kì ảo trong tác phẩm:

+ Chuyện Phan Lang nằm mộng thả rùa.

+ Cuộc gặp gỡ giữa Phan Lang và Vũ Nương dưới thủy cung.

+ Vũ Nương hiện về uy nghi trên chiếc thuyền hoa mờ mịt khói sóng..

→ Là những yếu tố hoang đường nhưng vẫn rất thực và gần gũi.

– Ý nghĩa:

+ Hoàn chỉnh nét đẹp của Vũ Nương.

+ Kết thúc có hậu.

+ Không giảm tính bi kịch của tác phẩm, mà tăng giá trị tố cáo và niềm thương cảm của tác giả đối với số phận bi thảm của người phụ nữ.

* Bình luận:

– Yếu tố kì ảo tạo nên màu sắc li kì, hấp dẫn của các truyện truyền kì. Trong “Chuyện người con gái Nam Xương” có 3 chi tiết kì ảo dáng chú ý. Một là: Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa. Hai là: Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi yến và gặp, trò chuyện với Vũ Nương; được trở về dương thế. Ba là: Vũ Nương hiện về sau khi Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng ở bến Hoàng Giang….

– Ba chi tiết này góp phần làm tăng sức hấp dẫn bằng sự li kì và trí tượng tượng phong phú; hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương, một người dù đã ở thế giới khác, vẫn quan tâm đến chồng con, nhà cửa, phần mộ tổ tiên, khao khát được phục hồi danh dự. Chi tiết kì ảo giúp tác giả có thể tạo nên một kết thúc phần nào có hậu, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về sự công bằng: người tốt dù có phải trải qua bao oan khuất, cuối cùng sẽ được minh oan. Xây dựng các chi tiết kì ảo hợp lí khẳng định niềm cảm thương của tác giả đối với sự bi thảm của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

5. Ý nghĩa chi tiết cái bóng.

– Cái bóng là một chi tiết đặc sắc, là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo làm cho câu chuyện hấp dẫn hơn so với truyện cổ tích.

– Cái bóng là đầu mối, điểm nút của câu chuyện. Thắt nút là nó, mà mở nút cũng là nó.

– Nó góp phần thể hiện tính cách nhân vật:

+ Bé Đản ngây thơ.

+ Trương Sinh hồ đồ, đa nghi.

+ Vũ Nương yêu thương chồng con.

– Cái bóng góp phần tố cáo xã hội phong kiến xung tàn, khiến hạnh phúc của người phụ nữ hết sức mong manh.

* Bình luận:

–  Trong nghệ thuật xây dựng tình huống, cái bóng là một chi tiết đặc sắc, là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo làm cho câu chuyện hấp dẫn hơn so với truyện cổ tích. Cái bóng là đầu mối, vừa thắt nút vừa mở nút của câu chuyện. Trong việc xây dựng nhân vật, chiếc bóng góp phần thể hiện tính cách nhân vật: Bé Đản hồn nhiên, ngây thơ, Trương Sinh hồ đồ, đa nghi, Vũ Nương yêu thương chồng con.

→ Cái bóng biểu tượng cho hạnh phúc mong manh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, họ chỉ là chiếc bóng bên người đàn ông, chiếc bóng góp phần tố cáo xã hội phong kiến suy tàn.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Nghệ thuật viết truyện điêu luyện, kết cấu độc đáo, sáng tạo: thắt nút và mở nút hợplý. Diễn biến tâm lý nhân vật được khắc hoạ rõ nét. Xây dựng tình huống truyện đặc sắc, kết hợp tự sự, trữ tình, kịch với các chi tiết tưởng tượng, kì ảo tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn của truyện.

– Nội dung: Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, “Chuyện người con gái Nam Xương” thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ. Tác phẩm thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân: người tốt bao giờ cũng được đền trả xứng đáng, dù chỉ là ở một thế giới huyền bí.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Tìm bố cục của truyện.
Câu 2: Nhân vật Vũ Nương được miêu tả trong hoàn cảnh nào? Ở từng hoàn cảnh, Vũ Nương bộc lộ những đức tính gì?
Câu 3: Vì sao Vũ Nương phải chịu nỗi oan khuất? Từ đó em cảm nhận được điều gì về thân phận của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến?
Câu 4: Hãy nêu nhận xét về cách dẫn dắt tình tiết câu chuyện, những lời trần thuật và những lời đối thoại trong truyện?
Câu 5: Tìm những yếu tố kì ảo trong truyện. Đưa những yếu tố kì ảo vào một câu chuyện quen thuộc, tác giả nhằm thể hiện điều gì?


5. Kí sự “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” (Phạm Đình Hổ) – Giảm tải.


6. Chương truyện “Hồi thứ 14″ (trích “Hoàng Lê nhất thống chí” – Ngô Gia Văn Phái).

I. Tác giải, tác phẩm.

1. Tác giả:

Ngô gia văn phái là một nhóm các tác giả dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai (Hà Tây). Trong đó, có đóng góp nhiều nhất trong việc biên soạn bộ “Hoàng Lê nhất thống chí” là hai tác giả chính là Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du

+ Ngô Thì Chí (1753-1788) là người viết 7 hồi đầu của “Hoàng Lê nhất thống chí”.

+ Ngô Thì Du (1772-1840), cháu gọi Ngô Thì Sĩ là bác ruột, là người viết tiếp 7 hồi cuối của Hoàng Lê nhất thống chí (trong đó có hồi 14).

2. Tác phẩm.

“Hoàng Lê nhất thống chí” là một tác phẩm viết bằng chữ Hán ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê. Tác phẩm không chỉ dừng lại ở sự thống nhất của vương triều nhà Lê mà còn được viết tiếp, tái hiện một giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam vào 30 năm cuối thế kỉ 18 và mấy năm đầu thế kỉ 19. Cuốn tiểu thuyết bao gồm 17 hồi.

– Tác phẩm có tính chất chỉ ghi chép sự kiện lịch sử xã hội có thực, nhân vật thực, địa điểm thực. Là cuốn tiểu thuyết lịch sử – viết bằng chữ Hán theo lối chương hồi. Tác phẩm là bức tranh hiện thực rộng lớn về xã hội phong kiến Việt Nam khoảng 30năm cuối thế kỷ XVIII và mấy năm đầu thế kỷ XIX, trong đó hiện lên cuộc sống thối nátcủa bọn vua quan triều Lê – Trịnh. Chiêu Thống lo cho cái ngai vàng mục rỗng của mình, cầu viện nhà Thanh kéo quân vào chiếm Thăng Long. Người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, lập nên triều đại Tây Sơn.

– Đoạn trích trong SGK là “Hồi thứ 14” của cuốn tiểu thuyết này.

– Bố cục: 3 phần:

+ Phần 1: (Từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp): Được tin báo quân Thanh chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế thân chinh cầm quân dẹp giặc

+ Phần 2: (“Vua Quang Trung tự mình dốc suất đại binh… vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long rồi kéo vào thành”): Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung

+ Phần 3: (Từ “Lại nói Tôn Sĩ Nghị và vua Lê… đến hết”): Sự đại bại của tướng nhà Thanh và tình trạng thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống

Tóm tắt: Nguyễn Huệ nghe tin quân Thanh đến Thăng Long giận lắm liền họp các tướng sĩ định thân chinh cầm quân đi ngay. Tướng sĩ xin Bắc Bình Vương lên ngôi để làm yên lòng người. Nguyễn Huệ cho đắp đàn trên núi tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung. Ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân hạ lệnh xuất quân. Đến Nghệ An, Quang Trung cho tuyển thêm hơn 1 vạn lính mở cuộc duyệt binh. Đến Tam Điệp mở tiệc khao quân, chia quân sĩ làm 5 đạo. Đúng tối 30 tết lập tức lên đường. Trên đường tiến quân ra Bắc, những toán quân Thanh do thám bị bắt sống. Ngày 03 tháng giêng năm Kỉ Dậu, đồn Hà Hồi bị hạ. Mờ sáng ngày 05 tiến đánh đồn Ngọc Hồi.Quân Thanh đại bại. Thái thú Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn. Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt cuống cuồng chạy mất mật. Quân Thanh tranh nhau qua cầu tháo chạy rơi xuống nước nhiều không kể xiết. Vua tôi Lê Chiêu Thống dìu dắt nhau chạy trốn sang đất Bắc.

Nội dung, ý nghĩa: Tác phẩm có tính chất chỉ ghi chép sự kiện lịch sử xã hội có thực, nhân vật thực, địa điểm thực. Là cuốn tiểu thuyết lịch sử viết bằng chữ Hán theo lối chương hồi. Tác phẩm là bức tranh hiện thực rộng lớn về xã hội phong kiến Việt Nam khoảng 30 năm cuối thế kỷ XVIII và mấy năm đầu thế kỷ XIX, trong đó hiện lên cuộc sống thối nát của bọn vua quan triều Lê – Trịnh. Chiêu Thống lo cho cái ngai vàng mục rỗng của mình, cầu viện nhà Thanh kéo quân vào chiếm Thăng Long. Người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, lập nên triều đại Tây Sơn.

II. Phân tích văn bản.

1. Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ:

a. Con người hành động với tính cách mạnh mẽ, quyết đoán:

– Trong mọi tình huống, Nguyễn Huệ luôn thể hiện là con người hành động với tính cách mạnh mẽ, quyết đoán. Ông luôn xông xáo, giải quyết nhanh gọn và có chủ đích. Điều đó thể hiện qua từng thái độ, từng hành động của nhân vật:

+ Nhận được tin giặc chiếm Thăng Long thì “giận lắm”, “định thân chinh cầm quân đi ngay”.

+ Chỉ trong vòng hơn một tháng, Nguyễn Huệ đã làm rất nhiều việc lớn:

  • Tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế để “chính vị hiệu”,”giữ lấy lòng người”.
  • Tự mình “đốc suất đạo binh” ra Bắc.
  • Tìm gặp người cống sĩ ở huyện La Sơn là Nguyễn Thiếp để hỏi kế sách.
  • Tuyển mộ quân sĩ và “mở cuộc duyệt binh lớn” ở Nghệ An, phủ dụ tướng sĩ.

b. Con người có trí tuệ sáng suốt, nhạy bén trước thời cuộc:

– Sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc, thế tương quan giữa ta và địch. Trong lời phủ dụ quân sĩ ở Nghệ An:

+ Nguyễn Huệ đã khẳng định chủ quyền của dân tộc đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng và lên án hành động xâm lăng phi nghĩa, trái đạo trời của quân Thanh, nêu bật dã tâm của chúng bụng dạ ắt khác… cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải.

+ Nhắc lại truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.

+ Kêu gọi quân lính đồng tâm hiệp lực, ra kỉ luật nghiêm.

→ Lời phủ dụ có thể xem như một bài hịch ngắn gọn mà ý tứ phong phú, sâu xa, nó tác động, kích thích lòng yêu nước, ý chí quật cường của dân tộc.

– Sáng suốt trong việc xét đoán và dùng người: Thể hiện qua cách xử trí vừa có lí vừa có tình với các tướng sĩ tại Tam Điệp. Ông rất hiểu tướng sĩ, hiểu tường tận năng lực của bề tôi, khen chê đúng người đúng việc.

c. Con người có ý chí quết thắng và tầm nhìn xa trông rộng:

– Mới khởi binh, chưa lấy được tấc đất nào, vậy mà Quang Trung đã tuyên bố chắc nịch “phương lược tiến đánh đã có sẵn”, “Chẳng qua mươi ngay có thể đuổi được người Thanh”.

– Biết trước kẻ thù “lớn gấp mười nước mình”, bị thua một trận “ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù” khiến việc binh đao không bao giờ dứt nên Nguyễn Huệ còn tính sẵn cả kế hoạch ngoại giao sau chiến thắng để có thời gian “yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng”, làm cho nước giàu quân mạnh.

d. Con người có tài dụng binh như thần:

– Cuộc hành quân thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn do vua Quang Trung chỉ huy:

+ Ngày 25 tháng Chạp xuất quân từ Phú Xuân (Huế).

+ Ngày 29 đã tới Nghệ An, vượt khoảng 350km qua núi, qua đèo. Đến Nghệ An, vừa tuyển quân, tổ chức đội ngũ, vừa duyệt binh, chỉ trong vòng một ngày.

+ Hôm sau, tiến quân ra Tam Điệp (cách khoảng 150km). Đêm 30 tháng Chạp đã “lập tức lên đường”, tiến quân ra Thăng Long. Quang Trung định kế hoạch mồng 7 tháng Giêng sẽ vào ăn Tết ở Thăng Long. Trên thực tế, đã thực hiện kế hoạch sớm hai ngày: trưa mồng 5 đã vào Thăng Long.

– Tổ chức các trận đánh ở Hà Hồi, Ngọc Hồi hợp lí, ít hao tổn binh lực.

e. Hình ảnh vị anh hùng lẫm liệt trong chiến trận:

– Là một tổng chỉ huy chiến dịch thực sự: thân chinh cầm quân ra trận, vừa hoạch định chiến lược, sách lược, vừa trực tiếp tổ chức quân sĩ, bài binh bố trận, vừa tự mình thống lĩnh một mũi tiến công, cưỡi voi đi đốc thúc, xông pha nơi trận tiền.

– Hình ảnh người thủ lĩnh ấy đã làm quân sĩ nức lòng, tạo niềm tin quyết chiến quyết thắng, đồng thời khiến kẻ thù kinh hồn bạt vía, rơi vào cảnh đại bại nhanh chóng.

2. Hình ảnh bọn xâm lược và lũ tay sai bán nước.

a) Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh:

– Không đề phòng, không được tin cấp báo.

– Ngày mồng 4, quân giặc được tin Quang Trung đã vào đến Thăng Long:

+ Tôn Sĩ Nghị sợ mất mặt, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, nhằm hướng bắc mà chạy.

+ Quân sĩ hoảng hồn, tranh nhau qua cầu, xô nhau xuống sông, sông Nhị Hà bị tắc nghẽn.

b) Số phận thảm hại của bọn vua tôi phản nước, hại dân:

– Vua Chiêu Thống vội cùng bọn thân tín “đưa thái hậu ra ngoài”, chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền của dân để qua sông, “luôn mấy ngày không ăn”.

– Đuổi kịp Tôn Sỹ Nghị, vua tôi “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt” đến mức “Tôn Sỹ Nghị cũng lấy làm xấu hổ”.

3. Ngòi bút của tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy (một của quân tướng nhà Thanh và một của vua tôi Lê Chiêu Thống).

– Tất cả đều tả thực, với những chi tiết cụ thể, nhưng âm hưởng lại khác nhau:

+ Đoạn văn trên nhịp điệu nhanh, mạnh, hối hả, ngòi bút miêu tả khách quan nhưng vẫn hả hê sung sướng của người thắng trận trước sự thảm bại của lũ cướp nước

+ Đoạn văn dưới nhịp điệu chậm hơn, miêu tả tỉ mỉ giọt nước mắt của người thổ hào,nước mắt tủi hổ của vua tôi nhà Lê… Âm hưởng có phần ngậm ngùi, chua xót.

– Vì các tác giả đều là những cựu thần của nhà Lê, nên không thể không có sự thương xót, ngậm ngùi cho tình cảnh của vua tôi Lê Chiêu Thống. Đấy là điều tạo nên sự khác biệttrong thái độ và cách miêu tả hai cuộc tháo chạy.

III. TỔNG KẾT.

– Nghệ thuật: Cách trần thuật đặc sắc; ghi lại những sự kiện lịch sử diễn biến gấp gáp, khẩn trương qua từng mốc thời gian. Khắc hoạ một cách rõ nét hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ giàu chất sử thi. Kể sự kiện lịch sử rành mạch chân thực, khách quan, kết hợp với miêu tả sử dụng hình ảnh so sánh độc lập.

– Nội dung:  Với cảm quan lịch sử và lòng tự hào dân tộc, các tác giả đã tái hiện một cách chân thực, sinh động hình ảnh Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.

LUYỆN TẬP:

Câu 1 : Tìm đại ý và bố cục của đoạn trích.
Câu 2: Qua đoạn trích tác phẩm, em cảm nhận hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ như thế nào? Theo em, nguồn cảm hứng nào đã chi phối ngòi bút tác giả khi tạo dựng hình ảnh người anh hùng dân tộc này?
Câu 3: Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân, được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về lối văn trần thuật ở đây?
Câu 4: Ngòi bút của tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy có gì khác biệt. Hãy giải thích sự khác biệt đó.
Câu 5: Dựa vào tác phẩm, hãy viết đoạn văn ngắn miêu tả lại chiến công thần tốc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung từ tối 30 đến ngày mồng 5 tháng Giêng năm Kỉ Dậu (1789)


7. Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Phần một: TÁC GIẢ NGUYỄN DU.

I. CUỘC ĐỜI.

– Nguyễn Du sinh năm 1765 tại Thăng Long, tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên. Tổ tiên Nguyễn Du vốn từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn nam (nay thuộc Hà Tây) sau di cư vào xã Nghi Xuân, huyện Tiên Điền (nay là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh). Cha Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1708-1775) và mẹ là Trần Thị Tần (1740-1778), quê Bắc Ninh. Vợ Nguyễn Du là con gái Đoàn Nguyễn Thục, quê ở Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Nguyễn Du may mắn được tiếp nhận truyền thống văn hoá của nhiều vùng quê khác nhau. Đó là một tiền đề thuận lợi cho sự tổng hợp nghệ thuật của nhà đại thi hào dân tộc.

– Thời thơ ấu và niên thiếu, Nguyễn Du sống tại Thăng Long trong một gia đình phong kiến quyền quý. Thân phụ ông đã có lúc giữ chức Tể tướng trong triều đình Lê-Trịnh. Nhưng mới 10 tuổi đã mồ côi cha, năm 13 tuổi, mồ côi mẹ, Nguyễn Du đến sống với người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản (1734-1786). Nguyễn Khản từng làm quan tới chức Tham tụng, nổi tiếng phong lưu một thời, thân với chúa Trịnh Sâm và là người rất mê hát xướng. Trong thời gian này Nguyễn Du có nhiều điều kiện thuận lợi để dùi mài kinh sử, có dịp hiểu biết về cuộc sống phong lưu, xa hoa của giới quý tộc phong kiến – những điều đó đã để lại dấu ấn trong sáng tác văn học của ông sau này.

– Sự xuất hiện khá đậm nét hình tượng những người ca nhi, kĩ nữ với tiếng đàn giọng hát và thân phận đau khổ của họ trong sáng tác của Nguyễn Du rất có thể là sự ám ảnh từ những gì ông đã chứng kiến trong gia đình người anh. Năm 1783, Nguyễn Du thi hương đỗ tam trường (tú tài) và được tập ấm[1] nhận một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên. Nhưng cuộc đời yên ả không kéo dài được bao lâu. Do nhiều biến cố lịch sử, từ năm 1789, Nguyễn Du đã rơi vào cuộc sống đầy khó khăn gian khổ hơn chục năm trước khi ra làm quan cho nhà Nguyễn. Những trải nghiệm trong môi trường quý tộc và cuộc sống phong trần đem lại cho Nguyễn Du một vốn sống thực tế phong phú, đã thôi thúc ông suy ngẫm nhiều về xã hội, về thân phận con người, tạo tiền đề quan trọng cho sự hình thành tài năng và bản lĩnh sáng tạo văn chương. Hơn mười năm lăn lộn chật vật ở các vùng nông thôn khác nhau cũng là dịp Nguyễn Du học hỏi, nắm vững ngôn ngữ nghệ thuật dân gian: “Thôn ca sơ học tang ma ngữ” (Tiếng hát nơi thôn dã giúp ta biết ngôn ngữ trong nghề trồng dâu trồng gai). Đây là vốn hiểu biết rất cần thiết cho sự hình thành phong cách ngôn ngữ của các sáng tác bằng chữ Nôm, đặc biệt là Truyện Kiều.

– Sau nhiều năm sống hết sức khó khăn chật vật ở các vùng quê khác nhau, đến năm 1802, Nguyễn Du đã ra làm quan cho nhà Nguyễn. Hoạn lộ của Nguyễn Du khá thuận lợi. Năm 1802, ông nhậm chức Tri huyện tại huyện Phù Dung (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên), sau đổi sang Tri phủ Thường Tín (nay thuộc Hà Tây). Từ năm 1805 đến năm 1809, ông được thăng chức Đông Các điện học sĩ, năm 1809, được bổ làm Cai bạ dinh Quảng Bình. Năm 1813, ông được thăng Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc. Sang Trung Quốc Nguyễn Du trực tiếp tiếp xúc với một nền văn hoá mà từ nhỏ ông đã quen thuộc qua nhiều sử sách và thơ văn. Chuyến đi sứ để lại những dấu ấn sâu đậm trong thơ văn, đặc biệt góp phần nâng tầm khái quát của những tư tưởng về xã hội và thân phận con người trong sáng tác của ông. Năm 1820, Nguyễn Du lại được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc nhưng lần này chưa kịp lên đường thì ông đã mất vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (18-9-1820).

– Năm 1965, Hội đồng Hoà bình thế giới đã công nhận Nguyễn Du là danh nhân văn hoá thế giới và ra quyết định kỉ niệm trọng thể nhân dịp 300 năm năm sinh của ông.

II. SỰ NGHIỆP VĂN HỌC.

1. Các sáng tác chính.

a) Sáng tác bằng chữ Hán: Hiện nay giới nghiên cứu đã sưu tầm được 249 bài thơ chữ Hán do Nguyễn Du viết vào các thời kì khác nhau:

“Thanh Hiên thi tập” (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi ra làm quan nhà Nguyễn.

“Nam trung tạp ngâm” (các bài thơ ngâm khi ở phương Nam) có 40 bài viết thòi gian làm quan ở Huế và Quảng Bình, những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh, quê hương ông.

“Bắc hành tạp lục” (Ghi chép trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ sáng tác trong chuyến đi sứ Trung Quốc.

– Thơ chữ Hán của Nguyễn Du thể hiện tư tưởng, tình cảm, nhân cách của ông. Các bài thơ trong “Thanh Hiên thi tập”“Nam trung tạp ngâm” tuy biểu hiện một tâm trạng buồn đau, day dứt những đã cho thấy rõ khuynh hướng quan sát, suy ngẫm về cuộc đời, về xã hội của tác giả. Trong “Bắc hành tạp lục”, những điểm đặc sắc của tư tưởng, tình cảm Nguyễn Du được thể hiện rõ ràng hơn.

– Thơ Nguyễn Du viết khi đi sứ Trung Quốc có ba nhóm đáng chú ý:

+ Ca ngợi, đồng cảm với các nhân cách cao thượng và phê phán những nhân vật phản diện.

+ Phê phán xã hội phong kiến bất công, tàn bạo, đã chà đạp lên nhân cách, nhân phẩm và quyền sống của con người.

+ Cảm thông với những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội, bị đoạn đày hắt hủi. Xét về đề tài và cảm hứng sáng tác, có nhiều điểm tương đồng giữa Truyện Kiều và các bài thơ chữ Hán trong Bắc hành tạp lục.

b) Sáng tác bằng chữ Nôm: Nguyễn Du có “Đoạn trường tân thanh” (còn gọi là “Truyện Kiều”) và “Văn chiêu hồn”.

– “Truyện Kiều” được sáng tác trên cơ sở cốt truyện của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc là “Kim Vân Kiều truyện”. Tuy nhiên, Nguyễn Du đã sáng tạo nên một tác phẩm mới, với cảm hứng mới, nhận thức lí giải nhân vật theo cách của riêng ông, với thể loại truyện thơ khác hẳn “Kim Vân Kiều truyện” là tác phẩm tự sự văn xuôi. Trên một nền tảng nhân đạo chủ nghĩa vững chãi, với tài năng điêu luyện, với sự lựa chọn thể loại truyện thơ kết hợp nhuần nhuyễn cả chất tự sự và chất trữ tình, với sự am hiểu đồng thời cả ngôn ngữ bình dân cũng như ngôn ngữ văn học bác học, Nguyễn Du đã sáng tạo nên một kiệt tác độc nhất vô nhị của văn học trung đại Việt Nam.

– “Truyện Kiều” là truyện thơ viết bằng thể thơ lục bát. “Văn chiêu hồn” nguyên tên là “Văn tế thập loại chúng sinh” (Văn tế mười loại chúng sinh) viết bằng thể thơ song thất lục bát. Bài văn tế thể hiện một phương diện quan trọng của chủ nghĩa nhân đạo trong sáng tác Nguyễn Du. Theo quan niệm xưa, hồn của những người chết bất hạnh cần được siêu sinh tịnh độ. Nguyễn Du viết bài thơ chiêu hồn cho nhiều hạng người khác nhau, kể cả những người thuộc tầng lớp phong kiến quý tộc. Song tấm lòng nhân ái của nhà thơ vẫn hướng về những thân phận nhỏ bé, dưới đáy xã hội như các em nhỏ, các kĩ nữ, những anh học trò nghèo. Do giá trị nhân đạo sâu sắc mà Văn chiêu hồn đã được phổ biến rộng rãi, kể cả trong phạm vi nhà chùa.

2. Một vài đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Du.

a) Đặc điểm nội dung:

– Nếu so với nhiều nhà nho xưa làm thơ để nói chí (hướng về lí tưởng người quân tử) thì nét nổi bật xét về nội dung của sáng tác Nguyễn Du là sự đề cao xúc cảm, tức đề cao tình. Nội dung quan trọng hàng đầu trong thơ chữ Hán, Truyện Kiều, Văn chiêu hồn là tình cảm chân thành, là sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những con người nhỏ bé, bất hạnh, người phụ nữ. Người ăn mày, người mù hát rong, những ca nhi, kĩ nữ… vốn bị xã hội cũ coi rẻ được nhà thơ nói đến bẳng một tấm lòng trân trọng, thương yêu. Những khái quát của ông về cuộc đời, về thân phận con người thường mang tính triết lí cao và thấm đẫm cảm xúc. Nhà thơ triết lí với nỗi đau về thân phận bất hạnh của phụ nữ trong xã hội cũ: “Đau đớn thay phận đàn bà – Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” (Truyện Kiều), “Đau đớn thay phận đàn bà – Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?” (Văn chiêu hồn).

– Ông khái quát bản chất tàn bạo của xã hội phong kiến, bộc lộ sự phẫn nộ đối với những kẻ đã hãm hại Khuất Nguyên : “Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan – Đại địa xứ xứ giai Mịch La[2]” (Người đời sau ai cũng là Thượng Quan – Trên mặt đất, đâu cũng có sông Mịch La). Ý nghĩa xã hội sâu sắc của thơ ca Nguyễn Du gắn chặt với tình đời, tình người bao la của nhà thơ. Đặc biệt, cần lưu ý đến cái nhìn nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du vì ông là người đầu tiên trong văn học trung đại đã nêu lên một cách tập trung vấn đề về thân phận những người phụ nữ có sắc đẹp và tài năng văn chương nghệ thuật (thơ, nhạc,…). Ông đã đề cập đến một vấn đề rất mới, nhưng cũng rất quan trọng của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học: xã hội cần phải trân trọng những giá trị tinh thần, do đó cần phải trân trọng chủ thể sáng tạo ra những giá trị tinh thần đó. Nguyễn Du là tác giả tiêu biểu của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX còn vì ông đề cao hạnh phúc của con người tự nhiên, trần thế. “Truyện Kiều” thấm đẫm tinh thần ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp kì diệu của tình yêu lứa đôi.

b) Đặc điểm nghệ thuật:

– Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác. Ông nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc, làn thơ theo thể ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật và ca, hành (nhạc phủ),…
Thơ chữ Hán của ông ở thể thơ nào cũng có bài xuất sắc. Đặc biệt phải nói đến tài năng nghệ thuật của nhà thơ trong các sáng tác bằng chữ Nôm.

– Nguyễn Du đã góp phần trau dồi ngôn ngữ văn học dân tộc, làm giàu cho tiếng Việt qua việc Việt hoá nhiều yếu tố ngôn ngữ ngoại nhập. Đến “Truyện Kiều” của ông, thể thơ lục bát đã chứng tỏ khả năng chuyển tải nội dung tự sự trữ tình to lớn của thể loại truyện thơ.

LUYỆN TẬP.

Câu 1. Anh (chị) có nhận xét gì về cuộc đời của Nguyễn Du? Những đặc điểm về cuộc đời của Nguyễn Du góp phần lí giải những thành công trong sáng tác của nhà thơ như thế nào?
Câu 2. Cho biết các sáng tác chính của Nguyễn Du và đặc điểm chủ yếu của chúng.

Ghi nhớ:

– Nguyễn Du là nhà văn nhân đạo tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX. Ông có đóng góp to lớn đối với văn học dân tộc về nhiều phương diện nội dung và nghệ thuật, xứng đáng được gọi là thiên tài văn học.
– Truyện Kiều là tác phẩm tiêu biểu nhất của thể loại chữ Nôm[1] trong văn học trung đại Việt Nam. Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa theo cốt truyện của Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Tuy nhiên, phần sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức lớn. Chính điều này mới làm nên giá trị kiệt tác Truyện Kiều.

Phần 2: TRUYỆN KIỀU.

1. Tóm tắt tác phẩm.

Phần thứ nhất: Gặp gỡ và đính ước

Thuý Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, con gái đầu lòng của một gia đình trung lưu lương thiện, sống trong cảnh “êm đềm trướng rủ màn che” bên cạnh cha mẹ và hai em là Thuý Vân và Vương Quan. Trong buổi du xuân nhân tiết Thanh minh, Thuý Kiều gặp chàng Kim Trọng “phong tư tài mạo tót vời”. Giữa hai người chớm nở một mối tình đẹp. Kim Trọng đến ở trọ cạnh nhà Thuý Kiều. Nhân trả chiếc thoa rơi, Kim Trọng đã gặp Kiều bày tỏ tâm tình. Hai người chủ động, tự do đính ước với nhau.

Phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc.

Trong khi Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình Kiều mắc oan, Kiều nhờ Vân trả nghĩa cho Kim Trọng còn mình thì bán mình chuộc cha. Thuý Kiều bị bọn buôn người là Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào lầu xanh. Sau đó nàng được Thúc Sinh, một khách làng chơi hào phóng, cứu vớt khỏi cuộc đời kĩ nữ. Nhưng rồi Kiều bị vợ cả Thúc Sinh là Hoạn Thư ghen tuông, đày đoạ. Thuý Kiều phải trốn đến nương nhờ nơi cửa Phật. Sư Giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà – kẻ buôn người như Tú bà, nên Kiều lần thứ hai rơi vào lầu xanh. Ở đây, Thuý Kiều gặp Từ Hải, một anh hùng “đội trời đạp đất”. Từ Hải lấy Kiều, giúp nàng báo ân báo oán. Do mắc lừa tên Tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến, Từ hải bị giết, Thuý Kiều phải hầu đàn, hầu rượu Hồ Tôn Hiến rồi bị ép gả cho viên thổ quan. Đau đớn, tủi nhục, Kiều trẫm mình ở sông Tiền Đường. Nhưng nàng được sư Giác Duyên cứu và lần thứ hai Kiều nương nhờ nơi cửa Phật.

Phần thư ba: Đoàn tụ

Sau nửa năm về Liêu Dương chịu tang chú, Kim Trọng trở lại tìm Kiều. Hay tin gia đình Kiểu bị tai biến và nàng phải bán mình chuộc cha, chàng đau đớn vô cùng. Tuy kết duyên với Thuý Vân nhưng Kim Trọng chẳng thể nào nguôi được mối tình đầu say đắm. Chàng quyết cất công lặn lội đi tìm Thuý Kiều. Nhờ gặp được sư Giác Duyên mà Kim, Kiều tìm được nhau, gia đình đoàn tụ. chiều ý mọi người Thuý Kiều nối duyên lại với Kim Trọng nhưng cả hai cùng nguyện ước “duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy”.

2. Giá trị nội dung nghệ thuật.

– Về nội dung: “Truyện Kiều” có hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. “Truyện Kiều” là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo, là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do, khát vọng tình yêu, hạnh phúc…

– Về nghệ thuật: Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ, thể loại. Với “Truyện Kiều”, ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ. Với “Truyện Kiều”, nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc hoạ tính cách và miêu tả tâm lí con người.

–  Kiệt tác “Truyện Kiều” hàng trăm năm nay đã được lưu truyền rộng rãi và có sức chinh phục lớn đối với mọi tầng lớp độc giả. Tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được giới thiệu ở nhiều nước trên thế giới.

LUYỆN TẬP.

Câu 1. Nêu những nét chính về thời đại, gia đình, cuộc đời Nguyễn Du đã có ảnh hưởng đến việc sáng tác Truyện Kiều.
Câu 2. Kể tóm tắt Truyện Kiều theo ba phần của tác phẩm.

Ghi nhớ:

– Nguyễn Du là thiên tài văn học, danh nhân văn hoá, nhà nhân đạo chủ nghĩa, có đóng góp to lớn đối với sự phát triển văn học Việt Nam.
– Truyện Kiều là kiệt tác văn học, kết tinh giá trị nhân đạo và thành tựu nghệ thuật tiêu biểu của văn học dân tộc.

Chú thích:

[1] Truyện Nôm: loại truyện thơ viết bằng chữ Nôm. Truyện Nôm có khi được viết bằng thể thơ Đường luật nhưng phổ biến nhất là viết bằng thể thơ lục bát. Có hai loại truyện Nôm: truyện Nôm bình dân hấu hết không có tên tác giả, được viết trên cơ sở truyện dân gian; truyện Nôm bác học phần nhiều có tên tác giả, được viết trên cơ sở cốt truyện có sẵn của văn học Trung Quốc hoặc do tác giả sáng tạo ra. Truyện Nôm phát triển mạnh mẽ nhất ở cuối thế kỉ XVIII và thế kỉ XIX.


8. Đoạn trích Chị em Thúy Kiều (trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du).

I. Tác giả, tác phẩm.

1. Tác giả Nguyễn Du (xem ở bài Truyện kiều của Nguyễn Du).

2. Tác phẩm.

– Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần mở đầu của phần 1: Gặp gỡ và đính ước.

– Bố cục 4 phần:

+ Phần 1 (4 câu đầu): giới thiệu khái quát hai chị em Thúy Kiều.

+ Phần 2 (4 câu tiếp): gợi tả vẻ đẹp của Thúy Vân.

+ Phần (12 câu tiếp): gợi tả vẻ đẹp và tài năng của Thúy Kiều.

+ Phần (4 câu cuối): Nhận xét chung về cuộc sống yên bình của hai chị em.

– Nội dung: Đoạn trích đã khắc họa rõ nét chân dung tuyệt mĩ của chị em Thúy Kiều, ca ngợi vẻ đẹp, tài năng và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh của Thúy Kiều, đây là biểu hiện cho cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du.

II. Phân tích đoạn trích.

1. Giới thiệu khái quát hai chị em Thúy Kiều (4 câu thơ đầu):

– Chỉ với hai câu thơ lục bát ngắn ngủi, tác giả đã giới thiệu được hai nhân vật và vị trí của hai người một cách đầy tự nhiên: “Đầu lòng hai ả tố nga / Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân”.

“Mai cốt cách tuyết tinh thần”: bút pháp ước lệ gợi vẻ thanh cao duyên dáng, trong trắng của hai chị em thiếu nữ, đó là cốt cách như mai, tinh thần như tuyết

“Mối người một vẻ mười phân vẹn mười”: Mỗi người mang nét riêng nhưng cả hai đều tài đều sắc.

* Bình luận:

– Trước hết, Nguyễn Du giới thiệu chung về hai chị em trong gia đình, lời giời thiệu cổ điển, trang trọng rằng họ là “tố nga”, đẹp và trong sáng. Tiếp đến, tác giả miêu tả chung vẻ đẹp của hai chị em trong một nhận xét mang tínhchất lí tưởng hóa, tuyệt đối hóa (đẹp một cách hoàn thiện).

– Với bút pháp ước lệ tượng trưng, tác giả đã gợi tả vẻ đẹp duyên dáng, thanh tao, trong trắng của người thiếu nữ ở hai chị em Thúy Kiều: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần”. Vóc dáng mảnh mai, tao nhã như mai; tâm hồn trắng trong như tuyết. Hai chị em đều tuyệt đẹp “mười phân vẹn mười”, song mỗi người lại mang nét đẹpriêng khác nhau “mỗi người một vẻ”. Đó là vẻ đẹp hài hòa đến độ hoàn mĩ cả hình thức lẫn tâm hồn, cả dung nhan vàđức hạnh. Bốn câu thơ đầu là bức tranh nền để từ đó tác giả dẫn người đọc lần lượt chiêm ngưỡng sắc đẹp của từng người.

2. Vẻ đẹp của Thúy Vân (4 câu thơ tiếp theo):

– Câu thơ mở đầu khái quát vẻ đẹp của Thúy Vân, “trang trọng” gợi vẻ cao sang, quý phái

– Vẻ đẹp của Thúy Vân được so sánh với những thứ đẹp nhất trên đời: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc

– Chân dung Thúy Vân được miêu tả toàn vẹn từ mái tóc đến nụ cười, giọng nói, phong thái ứng xử nghiêm trang: khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, lông mày sắc nét như ngài, miệng tươi như hoa, đoạn trang như ngọc,…

– Chân dung dự đoán số phận: “mây thua”, “tuyết nhường” → số phận êm đềm, bình yên.

* Bình luận:

– Câu thơ mở đầu: “Vân xem trang trọng khác vời” đã giới thiệu khái quát vẻ đẹp củaThúy Vân: một vẻ đẹp cao sang, quí phái.- Bút pháp ước lệ tượng trưng, phép ẩn dụ, nhân hoá: “khuôn trăng”, “nét ngài”,“hoa cười ngọc thốt”, “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”. Vẻ đẹp của Thúy Vân là vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu; tính cách thì đoan trang, thùy mị: khuôn mặt đầy đặn, tươi sáng như trăng đêm rằm; lông mày sắc nét như mày ngài; miệng cười tươi thắm như hoa; giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngọc ngà là những lời đoan trang, thùy mị. Mái tóc của nàng đen mượt hơn mây, da trắng mịn màng hơn tuyết. Vân đẹp có một vẻ đẹp tạo sự hòa hợp, êm đềm. Qua miêu tả, Nguyễn Du ngầm dự báo về một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ.

3. Vẻ đẹp tài sắc vẹn toàn của Thúy Kiều (12 câu thơ tiếp theo):

“Kiều càng sắc sảo mặn mà”: khái quát đặc điểm của nhân vật.

– Tác giả sử dụng những hình ảnh ước lệ “thu thủy”, “xuân sơn” : gợi đôi mắt đẹp trong sáng, long lanh, linh hoạt như nước mùa thu , lông mày thanh tú như nét núi mùa xuân → phẩm chất tinh anh của tâm hồn, trí tuệ.

“Hoa ghen… kém xanh”: Vẻ đẹp khiến thiên nhiên nổi giận → dự báo cuộc đời lắm trắc trở, truân chuyên.

– Không chỉ tả nhan sắc, Nguyễn Du còn nhấn mạnh vào sự tài năng của Thúy Kiều “Sắc đành đòi một tài đành họa hai”: Kiều thông minh và đa tài.

+ Tài năng của đạt đến mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến: hội tụ đủ cầm kì thi họa “pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”.

+ “Cung thương làu bậc…một trương”: Tác giả nhấn mạnh tài đàn của Kiều.

+ “Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”: Kiều còn giỏi sáng tác, khúc bạc mệnh của Kiều phải chăng là tiếng lòng của một trái tim đa sầu đa cảm.

→ Thúy Kiều là một nhân vật hiện lên với sự toàn tài.

* Bình luận

– Ở Thúy Kiều, Nguyễn Du miêu tả cả sắc đẹp và tài năng. Về sắc của Kiều, Nguyễn Du đã miêu tả Thúy Vân trước để làm nổi bật Thúy Kiều theo thủ phápnghệ thuật đòn bẩy. Tả kĩ, tả đẹp để Vân trở thành tuyệt thế giai nhân, để rồi khẳng định Kiều còn hơn hẳn: “Kiều càng sắc sảo mặn mà”. Từ “càng” đứng trước hai từ láy liên tiếp “sắc sảo”, “mặn mà” làm nổi bật vẻ đẹp của Kiều: “sắc sảo” về trí tuệ, “mặn mà” về tâm hồn. Bút pháp ước lệ tượng trưng, phép ẩn dụ: “Làn thu thủy nét xuân sơn” gợi đôi mắt trong sáng, long lanh như làn nước mùa thu; hàng lông mày thanh tú như dáng núi mùaxuân.

– Vẻ đẹp của Kiều hội tụ ở đôi mắt – cửa sổ tâm hồn thể hiện phần tinh anh của tâmhồn và trí tuệ. Vẻ đẹp của Kiều khiến “hoa ghen”, “liễu hờn”, nước phải nghiêng, thành phải đổ. Nhà thơ không tả trực tiếp vẻ đẹp mà tả sự đố kị, ghen ghét với vẻ đẹp ấy; tả sự ngưỡng mộ, mê say trước vẻ đẹp ấy. “Nghiêng nước nghiêng thành” là cách nói sáng tạo điển cố để cực tả giai nhân. Rõ ràng, cái đẹp của Kiều có chiều sâu, có sức quyến rũ làm mê mẩn lòng người. Vẻ đẹp ấy như tiềm ẩn phẩm chất bên trong cao quý – tài và tình rất đặc biệt của nàng.

– Về tài năng của Kiều, đó là sự kết hợp hài hòa giữa sự thông mình và tài năng thiên bẩm. Ông trời ban tặng cho Kiều trí tuệ thông minh hơn người. Không những thế, Kiều còn là người con gái đa tài mà tài nào cũng đạt đến độ hoàn thiện, xuất chúng: đủcả cầm, kì, thi, họa. Đặc biệt, tài đàn của nàng vượt trội hơn cả. Nàng đã soạn riêng một khúc bạc mênh mà ai nghe cũng não lòng. Khúc nhạc thể hiện tâm hồn, tài năng, trái tim đa sầu đa cảm. Chân dung Thúy Kiều mang tính cách số phận. Ngòi bút Nguyễn Du nhuốm màu định mệnh. Sắc đẹp và tài năng của Kiều nổi trội nên thiên nhiên, tạo hóa c ũng ghen hờn. Qua miêu tả, Nguyễn Du ngầm dự báo về một cuộc đời đầy sogns gió, truân chuyên.

4. Cuộc sống êm đềm của hai chị em (4 câu thơ cuối):

“Phong lưu rất mực hồng quần”: Gợi hoàn cảnh sống của hai chị em thúy Kiều, họ sống trong phong lưu của mọt gia đình gia giáo

– Hai chị em luôn sống theo khuôn phép, đức hạnh, theo đúng khuôn khổ của lễ giáo phong kiến. Tuy cả hai đều “đến tuần cập kê” nhưng vẫn “êm đềm trướng rủ màn che / tường đông ong bướm đi về mặc ai”.

Thúy Vân, Thúy Kiều dưới ngòi bút của Nguyễn Du không chỉ nhan sắc tuyệt vời mà còn đức hạnh khuôn phép. Dù đã đến tuổi “cài trâm, búi tóc” nhưng hai chị em vẫn giữgìn nề nếp, gia phong.

III. Tổng kết:

– Nghệ thuật: Đoạn thơ tiêu biểu cho nghệ thuật tả người điêu luyện của Nguyễn Du: bút pháp miêu tả giàu sắc thái cổ điển và nghệ thuật ước lệ tượng trưng quen thuộc trong văn chương trung đại.

– Nội dung: Đoạn thơ giàu chất nhân văn, thể hiện tấm lòng của nhà thơ trong việc ca ngợi, trântrọng, đề cao vẻ đẹp, giá trị, phẩm giá của ch ị em Kiều, cũng như dự cảm về kiếp người tàihoa bạc mệnh.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Hãy tìm hiểu kết cấu của đoạn thơ và nhận xét kết cấu ấy có liên quan như thế nào với trình tự miêu tả nhân vật của tác giả?
Câu 2: Những hình tượng nghệ thuật nào mang tính ước lệ khi gợi tả vẻ đẹp của Thúy Vân? Qua những hình tượng ấy, em cảm nhận Thúy Vân có nét riêng về nhan sắc và tính cách như thế nào?
Câu 3: Khi gợi tả nhan sắc Thúy Kiều, tác giả đã sử dụng hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, theo em, có những điểm nào giống và khác Thúy Vân?
Câu 4: Bên cạnh vẻ đẹp về hình thức, tác giả còn nhấn mạnh những vẻ đẹp nào ở Thúy Kiều? Những vẻ đẹp ấy cho thấy Thúy Kiều là người như thế nào?
Câu 5: Người ta thường nói: sắc đẹp của Thúy Vân “mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”, còn sắc đẹp của Thúy Kiều “hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” là dự báo số phận hai người. Theo em có đúng không? Vì sao?
Câu 6: Trong hai bức chân dung Thúy Kiều và Thúy Vân, em thấy bức chân dung nào nổi bật hơn, vì sao?


9. Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” (trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du).

I. Tác giả, tác phẩm.

1. Tác giả Nguyễn Du (xem ở trên).

2. Tác phẩm.

– Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm nằm ở phần 1- Gặp gỡ và đính ước, sau đoạn Nguyễn Du miêu tả tài sắc của hai chị em Thúy Kiều, trước đoạn Kiều gặp mộ Đạm Tiên và Kim Trọng.

– Bố cục 3 phần:

+ Phần 1 (4 câu đầu): Khung cảnh màu xuân.

+ Phần 2 (8 câu tiếp): khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh.

+ Phần 3 (6 câu cuối): Cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về.

– Nội dung: Đoạn trích đã khắc họa rõ nét bức tranh thiên nhiên và lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng, náo nhiệt trong cuộc du xuân của hai chị em Thúy Kiều vào tiết thanh minh.

II. Phân tích đoạn trích.

1. Khung cảnh ngày xuân tươi đẹp (4 câu đầu).

– Hai câu thơ đầu vừa nói đến thời gian, vừa gợi được không gian:

+ Thời gian của mùa xuân thấm thoắt trôi mau, đã bước sang tháng ba “thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”.

+ Không gian: ánh sáng trong veo, không gian trong trẻo cho những “con én đưa thoi”.

Vừa tả cảnh vừa ngụ ý thời gian trôi qua mau.

– Hai câu sau miêu tả bức tranh xuân tuyệt mĩ:

+ “Cỏ non xanh tận chân trời”: không gian khoáng đạt, giàu sức sống

+ “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”: Gọi hoa mùa xuân với sắc trắng trong trẻo, thanh khiết, tinh khôi

→ Bức tranh mùa xuân sinh động, giàu sức sống.

* Bình luận:

– Nền cảnh của bức tranh thiên nhiên được hoạ nên bởi màu xanh non, tươi mát của thảm cỏ trải ra bao la. Trên nền xanh tươi, trong trẻo ấy điểm xuyết sắc trắng tinh khôi của vài bông hoa lê. Chữ “điểm” có tác dụng gợi vẻ sinh động, hài hoà. Tác giả sử dụng bút pháp hội họa phương Đông: chấm phá, lấy tĩnh tả động.

2. Khung cảnh lễ hội nhộn nhịp trong tiết thanh minh (8 câu tiếp theo):

– Lễ hội mùa xuân hiện lên với Lễ tảo mộ và Hội đạp thanh.

– Không khí lễ hội được gợi tả từ hệ thống từ ngữ giàu sức biểu cảm:

+ Các tính từ được sử dụng “nô nức”, “gần xa”, “ngổn ngang”: làm rõ hơn tâm trạng của người đi lễ hội.

+ Các danh từ sự vật “yến anh”, “tài tử”, “giai nhân”, “ngựa xe”, “áo quần”: gợi tả sự tấp nập đông vui của người đi hội.

+ Các động từ gợi sự rộn ràng của ngày hội.

– Thông qua cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều, tác giả khắc họa hình ảnh một truyền thống văn hóa lễ hội của dân tộc.

– Lễ và hội giao thoa hài hòa → nhà thơ yêu quý, trân trọng những vẻ đẹp của quá khứ dân tộc.

bút pháp chấm phá, các từ ngữ được sử dụng đa dạng, linh hoạt, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình… Bức tranh lễ hội mùa xuân sống động.

* Bình luận:

– Tám câu thơ tiếp theo gợi lên khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh. Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh Minh được gợi tả trong tám câu thơ tiếp. Phong tục tảo mộ (viếng mộ, sửa sang phần mộ của người thân) và du xuân (hội đạp thanh). Không khí rộn ràng của lễ hội mùa xuân được gợi lên bởi hàng loạt các từ ghép danh từ: yến anh, chị em, tài tử, giai nhân,…; động từ: sắm sửa, dập dìu..; tính từ: gần xa, nô nức. Thông qua buổi du xuân của chị em Thúy Kiều, tác giả khắc họa một lễ hội truyền thống xa xưa.

3. Cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về (6 câu cuối):

– Bức tranh mùa xuân trong buổi chiều tà vẫn rất đẹp, rất êm đềm: nắng nhạt, khe nước nhỏ, một dịp cầu…nhưng đã thấm đẫm tâm trạng của con người.

“Tà tà bóng ngả về tây”: gợi khoản thời gian buổi chiều, gợi sự vắng lặng.

“Chị em thơ thẩn dan tay ra về”: Hội vui kết thúc, con người “thơ thẩn” quay trở về.

– Nhiều từ láy được sử dụng “thanh thanh”, “nao nao”, “nho nhỏ”: không chỉ gợi cảnh sắc mà còn gợi tâm trạng con người, đó là nét buồn thương, nuối tiếc

→ Bút pháp cổ điển, tả cảnh ngụ tình. Cảm giác bâng khuâng xen lẫn tiếc nuối bao trùm lên con người và cảnh vt, cũng là dự cảm về một nỗi buồn thương chưa thể lí giải của ngươi thiếu nữ nhạy cảm và sâu lắng.

* Bình luận:

– Ở sáu câu thơ cuối là cảnh chị em Kiều du xuân trở về. Bên cạnh vẻ thanh thoát, dịu nhẹ của mùa xuân như ở những câu thơ trước, khung cảnh mùa xuân đến đây đã mang một sắc thái khác với bức tranh lễ hội rộn ràng, nhộn nhịp:

“Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dang tay ra về.
Bước lần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”.

– Khung cảnh toát lên vẻ vương vấn khi cuộc du xuân đã hết. Các từ “tà tà”, “thơ thẩn”, “thanh thanh”, “nao nao”, “nho nhỏ” vừa gợi tả sắc thái cảnh vật vừa gợi ra tâm trạng con người. Dường như có cái gì đó đang mơ hồ xâm lấn, cảnh vật đã nhuốm sắc thái vương vấn, man mác của tâm trạng con người. Đến những câu thơ cuối đoạn trích này, sự chuyển biến dù nhẹ nhàng của cảnh vật và tâm trạng con người cũng đủ tạo ra dự cảm về những sự việc sắp xảy ra.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Nghệ thuật nổi bật của đoạn trích là việc tác giả sử dụng bút pháp tả cảnh thiên nhiên bằng những từ ngữ, hình ảnh giàu chất tạo hình, đắt giá, sáng tạo, nhiều từ láy miêu tả cảnh vật và cũng là tâm trạng con người, bút pháp tả cảnh ngụ tình.

– Nội dung: Đoạn trích miêu tả sinh động bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng qua ngôn ngữ và bút pháp nghệ thuật giàu chất tạo hình của đại thi hào Nguyễn Du.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân.
– Những chi tiết nào gợi lên đặc điểm riêng của mùa xuân?
– Em có nhận xét gì về cách dùng từ ngữ và bút pháp nghệ thuật của Nguyễn Du khi gợi tả mùa xuân?
Câu 2: Tám câu thơ tiếp theo gợi lên khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh:
– Thống kê từ ghép là tính từ, danh từ, động từ. Những từ ấy gợi lên không khí và hoạt động của lễ hội như thế nào?
– Thông qua buổi du xuân của chị em Thúy Kiều, tác giả khắc họa một lễ hội truyền thống xa xưa. Em hãy đọc kĩ các chú thích, kết hợp với đoạn thơ để nên những cảm nhận về lễ hội truyền thống ấy.
Câu 3: Sáu câu cuối gợi cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về.
– Cảnh vật, không khí mùa xuân trong sáu câu cuối có gì khác với câu thơ đầu? Vì sao?
– Những từ ngữ: tà ta, thanh thanh, nao nao chỉ có tác dụng miêu tả sắc thái cảnh vật hay còn bộc lộ tâm trạng con người? Vì sao?
– Cảm nhận của em về khung cảnh thiên nhiên và tâm trạng con người trong sáu câu thơ cuối.
Câu 4: Phân tích những thành công về nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du trong đoạn trích.
Câu 5: Phân tích, so sánh cảnh mùa xuân trong câu thơ cổ Trung Quốc: “Phương thảo liên thiên bích/ Lê chi sổ điểm hoa” với câu “Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” để thấy được sự tiếp thu, sang tạo của Nguyễn Du.


10. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du).

I. Tác giải, tác phẩm.

1. Tác giả Nguyễn Du (xem ở trên).

2. Tác phẩm:

– Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc. Sau khi bị Mã Giam Sinh lừa gạt, làm nhục, bị Tú Bà mắng nhiếc, Kiều nhất quyết không chịu chấp nhận cuộc sống lầu xanh. Đau đớn, phẫn uất, nàng định tự vẫn, Tú Bà sợ mất vốn bèn lựa lời khuyên giải đưa nàng ra sống riêng ở lầu Ngưng Bích với lời hứa hẹn khi nàng bình phục sẽ gả nàng cho người tử tế nhưng thực chất là giam lỏng nàng để thực hiện âm mưu mới đê tiện và tàn bạo hơn

– Bố cục 3 phần:

+ Phần 1 (6 câu đầu): Hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích.

+ Phần 2 (8 câu tiếp): Nỗi nhớ thương Kim Trọng và nhớ thương cha mẹ của Kiều.

+ Phần 3 (8 câu cuối): Tâm trạng đau buồn và dự cảm trước tương lai sóng gió.

– Nội dung: Đoạn trích đã miêu tả chân thực cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi, đáng thương, nỗi nhớ người thân da diết và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo vị tha của Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.

II. Phân tích đoạn trích.

1. Hoàn cảnh cô đơn, buồn tui của Thúy Kiều (6 câu thơ đầu).

– Sáu câu thơ đầu gợi tả cảnh thiên nhiên nơi lầu Ngưng Bích với không gian, thời gian. Không gian nghệ thuật được miêu tả dưới con mắt nhìn của Thúy Kiều: Lầu Ngưng Bích là nơi Kiều bị giam lỏng.

– Bức họa về hoàn cảnh, không gian nơi Thúy Kiều ở (4 câu thơ đầu):

+ Khung cảnh thiên nhiên được miêu tả là khung cảnh trước lầu Ngưng Bích qua điểm nhìn từ trên cao, từ tâm trạng của Kiều.

+ “Khóa xuân”: khóa kín tuổi xuân, ở nơi đây, con người đã chẳng còn mong chờ đến tuổi thanh xuân nữa

+ “Non xa – trăng gần” : đối nhau, tạo không gian xa rộng, nơi đây Kiều không có một người thân quen

+ Tác giả sử dụng từ ghép “bốn bề” đứng cạnh từ láy “bát ngát” gợi không gian rộng lớn không một bóng người,

+ Cảnh vật vốn có đường nét, màu sắc nhưng lại không đẹp, đã vậy còn gợi cảm giác cô đơn, rợn ngợp.

– Tâm trạng bẽ bàng, chán nản của Thúy Kiều (2 câu thơ sau):

+ Từ láy “bẽ bàng”: diễn tả nỗi xấu hổ tủi thẹn của Kiều, trong tâm trí nàng vẫn còn in đậm những sự việc vừa mới xảy ra: bị Mã Giám Sinh làm nhục, bị ép làm gái lầu xanh rồi giờ bị giam lỏng nơi đây.

+ Thành ngữ “mây sớm đèn khuya”: chỉ thời gian tuần hoàn khép kín,một mình Kiều nơi đây làm nổi bật nỗi bơ vơ.

+ So sánh “Nửa tình nửa cảnh như chia tâm lòng”: nỗi lòng Kiều như bị chia ra làm hai, nửa dành cho cảnh nửa dành cho tình.

Sáu câu thơ đầu được xây dựng bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tả cảnh hoang vắng quạnh hiu để khắc họa rõ tâm trạng cô đơn của Kiều.

* Bình luận:

– Tác giả sử dụng thành công bút pháp tả cảnh ngụ tình, thể hiện niềm cay đắng, xót xa của Thúy Kiều trước nghịch cảnh trớ trêu. Cảnh đẹp nhưng mênh mông, hoang vắng và lạnh lẽo. Ngước nhìn xa xa, chỉ thấy dãy núi mờ nhạt. Nhìn lên trời cao chỉ có “tấm trăng gần”. Thời gian chiều tối, gợi buồn. Xa hơn nữa, nhìn ra “bốn bề bát ngát xa trông” là những cát vàng cồn nọ nối tiếpnhau cùng với bụi hồng trên dặm dài thăm thẳm.

– Nghệ thuật liệt kê, đối lập tương phản “non xa”/”trăng gần”, đảo ngữ, từ láy “bát ngát” gợi không gian rợn ngợp, vắng lặng không một bóng người. Đối diện với cảnhấy, Kiều cảm thấy trống trải cô đơn. Nàng đau đớn, tủi nhục cho thân phận của mình. Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn khép kín, quanh đi quẩn lạihết “mây sớm” lại “đèn khuya”. Thời gian cứ thế trôi đi, rồi lặp lại, Kiều thấy tuyệt vọngvới tâm trạng cô đơn, buồn tủi, hổ thẹn đến “bẽ bàng”. Bốn chữ “như chia tấm lòng” diễn tả nỗi niềm chua xót, nỗi lòng tan nát của Kiều. Bút pháp chấm phá đặc sắc, khung cảnh làm nền cho Kiều thổ lộ tâm tình. Thiên nhiên rộng lớn mà con người nhỏ bé, đơn côi.

2. Nỗi nhớ người yêu và cha mẹ của Kiều (8 câu thơ tiếp):

a. Nỗi nhớ người yêu (4 câu đầu):

– Động từ “tưởng” : Kiều hồi tưởng lại những kỉ niệm đẹp bên Kim Trọng.

“Người dưới nguyệt chén đồng”: chỉ chàng Kim cùng lời thề nguyền đính ước.

– Hai động từ “trông”, “chờ” được tách ra đi kèm với các danh từ chỉ thời là “rày, mai”: Thúy Kiều lo chàng Kim cũng nhớ Kiều tha thiết.

– Thành ngữ biến thể “bên trời goc bể”: gợi ra không gian quê người xa xôi, cách trở.

– Ẩn dụ “tấm son” kết hợp với câu hỏi tu từ “gột rửa bao giờ cho phai” tạo ra hai cách hiểu: thứ nhất tấm lòng Kiều không bao giờ quên được chàng Kim và thứ hai là tấm thân của Kiều đã bị làm nhục bao giờ mới gột rửa được.

Sự thủy chung son sắt của Kiều với người yêu.

* Bình luận:

– Chính trong hoàn cảnh cô đơn nơi đất khách quê người, tâm trạng của Kiều chuyểntừ buồn sang nhớ. Kiều nhớ người yêu, nhớ cha mẹ. Nỗi nhớ ấy được Nguyễn Du miêu tả xúc động bằng những lời độc thoại nội tâm của chính nhân vật.

– Trước hết, Kiều nhớ đến Kim Trọng bởi trong cơn gia biến, Kiều đã phải hi sinhmối tình đầu đẹp đẽ để cứu gia đình. Vì thế trong lòng Kiều, Kim Trọng là người mất mátnhiều nhất, nỗi đau ấy cứ vò xé tâm can Kiều khiến Kiều luôn nghĩ đến Kim Trọng. Nàng nhớ đến cảnh mình cùng Kim Trọng uống rượu thề nguyền dưới ánh trăng.Chữ “tưởng” ở đây có thể xem là một nhãn tự. Nguyễn Du không dùng chữ “nhớ” mà dùng chữ “tưởng”. “Tưởng” vừa là nhớ, vừa là hình dung, tưởng tượng ra người mình yêu. Thúy Kiều như tưởng tượng thấy, ở nơi xa kia, người yêu cũng đang hướng vềmình, đang ngày đêm đau đáu chờ tin nàng: “Tin sương luống những rày trông mai chờ”.

– Rồi bất chợt, nàng liên tưởng đến thân phận “bên trời góc biển bơ vơ” của mình. Kiều băn khoăn tự hỏi: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”. Câu thơ muốn nói tới tấm lòngson của Kiều, tấm lòng nhớ thương Kim Trọng sẽ không bao giờ phai mờ, nguôi quên cho dù có gặp nhiều trắc trở trong đường đời. Câu thơ còn gợi ra một cách hiểu nữa: Tấm lòng son trong trắng của Kiều bị những kẻ như Tú Bà, Mã Giám Sinh làm cho dập vùi, hoen ố, biết bao giờ mới gột rửa được? Trong bi kịch tình yêu, Thúy Kiều có nỗi đau về nhân phẩm.

b. Nỗi nhớ cha mẹ (4 câu tiếp theo):

– Kiều nhớ thương cha mẹ:

+ Động từ “xót” lại kết hợp với câu hỏi tư từ “những ai đó giờ?” thể hiện sự đau đớn của nàng khi nhớ về cha mẹ.

+ “Nắng mưa”: ẩn dụ thời gian trong tâm tưởng của Kiều khi xa gia đình.

+ Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh”: làm nổi bật sự lo lắng của Kiều, rồi đây ai sẽ quạt cho cha mẹ ngủ khi oi nóng, ai sẽ ủ chăn ấm cho cha mẹ khi trời giá lạnh.

→ Thúy Kiều là một người con có hiếu. Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy Kiều vẫn lo cho cha mẹ.

* Bình luận:

– Sau nỗi nhớ người yêu, Kiều cũng xót xa nghĩ đến cha mẹ nơi quê nhà ngày đêm mong mỏi, ngóng trông. Chữ “xót” diễn tả tấm lòng Kiều dành cho đấng sinh thành. Nàng lo lắng xót xa nghĩ đến hình bóng tội nghiệp của cha mẹ, khi sáng sớm, lúc chiều hôm tựa cửa ngóng tin con, hay mong chờ con đến đỡ đần; lo lắng không biết giờ đâyai là người chăm sóc cha mẹ khi thời tiết đổi thay. Nàng xót xa khi cha mẹ ngày một thêmgià yêu mà mình không được ở bên cạnh để phụng dưỡng.

– Tác giả đã sử dụng các thành ngữ “rày trông mai chờ”, “quạt nồng ấp lạnh”,“cách mấy nắng mưa” và các điển tích, điển cố “sân Lai, gốc Tử” để nói lên tâm trạng nhớ thương, lo lắng và tấm lòng hiếu thảo của Kiều dành cho cha mẹ. Ở đây, Nguyễn Du đã miêu tả khách quan tâm trạng của Thúy Kiều vượt qua những định kiến của tư tưởng phong kiến: đặt chữ tình trước chữ hiếu. Trong cảnh ngộ khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng vẫn quên mình để nghĩ đến người yêu, nghĩ đến cha mẹ. Chứng tỏ Kiều là người thủy chung, hiếu nghĩa, đáng trân trọng.

3. Tâm trạng âu lo, đau buồn của Kiều và dự cảm trước tương lai sóng gió ( 8 câu thơ cuối):

– Bức tranh cửa bể lúc hoàng hôn (2 câu thơ đầu):

+ “Mênh mông cửa bể chiều hôm”: Giữa không gian bao la mênh mông Kiều cảm thấy nhớ quê hương, một nỗi buồn trào dâng da diết

+ Hình ảnh “con thuyền” gợi sự cô đơn, Kiều đang nhớ gia đình, không biết bao giờ mới được trở về
 Nhìn cánh buồm lẻ loi trôi nỗi giữa sóng nước Kiều nghĩ đến thân phận mình cũng đang bị dòng đời đưa đẩy.

– Cảnh hoa trôi mặt nước (2 câu tiếp):

+ “Buồn trông” gợi âm điệu buồn mênh mang, nỗi buồn nhân lên khi nàng nhìn thấy cánh hoa trôi lênh đênh vô định.

+ Từ “trôi” chỉ sự vận động nhưng ở thế bị động, những cánh hoa trôi mặc sóng nước vùi dập như số phận Kiều cũng thế.

→ Kiều nghĩ về thân phận con gái truân chuyên, chìm nổi, vô định.

– Cảnh nội cỏ rầu rầu (2 câu tiếp theo):

+ Từ “rầu rầu” được nhân hóa chỉ màu sắc của cỏ → thiên nhiên như nhuốm màu tâm trạng → bút pháp tả cảnh ngụ tình.

+ Màu xanh nhợt nhạt héo hắt của cảnh vật chính là ẩn dụ cho tương lai mờ mịt vô vọng của Kiều.

Kiều tuyệt vọng, mất phương hướng, đây vừa là tâm trạng vừa là cảnh ngộ của Thúy Kiều.

– Cảnh giông bão sóng gió và niềm dự cảm tương lai (2 câu thơ cuối):

+ Hình ảnh dữ dội xuất hiện “gió cuốn mặt duyềnh” ước ệ cho sóng gió cuộc đời đang bủa vây, cuốn lấy Kiều, những tai ương sắp ập đến đời nàng.

+ Nhân hóa “tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” gợi hình dung Kiều chới với giữa cái bất tận sục sôi trong lòng Kiều và quanh Kiều. Trong lòng Kiều là tiếng sóng của buồn đau, hoảng loạn, sợ hãi, dự cảm sóng gió cuộc đời dường như đang tiến đến rất gần Kiều.

Câu thơ thể hiện dự cảm của Thúy Kiều về cuộc đời mình nhiều trắc trở, gian truân sóng gió.

* Bình luận: 

– Điệp ngữ “buồn trông” được lặp lại 4 lần tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc diễn tả nỗi buồn đang dâng lên lớp lớp trong lòng Kiều. Cảnh vật thiên nhiên qua conmắt của Kiều gợi nỗi buồn da diết. “Cánh buồm thấp thoáng” lúc ẩn lúc hiện nơi cửa bể chiều hôm gợi hành trình lưu lạc mờ mịt không biết đâu là bến bờ. Cánh “hoa trôi man mác” trên “ngọn nước mới sa” gợi thân phận nhỏ bé, mỏng manh, lênh đênh trôi dạt trên dòng đời vô định không biết đi đâu về đâu. “Nội cỏ rầu rầu” trải rộng nơi “chân mây mặt đất một màu xanh xanh” gợi cuộc sống úa tàn, bi thương, vô vọng kéo dài không biết đến bao giờ. Hình ảnh “gió cuốn mặt duềnh” và âm thanh “ầm ầm” của “tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” gợi tâm trạng lo sợ hãi hùng như báo trước,chỉ ngay sau lúc này, dông bão của sốphận sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều.

– Bằng nghệ thuật ẩn dụ, hệ thống câu hỏi tu từ, các từ láy “thấp thoáng”, “xa xa”, “man mác”,“rầu rầu”, “xanh xanh”, “ầm ầm”… góp phần làm nổi bật nỗi buồn nhiều bề trong tâm trạng Kiều. Tác giả lấy ngoại cảnh để bộc lộ tâm cảnh. Cảnh được miêu tả từ xa đến gần; màu sắc từ nhạt đến đậm;  âm thanh từ tĩnh đến động; nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến cơn bão táp của nội tâm, cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều. To àn là hình ảnh về sự vô định, mong manh, sự dạt trôi, bế tắc, sự chao đảo nghiêng đổ dữ dội. Lúc này, tinh thần của Kiều trở nên hoảng loạn, yếu đuối, tuyệt vọng nhất. Chính trong tình cảnh ấy, nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời ô nhục sau này.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một trong những đọan tả cảnh ngụ tình hay nhất trong: Truyện Kiều. Tác giả rất thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ độc thoại, độcthoại nội tâm, điệp ngữ liên hoàn, đối xứng, hình ảnh ẩn dụ… để khắc hoạ nội tâm nhân vật

– Nội dung: Đoạn thơ miêu tả chân thực cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi đáng thương, nỗi nhớ người thân da diết và tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo vị tha của Thuý Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.

LUYỆN TẬP.

Câu 1. Em hãy tìm hiểu cảnh thiên nhiên trong sáu câu thơ đầu:
– Đặc điểm không gian trước lầu Ngưng Bích.
– Thời gian qua cảm nhận của Thúy Kiều
– Qua khung cảnh thiên nhiên có thể thấy Thúy Kiều đang ở trong hoàn cảnh, tâm trạng như thế nào? Từ ngữ nào góp phần diễn tả hoàn cảnh và tâm trạng ấy?

Câu 2. Tám câu thơ tiếp theo nói lên nỗi nhớ thương của Kiều.
a. Trong cảnh ngộ của mình nàng đã nhớ đến ai? Nhớ ai trước, ai sau? Nhớ như thế có hợp lí không? Vì sao?
b. Cùng là nỗi nhớ nhưng cách nhớ khác nhau với những lí do khác nhau nên cách thể hiện cũng khác nhau. Em hãy phân tích nghệ thuật dùng từ ngữ, hình ảnh để làm sáng tỏ điều đó.
c. Em có nhận xét gì về tấm lòng Kiều qua nỗi nhớ thương của nàng?

Câu 3. Tám câu thơ cuối miêu tả cảnh vật qua tâm trạng.
a. Cảnh vật ở đây là thực hay hư? Mỗi cảnh vật có nét riêng đồng thời lại có nét chung để diễn tả tâm trạng Kiều. Em hãy phân tích và chứng minh điều đó.
b. Em có nhận xét gì về cách dùng điệp ngữ của Nguyễn Du trong tám câu thơ cuối? Cách dùng điệp ngữ ấy góp phần diễn tả tâm trạng như thế nào?

Câu 4. Thế nào là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình? Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối.


11. Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (trích truyện thơ Nôm “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu).

I. Tác giả, tác phẩm.

1. Tác giả.

– Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) tục gọi là Đồ Chiểu. Ông sinh tại quê mẹ ở làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay thuộc thành phố HCM); quê cha ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

– Cuộc đời:

+ Năm 1843, ông thi đỗ tú tài năm 21 tuổi.

+ Năm 1849, ông bị mù. Tuy nhiên không đầu hàng số phận, ông về Gia Định dạy học và bốc thuốc.

+ Khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kì, ông tích cực tham gia vào phong trào kháng chiến.

+ Khi cả Nam Kì rơi vào tay giặc, ông về sống tại Ba Tri (Bến Tre), nêu cao tinh thần bất khuất cho đến lúc mất.

– Sự nghiệp văn chương:

+ Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ lớn của dân tộc, ông đã để lại nhiều áng văn chương có giá trị nhằm truyền bá đạo lí làm người, lòng yêu nước và ý chí cứu nước…

+ Tác phẩm chính: Truyện “Lục Vân Tiên”, “Dương Từ- Hà Mậu”, “Chạy giặc”, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, “Thơ điếu Trương Định”

– Quan điểm sáng tác: Nguyễn Đình Chiểu sáng tác với quan điểm lấy ngòi bút làm vũ khí chiến đấu: “Chở bao nhiêu đạp thuyền không khẳm / Đâm mất thằng gian bút chẳng tà”.

2. Tác phẩm.

– Hoàn cảnh sáng tác: Truyện “Lục Vân Tiên” là một truyện thơ nôm của Nguyễn Đình Chiểu, được sáng tác khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ 19, truyện có 2082 câu thơ lục bát.

– Đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” nằm ở phần đầu của truyện.

– Bố cục 2 phần:

+ Phần 1: Lục Vân Tiên đáng cướp

+ Phần 2: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

– Nội dung: Đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” đã khắc họa những phẩm chất tốt đẹp của hai nhân vật trung tâm: Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa, khinh tài, Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết na ân tình. Qua đó thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả Nguyễn Đình Chiểu.

– Tóm tắt: Đoạn trích thuộc phần đầu tác phẩm. Trên đường đi thi, Lục Vân Tiên thấy dân khóc than bỏ chạy. hỏi thăm mới biết bọn cướp đã hoành hành, bắt đi hai người con gái. Thấy cảnh bất bình, Vân Tiên nổi giận liền ra tay dẹp bọn cướp cứu người bị nạn. Hai người con gái ấy là Kiều Nguyệt Nga và tì tất Kim Liê

II. Phân tích đoạn trích.

1. Hình tượng nhân vật Lục Vân Tiên.

a. Lục vân Tiên đánh cướp:

– Lục Vân Tiên là một nhân vật lý tưởng của tác phẩm. Đây là chàng trai vừa rời trường học bước vào đời, lòng đầy hăm hở, muốn lập công danh, cũng mong thi thố tài năng cứu người, giúp đời. Sau nhiều năm học cùng thầy trên núi, Lục Vân Tiên xin phép thầy xuống núi để đi thi. Trên đường ghé về thăm nhà, chàng gặp bọn cướp đang cướp bóc dân lành, chàng liền ra tay trừng trị kẻ ác, cứu người hoạn nạn.

– Hành động đánh cướp bộc lộ trước hết tính cách anh hùng, nghĩa khí, tài năng và tấm lòng vị nghĩa của Vân Tiên. Chàng chỉ có một mình, hai tay không có vũ khí trong khi bọn cướp đông người, gươm giáo đầy đủ, thanh thế lầy lừng “Người đều sợ nó có tài khôn dương”. Vậy mà Vân Tiên vẫn bẻ cây làm gậy xông vô đánh cướp. Chàng tả đột hữu xông, chẳng mấy chốc đã đánh tan bọn cướp hung bạo, dằn.

+ Hình ảnh Vân Tiên trong trận đánh được miêu tả thật đẹp: vẻ đẹp của người dũng tướng cũng theo phong cách văn chương thời xưa nghĩa là so sánh với những mẫu hình lí tưởng như dũng tướng Triệu Tử Long, một võ tướng xuất chúng thời Tam Quốc.

Với võ nghệ cao cường, Lục Vân Tiên đã đánh tan bọn cướp và diệt tên đầu đảng Phong Lai. Hành động của chàng còn tỏ rõ đức độ của người nghĩa hiệp: “Giữa đường thấy sự bấtbình chẳng tha”. Không sợ nguy hiểm Vân Tiên sẵn sàng vì nghĩa trừ hại cho dân. Hành động của Vân Tiên chứng tỏ cái đức của con người “vị nghĩa vong thân” (vì việc nghĩa quên thân mình), cái tài của bậc anh hùng và sức mạnh bênh vực kẻ yếu, chiến thắng những thế lực bạo tàn.

b. Thái độ của Lục Vân Tiên đối với Kiều Nguyệt Nga.

– Đánh xong bọn cướp thấy hai cô gái còn chưa hết hãi hùng Vân Tiên đã ân cần hỏi han, an ủi họ. Hành động của chàng thật đàng hoàng, giữ lễ nghĩa, chính trực của một con người quân tử cao quý. Thái độ cư xử của Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp còn bộc lộ tư cách con người chính trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, cũng rất từ tâm, nhân hậu.

+ Thấy hai cô gái còn chưa hết hãi hùng, Vân Tiên “động lòng” tìm cách an ủi họ “Ta đã trừ dòng lâu la” và ân cần hỏi han. Khi nghe họ nói muốn được lạy tạ ơn, Vân Tiên đã từ chối cái lạy trả ơn, từ chối lời mời đền đáp của Nguyệt Nga. Câu trả lời “Làm ơn há dễ trông người trả ơn” và đặc biệt là câu nói của Vân Tiên: “Nhớ câu kiến ngãi bất vi / Làm người thế ấy cũng phi anh hùng” khẳng định Vân Tiên là người trọng nghĩa, khinh tài. Đối với chàng hành động trượng nghĩa không phải là để trả ơn mà với chàng, làm việc nghĩa như là bổn phận, lẽ tự nhiên.

+ Chàng không muốn nhận cái lạy tạ ơn của hai cô gái, từ chối lời mời về thăm nhà của Nguyệt Nga, để cha nàng đền đáp, và ờ đoạn từ chối nhận chiếc trâm vàng của nàng, chỉ cùng nhau xướng họa một bài thơ rồi thanh thản ra đi, không hề vấn vương. Dường như đối vơi Vân Tiên, làm việc nghĩa là một bổn phận, một lẽ tự nhiên, con người trọng nghĩa khinh tài ấy không coi đó là công trạng. Đó là cách cư xử mang tinh thần nghĩa hiệp của các bậc anh hùng hảo hán.

 Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa Lục Vân tiên mang cốt cách nghĩa sĩ thời loạn với cử chỉ, hành động, ngôn ngữ và cách ứng xử cao đẹp, đó là cách cư xử của một tinh thần hiệp nghĩa của các bậc hảo hán. Với những nét tính cách đó, hình ảnh Lục Vân Tiên là một hình ảnh đẹp, hình ảnh mà Nguyễn Đình Chiêu gửi gắm niềm tin và ước vọng của mình.

2. Hình tượng nhân vật Kiều Nguyệt Nga.

– Bên cạnh Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga cũng là một nhân vật lí tưởng của tác phẩm. Những phẩm chất tốt đẹp của Kiều Nguyệt Nga được thể hiện qua lời giãi bày với Lục Vân Tiên:

+ Nàng là một cô gái thùy mị nết na, có học thức, khiêm nhường; cách nói năng văn vẻ, dịu dàng, mực thước: “quân tử”, “tiện thiếp”. Cách trình bày vấn đề rõ ràng, khúc chiết, vừa đáp ứng đầy đủ những điều thăm hỏi ân cần của Lục Vân Tiên, vừa thể hiện chân thành niềm cảm kích, xúc động của mình.

+ Nàng sống mực thước khuôn phép: “làm con đâu dám cãi cha”.

+ Nàng còn là một người cư xử có trước có sau: nàng coi trọng ơn nghĩa của Lục Vân Tiên với mình. Nàng thấy rất áy náy, băn khoăn tìm cách trả ơn chàng, đủ hiểu rằng có đền đáp đến mấy cũng là chưa đủ và muốn mời chàng hiệp sĩ qua miền Hà Khê để nàng có thể: “gẫm câu báo đức thù công / Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi”.

+ Bởi thế, cuối cùng nàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời với chàng trai khảng khái, hào hiệp đó, và đã dám liều mình để giữ trọn ân tình, thủy chung với chàng.

→ Kiều Nguyệt Nga hiện lên là một nhân vật có lòng tự tôn và đức hạnh. Nét đẹp tâm hồn đó đã làm cho hình ảnh Kiều Nguyệt Nga chinh phục được tình cảm yêu mến của nhân dân, những con người bao giờ cũng rất xem trọng ơn nghĩa “ơn ai một chút chẳng quên”.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Xây dựng nhân vật theo phương thức 3: qua hành động, cử chỉ, lời nói, ít khắc họa ngoại hình và ít đi sâu vào nội tâm. Tác giả chỉ kể về nhân vật để nhân vật tự bộc lộ tính cách. Đoạn trích khắc họa thành công những phẩm chất đẹp đẽ cả hai nhân vật Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, bình dị, gần với lời nói thông thường và mang màu sắc địa phương Nam bộ. Nó có phần thiếu chau chuốt, uyển chuyển nhưng phù hợp với ngôn ngữ người kể chuyện, rất tự nhiên, dễ đi vào quần chúng. Truyện mang màu sắc Nam Bộ cả về tính cách con người, cả về ngôn ngữ địa phương.

– Nội dung: Đoạn thơ trích thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả và khắc hoạ những phẩm chất tốt đẹp của hai nhân vật chính: Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài; Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết na, ân tình thủy chung. Nhân vật Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga chính là hai mặt của một cách sống: Một là, làm ơn không cần người khác đền ơn; Hai là chịu ơn thì phải nhớ ơn – đạo lý của người Việt Nam chúng ta, một lẽ sống cần được giữ gìn và phát huy.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Kiểu kết cấu truyền thống nào đã được sử dụng trong truyện Lục Vân Tiên? Đối với văn chương nhằm tuyên truyền đạo đức thì kiểu văn chương ấy có ý nghĩa gì?
Câu 2: Đọc đoạn trích em cảm nhận Lục Vân Tiên là con người thế nào? Hãy phân tích những phẩm chất của nhân vật qua hành động đánh cướp và qua cách cư xử với Kiều Nguyệt Nga?
Câu 3: Với tư cách là người chịu ơn, Kiều Nguyệt Nga trong đoạn trích này đã bộc lộ những nét đẹp tâm hồn như thế nào? Hãy phân tích qua ngôn ngữ, cử chỉ của nàng?
Câu 4: Theo em, nhân vật trong đoạn trích này được miêu tả chủ yếu qua ngoại hình, nội tâm hay hành động cử chỉ? Điều đó cho thấy truyện Lục Vân Tiên gần với loại truyện nào đã học?
Câu 5: Em có nhận xét gì về ngôn ngữ của tác giả trong đoạn trích?
Câu 6. Sắc thái riêng từng lời thoại của mỗi nhân vật trong đọan trích (Phong Lai, Vân Tiên, Nguyệt Nga).


III. VĂN BẢN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI.

12. Bài thơ “Đồng chí” (Chính Hữu).

I. Tác giải, tác phẩm.

1. Tác giả.

– Chính Hữu (1926-2007): Tên thật là Trần Đình Đắc, bút danh Chính Hữu. Quê quán huyện Can Lộc, tình Hà Tĩnh.

– Chính Hữu là nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp. Ông sống và hoạt động trong thời điểm đất nước đang trải qua cuộc chiến đấu trường kì để bảo vệ chủ quyền, độc lập, Chính Hữu có ý thức hướng ngòi bút của mình vào hiện thực chiến tranh.

– Ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác thơ năm 1947. Đề tài chủ yếu trong các sáng tác tác của Chính Hữu là đề tài chiến tranh và người lính.

– Tác phẩm chính làm nên tên tuồi của Chính Hữu là tập thơ “Đầu súng trăng treo” (1966). Ngoài ra các tác phẩm của ông còn có “Thơ Chính Hữu” (1997),…

– Phong cách sáng tác: Những sáng tác của ông không nhiều nhưng phần lớn là những bài thơ mang đậm dấu ấn cá nhân với cảm xúc dồn nén, vừa thiết tha, trầm hùng lại vừa sâu lắng, hàm súc, ngôn ngữ, hình ảnh chọn lọc, đặc sắc.

2. Tác phẩm.

– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ “Đồng chí” được sáng tác vào mùa xuân năm 1948, thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc (Thu – Đông năm 1947) đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của Pháp lên chiến khu Việt Bắc. Được đánh giá là tiêu biểu cho thơ ca kháng chiến giai đoạn 1946 – 1954, bài thơ đã đi qua hành trình hơn nửa thế kỉ, làm sang trọng một hồn thơ chiến sĩ của Chính Hữu.

– Bố cục 3 phần:

+ Phần 1 (7 câu thơ đầu): Cơ sở hình thành tình đồng chí, đồng đội của những người lính.

+ Phần 2 (10 câu thơ tiếp theo): Những biểu hiện của tình đồng chí và sức mạnh của tình cảm ấy ở những người lính.

+ Phần 3  (3 câu kết): Biểu tượng đẹp về tình đồng chí.

– Nội dung: Bài thơ nói về tình đồng chí, đồng đội thắm thiết, sâu nặng của những người lính cách mạng dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu. Tình đồng chí góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và phẩm chất của những người lính cách mạng. Qua đó hiện lên hình tượng chân thực, giản dị mà cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

II. Phân tích bài thơ.

1. Cơ sở hình thành tình đồng chí, đồng đội của những người lính (7 câu thơ đầu).

– Hoàn cảnh xuất thân của những người chiến sĩ: Xuất thân từ những miền quê nghèo khó: ngư dân miền biển (nước mặn đồng chua) và nông dân (đất cày lên sỏi đá). Sự tương đồng về cảnh ngộ xuất thân nghèo khó là cơ sở cho sự đồng cảm giai cấp của những người lính cách mạng.

– Hoàn cảnh gặp gỡ: Họ là những người vốn “xa lạ” . Hai đối tượng “anh”- “tôi” vốn không quen biết. Họ “chẳng hẹn quen nhau” nơi chiến tuyến. Tuy sự quen nhau là không hẹn trước, nhưng chính việc cùng hoàn cảnh xuất thân, cùng tham gia chiến đấu đã làm họ nảy nở tình cảm cao đẹp.

– Sự gắn kết trọn vẹn giữa những người đồng chí:

+ Tình đồng chí nảy nở và bền chặt khi họ chia sẻ với nhau những khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ. “Súng bên súng”: cùng chung nhiệm vụ chiến đấu. “Đầu sát bên đầu”: Cùng chung mục tiêu, lý tưởng.

+ Những người chiến sĩ còn chia sẻ với nhau những gian khó đời thường “đêm rét chung chăn”, hiểu rõ về nhau để trở thành “tri kỉ”.

+ Hai tiếng “Đồng chí!” vang lên làm bừng sáng cả bài thơ, là kết tinh của một tình cảm cách mạng cao đẹp: tình đồng chí.

* Bình luận:

– “Quê hương anh nước mặn đồng chua / Làng tôi nghèo đất cày trên sỏi đá”. Lời giới thiệu như một lời trò chuyện tâm tình. Thành ngữ “nước mặn đồng chua” gợi tả địa phương, vùng miền. Đó là những vùng ven biển xa xôi. “Đất cày trên sỏi đá” gợi tả cái đói, cái nghèo như có từ trong lòng đất, làn nước. Anh bộ đội Cụ Hồ là những người xuất thân từ nông dân vất vả, nghèo khó nhưng một lòng yêu nước (cơ sở của tình đồng chí đồng đội).

– Các anh từ khắp mọi miền quê nghèo của đất nước, từ miền núi, trung du, đồng bằng, miền biển, họ là những người nông dân mặc áo lính. Họ chung mục đích, chung lý tưởng cao đẹp. Tình đồng chí đồng đội nảy nở và trở nên bền chặt trong sự chan hoà chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui, đó là tình cảm tri kỷ của những người bạn, những người đồng chí.

– “Đồng chí!” Câu đặc biệt chỉ có 2 tiếng như khép lại tình yêu đặc biệt cả khổ thơ 1… nó như dồn nén, chất chứa, bật ra thật thân thiết và thiêng liêng như tiếng gọi tha thiết của đồng đội, ấm áp và xúc động là cao trào của mọi cảm xúc, mở ra những gì chứa đựng ở những câu sau.

2. Những biểu hiện của tình đồng chí và sức mạnh của tình cảm ấy ở những người lính (10 câu thơ tiếp theo).

– Tình đồng chí là cảm thông những tâm sự thầm kín về hậu phương, quê hương:

+ Họ hiểu về hoàn cảnh ra đi của nhau: bỏ lại sau lưng những gì bình dị, thân thuộc nhất, những gì đã gắn bó với họ từ lúc chào đời: “ruộng nương, gian nhà, giếng nước, gốc đa”.

+ Họ cùng nhau xác định lí tưởng: ra đi để bảo vệ những gì thân thương nhất, thái độ dứt khoát ra đi thể hiện quyết tâm chiến đấu

→ Tình cảm đồng chí thân thiết, họ chia sẻ với nhau những gì riêng tư, thân thuộc nhất của họ.

– Đồng chí là cùng chia sẻ với nhau những gian lao thiếu thốn trong đời lính:

+ Họ san sẻ cùng nhau, cùng nhau trải qua những “cơn ớn lạnh”, những khi “sốt run người vầng trán đẫm mồ hôi”. Hình ảnh chân thực, họ thương nhau khi phải trải qua những cơn sốt rét

+ Họ chia sẻ cho nhau, cùng nhau trải qua những thiếu thốn về vật chất trong cuộc sống hằng ngày: “Áo anh rách vai…không giày”. Sự thiếu thốn về vật chất không làm tình cảm của họ phai nhạt đi, ngược lại làm cho họ quyết tâm hơn vì lí tưởng.

+ “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”: Biểu hiện của tình đồng chí trực tiếp nhất, họ nắm tay nhau- cái nắm tay để sẻ chia, truyền hơi ấm, để hi vọng, để quyết tâm. Cử chỉ cảm động chan chứa tình cảm chân thành.

* Bình luận:

– Yêu nước, ghét quân xâm lược, họ đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, lên đường nhập ngũ bảo vệ đất nước, bỏ lại sau lưng gia đình và người thân:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”

– Những hình ảnh gần gũi thân quen gắn bó thân thiết với người dân, đối với người nông dân thì ruộng nương, mái nhà là những gì quý giá nhất gắn bó máu thịt nhất với họ, họ không dễ gì từ bỏ được.-“Mặc kệ” vốn là từ chỉ thái độ vô trách nhiệm, trong bài thơ từ “mặc kệ” lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác, chỉ thái độ ra đi một cách dứt khoát, không vướng bận khi mang dáng dấp của một kẻ trượng phu, cũng là sự thể hiện một sự hy sinh lớn, một trách nhiệm lớn với non sông đất nước.

– “Giếng nước, gốc đa” là hình ảnh nhân hoá, hoán dụ, chỉ quê hương, người thân nhớ về các anh, nỗi nhớ của người hậu phương:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh,
Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi.

Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!”

– Bút pháp miêu tả hết sức chân thực, mộc mạc, giản dị, câu thơ như dựng lại một thời kỳ lịch sử gian khổ khốc liệt nhất của chiến tranh những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Chia sẻ cuộc sống khó khăn gian khổ nơi chiến trường bằng tình cảm yêu thương gắn bó.

– “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay: Hình ảnh rất thực, rất đời thường, mộc mạc, giản dị chứa đựng bao điều: Sự chân thành cảm thông; hơi ấm đồng đội; lời thề quyết tâm chiến đấu, chiến thắng; sự chia sẻ,lặng lẽ, lắng sâu.

3. Biểu tượng đẹp, giàu chất thơ của tình đồng chí (3 câu thơ cuối).

– Nhiệm vụ gian khổ của người lính:

+ Hoàn cảnh: đêm, rừng hoang, sương muối. Hoàn cảnh chiến đấu khắc nghiệt.

+ Nhiệm vụ của những người lính chiến: đứng gác, phục kích sẵn sàng “chờ giặc tới”.

Tình đồng chí được tôi luyện trong thử thách, gian lao, hình ảnh của họ đứng cạnh bên nhau vững chãi làm mờ đi sự gian khổ, ác liệt của chiến tranh, tình đồng chí giúp họ lãng mạn và bình thản trong mọi hoàn cảnh.

– Câu cuối “Đầu súng trăng treo”: hình ảnh kết thúc đầy bất ngờ, độc đáo, điểm sáng của toàn bài, gợi liên tưởng thú vị:

+ “Súng”: biểu tượng của chiến tranh, cái chết, sựu hủy diệt,…

+ “Trăng”: biểu tượng cho thiên nhiên trong mát, cho hòa bình, sự sống, sự trường tồn mãi mãi,…

Sự hòa hợp giữa trăng và súng làm toát lên vẻ đẹp tâm hồn người lính, vừa nói lên ý nghĩa của việc họ cầm súng chiến đấu là bảo vệ cho cuộc sống thanh bình nơi quê hương. Tình đồng chí của họ càng thêm cao cả và ý nghĩa bội phần.

* Bình luận:

– Ba câu thơ cuối là một hình ảnh đẹp được nhận ra từ những đêm hành quân phục kích giặc của chính người lính. Đêm khuya, vầng trăng như treo trên đầu mũi súng của người chiến sĩ đang phụckích chờ giặc. Rõ ràng, tình cảm đồng chí ấm áp, thiêng liêng đã mang đến cho người lính nét lãng mạn, cảm hứng thi sĩ trong hiện thực đầy khắc nghiệt qua hình ảnh “Đầu súng trăng treo”.

– Bốn chữ “Đầu súng trăng treo” chia làm hai vế làm nhịp thơ đột ngột thay đổi, dồn nén, như nhịp lắc của một cái gì đó chông chênh, trong bát ngát…gây sự chú ý cho người đọc. Từ “treo” đã tạo nên một mối quan hệ bất ngờ độc đáo, nối hai sự vật ở cách xa nhau, mặt đất và bầu trời, gợi những liên tưởng thú vị, bất ngờ.

– Hai hình ảnh đặt trong mối tương quan đối lập hết sức đọc đáo, tạo nên ý nghĩa sâu sắc. “Súng” là biểu tượng của chiến đấu, sự hủy diệt của chiến tranh, nỗi khổ đau và cái chết, sự ngăn cách, chia lìa; “trăng” là biểu tượng của cái đẹp, cho niềm vui lạc quan, cho sự bình yên, sum họp trong cuộc sống. “Súng” và “trăng” là hư và thực, là chiến sĩ và thi sĩ, là “một cặp đồng chí” tô đậm vẻ đẹp của những cặp đồng chí đang đứng cạnh bên nhau. Chính tình đồng chí đã làm cho người chiến sĩ cảm thấy cuộc đời vẫn đẹp, vẫn thơ mộng, tạo cho họ sức mạnh chiến đấu và chiến thắng.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Bài thơ thành công về nghệ thuật bởi thể thơ tự do linh hoạt, các chi tiết, hình ảnh được sử dụng mang tính tiêu biểu, chân thực, ngôn ngữ cô đọng, giản dị và giàu sức biểu cảm.

– Nội dung: Bài thơ là lời tuyên bố chân thực nhất, bình dị nhất nhưng lại sâu sắc và thiêng liêng nhất về tình đồng chí đồng đội trong hoàn cảnh khó khăn tột cùng. Bài thơ ca ngợi tình đồng chí đồng đội keo sơn gắn bó, ấm áp của các anh bộ đội Cụ Hồ trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Dòng thơ thứ bảy có gì đặc biệt? Mạch cảm xúc và suy nghĩ trong bài thơ được triển khai thế nào trước và sau dòng thơ đó?
Câu 2: Cơ sở hình thành tình đồng chí của người lính là gì?
Câu 3: Những biểu hiện cảm động của tình đồng chí làm nên sức mạnh tinh thần của những người lính cách mạng. Phân tích ý nghĩa, giá trị những chi tiết, hình ảnh đó.
Câu 4: Ba câu thơ cuối gợi lên cho em những suy nghĩ gì về người lính và cuộc chiến đấu? Hãy phân tích vẻ đẹp và ý nghĩa của hình ảnh trong những câu thơ ấy.
Câu 5: Theo em, vì sao tác giả lại đặt tên cho bài thơ về tình đồng độc của những người lính là Đồng chí?
Câu 6: Qua bài thơ này, em có cảm nhận gì về hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ thời kháng chiến chống Pháp?
Câu 7. Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về đoạn cuối bài thơ (ba câu cuối).


13. Bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (Phạm Tiến Duật).

I. Tác giả, tác phẩm.

1. Tác giả.

– Phạm Tiến Duật (1941- 2007), quê huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Ông là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của nền văn học kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

– Phong cách sáng tác : thơ của Phạm Tiến Duật được các nhà văn khác đánh giá cao và có nét riêng: giọng điệu rất sôi nổi của tuổi trẻ vừa có cả sự ngang tàn tinh nghịch nhưng lại vô cùng sâu sắc. Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành bài hát, tiêu biểu là bài “Trường sơn Đông Trường Sơn Tây”

2. Tác phẩm.

– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ sáng tác năm 1969 trên tuyến đường Trường Sơn, trong thời kì kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt. Bài thơ thuộc chùm thơ được tặng giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969, in trong tập “Vầng trăng quầng lửa”.

– Bố cục 4 phần:

+ Phần 1 (Khổ 1+2): Tư thế thế ung dung hiên ngang của người lính lái xe không kính.

+ Phần 2 (Khổ 3+4): Tinh thần dũng cảm bất chấp khó khăn gian khổ và tinh thần lạc quan, sôi nổi của người lính.

+ Phần 3 (Khổ 5+6): Tinh thần đồng chí đồng đội thắm thiết của người lính lái xe.

+ Phần 4 (Khổ 7): Lòng yêu nước và ý chí chiến đấu vì miền Nam.

– Nội dung: Bài thơ khắc họa nét độc đáo của hình tượng những chiếc xe không kính qua đó làm nổi bật hình ảnh những người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong thời kì kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt, họ ung dung hiên ngang, dũng cảm lạc quan có tinh thần đồng chí đồng đội và một ý chí chiến đấu giải phóng Miền Nam.

II. Phân tích bài thơ.

1. Hình ảnh chiếc xe ra trận và tư thế thế ung dung, hiên ngang của người lính lái xe không kính khi làm nhiệm vụ (Khổ 1+2):

– Bài thơ có nhan đề độc đáo, nói về những chiếc xe không kính để ca ngợi những người chiến sĩ lái xe vận tải Trường Sơn, kiên cường, dũng cảm, sôi nổi trẻ trung trong những năm chiến tranh chống Mỹ. Nhan đề thu hút người đọc ở vẻ khác lạ độc đáo. Đó là chất thơ của hiện thực chiến tranh.

Hai câu thơ đầu khắc họa hình ảnh những chiếc xe không kính được tác giả miêu tả trần trụi, chân thực:

“Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”.

– Đó là những chiếc xe vận tải chở hàng hóa, đạn dược ra mặt trận, bị máy bay Mĩ bắn phá, kính xe vỡ hết.

– Động từ “giật”, “rung” cùng với từ “bom” được nhấn mạnh hai lần càng làm tăng sự khốc liệt của chiến tranh

Hai câu thơ đầu giải thích nguyên nhân đồng thời phản ánh mức độ khốc liệt của chiếc tranh.

2 câu thơ tiếp theo nhấn mạnh tư thế ung dung của người lính, đường hoàng đĩnh đạc, dám nhìn thẳng vào khó khăn gian khổ không hề run sợ né tránh.

* Bình luận:

– Với giọng điệu thản nhiên pha chút ngang tàng, lời thơ mang tính khẩu ngữ, hình ảnh độc đáo, điệp ngữ “không” kết hợp với nghệ thuật liệt kê, kết hợp động từ mạnh “giật, rung”, cách tả thực rất gần gũi với văn xuôi, tác giả đã làm hiện lên hình ảnh những chiếc xe mang trên mình đầy thương tích bởi bom đạn chiến tranh, khơi dậy không khí dữ dội của chiến trường. Hai câu thơ đầu lí giải nguyên nhân những chiếc xe không có kính, đồng thời thể hiện tâm trạng xót xa cho những chiếc xe – người bạn đồng hành thủy chung của những người lính.

– Nghệ thuật đảo ngữ: đưa từ láy “ung dung” lên đầu câu kết hợp với đại từ “ta” đã nhấn mạnh tư thế bình thản, hiên ngang, tự tin tiến về phía trước của người lính lái xe.

– Liên tiếp một loạt các từ phủ định diễn tả độc đáo chân thực những chiếc xe trên đường ra trận; khơi gợi sự khốc liệt của chiến tranh trong những năm chống Mỹ cam go khốc liệt. Dù trải qua muôn vàn gian khổ, những chiếc xe ấy vẫn băng băng ra chiến trường. Qua đó, tác giả tạo ấn tượng cho người đọc một cách cụ thể và sâu sắc về hiện thực chiến tranh khốc liệt, về cuộc chiến đấu gian khổ mà người lính phải trải qua.

– 4 câu thơ tiếp theo:

+ Phép nhân hóa “gió vào xoa” “con đường chạy” , ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “mắt đắng” tả thực cảm nhận của người lính với thế giới bên ngoài.

+ “Thấy con đường chạy thẳng vào tim”: tốc độ trên chiếc xe đang lao vun vút ra mặt trận. Con đường ấy còn là con đường giải phóng miền Nam, con đường của trái tim nồng nàn yêu nước.

→ Chiến tranh tuy khốc liệt nhưng người lính vẫn cảm nhận bằng một tâm hồn trẻ trung đầy lãng mạn, qua khung cửa, mọi vật dường như cũng muốn theo người lính ra chiến trường.

* Bình luận:

– Với nhịp thơ: 2/2/2(Nhìn đất, nhìn trời nhìn thẳng) tạo nên giọng điệu đùa vui hóm hỉnh, điệp ngữ “nhìn” kết hợp với nghệ thuật liệt kê đã cho thấy cái nhìn đầy tự chủ, nhìn thẳng về phía trước như sẵn sàng chấp nhận mọi khó khăn. Qua khung cửa xe, người lái xe tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài, với mọi khó khăn, gian khổ. Cả thiên nhiên vũ trụ như ùa vào buồng lái. Đó là cái nhìn đâm chất lãng mạn, chỉ có ở những con người can đảm, vượt lên trên những thử thách khốc liệt của cuộc sống chiến trường.

– Điệp ngữ “nhìn thấy”, nghệ thuật nhân hóa “gió xoa mắt đắng”, từ láy “đột ngột” và nghệ thuật so sánh diễn tả sự cảm nhận thế giới bên ngoài một cách chân thực, sinh động của người lính do những chiếc xe không kính đem lại. Hình ảnh “con đường chạy thẳng vào tim” cho thấy sự khẩn trương của người lính đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam. Con đường còn là hình ảnh ẩn dụ về con đường chiến đấu vì mền Nam độc lập. Điệp từ, nhịp thơ dồn dập, giọng khoẻ khoắn, tràn đầy niềm vu

– Hình ảnh “gió”, “sao trời”, “cánh chim” là những hình ảnh là hình ảnh của thiên nhiên đẹp, gợi cảm thể hện nét lãng mạn trong tâm hồn người lính.

2. Tinh thần dũng cảm bất chấp khó khăn gian khổ và sựu lạc quan, sôi nổi của người lính (Khổ 3+4).

– 2 câu thơ đầu khổ 3 và 2 câu thơ đầu khổ 4:

+ Người lính phải đối mặt với bao khó khăn, khắc nghiệt của thời tiết ở Trường Sơn: “bụi phun tóc trắng”, “mưa tuôn mưa xối”

+ Nhưng sáng ngời ở họ vẫn là sự anh dũng đón nhận những khắc nghiệt “không có… ừ thì”: thái độ sẵn sàng chấp nhận mọi hiểm nguy gian khó, coi đó như một yếu tố tất yếu trong cuộc sống chiến đấu

– 2 câu thơ cuối khổ 3 và 2 câu thơ cuối khổ 4:

+ Người lính đối mặt với khó khăn gian khổ bằng giọng cười “ha ha”. Thái độ lạc quan, tin tưởng, không nao núng của người lính trước khó khăn, gian khổ.

+ Các từ láy tượng hình tượng thanh “ha ha”, “phì phèo” ẩn dụ thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời của các anh

Đây là vẻ đẹp trong tâm hồn các anh, là chất thơ vút lên từ hiện thực chiến đấu thật đáng ngợi ca và trân trọng.

* Bình luận:

– Xe không kính, người lính còn phải chịu thêm những khắc nghiệt của Trường Sơn. Hình ảnh “mưa, gió, bụi tượng trưng cho những gian khổ mà người lính gặp phải do những chiếc xe không kính đem lại. Điệp cấu trúc “không có… ừ thì”. “chưa cần”; biện pháp so sánh: như, từ láy “phì phèo”, “ha ha” thể hiện thái độ bất chấp khó khăn, coi thường gian khổ, hiểm nguy, tinh thần lạc quan, dũng cảm của người lính trên đường làm nhiệm vụ.

– Sự phối hợp thanh điệu: những thanh trắc “bụi, tóc trắng, lấm, ướt áo, xối”… đặc tả những khó khăn, gian khổ kết hợp với những thanh bằng, đặc biệt câu cuối đoạn gợi những phút yên ả, ung dung trong buồng lái. Ngay trong hoàn cảnh khắc nghiệt, người lính vẫn tìm được giây phút thư thái. Đó là bản lĩnh của những chiến sĩ lái xe.

– Ngôn ngữ mang tính khẩu ngữ, giọng điệu thơ hóm hỉnh, khẩu khí ngang tàng, lời thơ gần với ngôn ngữ đời thường đã làm nổi bật lên niềm vui, tiếng cười của người lính. Tiếng cười bật lên sảng khoái, lạc quan khác với tiếng cười “buốt giá” ngậm ngùi động viên nhau của người lính thời kí kháng chiến chống Pháp trong thơ Chính Hữu. Đó là những con người có tính cách tươi trẻ, vui nhôn, luôn yêu đời. Tinh thần lạc quan và tình yêu cuộc sống giúp họ vượt qua những gian lao thử thách. Chính sự lạc quan, tinh thần dũng cảm của người lính lái xe ấy đã giúp những chiếc xe không kính vượt qua bao mưa bom bão đạn, giúp cuộc chiến đi gần hơn đến thắng lợi.

3. Tinh thần đồng chí, đồng đội keo sơn, thắm thiết (Khổ 5+6).

– 4 câu thơ khổ 5: trong cuộc chiến tranh đầy gian lao, thử thách ấy, tình cảm đồng chí, đồng đội lại càng trở nên gắn bó và gần gũi với nhau hơn:

+ “Đã về đây họp thành tiểu đội” : Những chiếc xe từ gian khổ hiểm nguy cùng chung một nhiệm vụ nên đã tập hợp thành “tiểu đội xe không kính”.

+ “Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”: chi tiết chân thực nhưng rất hóm hỉnh, qua cái bắt tay, người lính tiếp thêm cho nhau sức mạnh, trao cho nhau tình đồng chí, đồng đội thắm thiết.

* Bình luận

– Hình ảnh “những chiếc xe từ trong bom rơi” là một hình ảnh tả thực về những chiếc xe vượt qua bao thử thách khốc liệt của chiến trường trở về. Cách gọi “họp thành tiểu đội” là cách nói dí dỏm, giàu hình ảnh, vừa gợi lên những đoàn xe mang trên mình biết bao thương tích của chiến tranh, vừa gợi lên được cái thân thương thắm tình đồng đội.

– Hình ảnh “bắt tay …” rất giàu sức gợi. Những chiếc xe không kính lại đem lại sự tiện lợi để người lính trao cho nhau những cái bắt tay. Cái bắt tay đã cho thấy tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau của các chiến sĩ lái xe, thể hiện được sự đồng cảm sâu sắc trong tâm hồn của những người lính. Đó là lời động viên ngắn ngủi, thầm lặng mà họ dành cho nhau, là lời hứa quyết tâm… Đó còn là sự chia sẻ vội vàng tất cả những vui buồn kiêu hãnh trên những cung đường đã qua.

– Người đọc lần đầu tiên bắt gặp trong thơ những hình ảnh thật lãng mạn, hào hùng: những người lính bắt tay qua cửa kính vỡ. Cái bắt tay thay cho mọi lời chào hỏi, lời hứa quyết tâm, ra trận, lời thề quyết chiến thắng, truyền sức mạnh cho nhau vượt qua gian khăn, gian khổ.

– 2 câu thơ đầu khổ 6: Cuộc trú quân ngắn ngủi mà thắm tình đồng đội, những bữa cơm nhanh dã chiến, chung bát chung đũa là sợi dây vô hình giúp các chiến sĩ xích lại gần nhau hơn:

+ “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời”: chiến tranh buộc họ phải dựng bếp ăn giữa “trời”, nhưng họ vẫn ung dung và coi đó như một lẽ tự nhiên.

+ “Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”: Chính tình đồng chí đồng đội đã hóa gia đình, cách người lính lái xe định nghĩa về gia đình thật giản dị và độc đáo. Hai tiếng “gia đình” thật thiêng liêng chan chứa tình cảm, họ truyền cho nhau sức mạnh để chiến đấu.

– 2 câu thơ cuối khổ 6:

+ Điệp ngữ “lại đi” kết hợp với nhịp thơ: nhịp bước hành quân của các anh đến với những chặng đường mới.

+ Hình ảnh “trời xanh thêm” : ý nghĩa tượng trưng sâu sắc thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời, chan chứa hi vọng, đó còn là hoán dụ chỉ hòa bình.

* Bình luận:

– Câu thơ “chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy” là cách định nghĩa “rất lính”, tếu táo nhưng chân tình, sâu nặng. Gắn bó với nhau trong chiến đấu, họ càng gắn bó với nhau trong đời thường.

– Từ láy “chông chênh” gợi cảm giác bấp bênh, tạm bợ, cho thấy phút nghỉ ngơi vội vàng của người lính. Điệp ngữ “lại đi” kết hợp với nhịp thơ 2/2/3 tạo âm điệu nhịp nhàng cho câu thơ, khẳng định đoàn xe không ngừng tiến về phá trước. Đó là nhịp sống, chiến đấu và hành quân của tiểu đội xe không kính mà không một sức mạnh tàn bạo nào ngăn cản được.

– Nghệ thuật ẩn dụ “trời xanh thêm” mở ra một khong gian tràn đầy tin tưởng. Màu xanh của niềm tin, hi vọng vào ngày mai, gợi sự lạc quan của người lính.

4. Lòng yêu nước và ý chí chiến đấu vì miền Nam (khổ thơ cuối).

–  Vẫn là những khó khăn nhưng giờ đây được tăng thêm gấp bội “không kính”, “không đèn”, “không mui xe”, “thùng xe có xước”: khó khăn tăng thêm như cản đi bước chân của người chiến sĩ.

– Lời khẳng định “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước”: Lời khẳng định chắc nịch bất chấp mọi gian khổ, khó khăn.

“Chỉ cần trong xe có một trái tim”: Hình ảnh “trái tim” là hoán dụ chỉ người lính lái xe nồng nàn yêu nước và sục sôi căm thù quân xâm lược nhưng cũng mang nghĩa ẩn dụ: nhiệt huyết cách mạng, lòng trung thàn, dũng cảm.

* Bình luận:

– Một lần nữa, sự tàn khốc của chiến tranh lại được Phạm Tiến Duật nhắc đến thông qua hình ảnh những chiếc xe chân thực, sinh động. Thủ pháp liệt kê “không kính, không đèn…” gợi lên hình ảnh những chiếc xe bị tàn phá, méo mó, biến dạng, qua đó phản ánh hiện thực chiến tranh khốc liệt. Nghệ thuật điệp ngữ “không có” kết hợp với thủ pháp đối lập nhằm nhấn mạnh dù chiếc xe không nguyên vẹn, nhưng chỉ cần có “một trái tim”, những chiếc xe ấy vẫn băng ra chiến trường giải phóng miền Nam.

– Cách kết thúc bài thơ rất bất ngờ nhưng cũng rất giàu sức thể hiện: mặc cho bom rơi,đạn nổ, mặc cho gió, mưa quất thẳng vào buồng lái, mặc cho muôn vàn thiếu thốn, hiểmnguy, những chiếc xe vẫn chạy, “chỉ cần trong xe có một trái tim”.

– Hình ảnh hoán dụ “trái tim” thể hiện lòng yêu nước thiết tha, căm thù giặc Mĩ sôi sục, ý chí kiên cường giải phóng miền Nam. Trái tim yêu thương, trái tim cầm lái đã giúp người lính chiến thắng bom đạn của kẻ thù. Trái tim ấy đã trở thành “nhãn tự” của bài thơ và để lại cảm xúc sâu lắng trong lòng bạn đọc.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Chất liệu hiện thực vô cùng sinh động của chiến trường, những hình ảnh sáng tạo rất đời thường, nhiều câu văn xuôi tạo sự phóng khoáng, ngang tàng, nhịp thơ sôi nổi trẻ trung tràn đầy sức sống. Ngôn ngữ giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe khoắn, sử dụng nhiều biện pháp tu từ quen thuộc…

– Nội dung: Bài thơ đã khắc họa chân thực nhất vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn với tư thế ung dung hiên ngang, tinh thần lạc quan dũng cảm bất chấp khó khăn gian khổ và ý chí giải phóng miền Nam. Vẻ đẹp của các anh cũng là tiêu biểu cho thế hệ thanh niên những năm đánh Mĩ

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Nhan đề bài thơ có gì khác lạ? Một hình ảnh nổi bật trong bài thơ là những chiếc xe không kính. Vì sao có thể nói hình ảnh ấy là độc đáo?
Câu 2: Những chiếc xe không kính đã làm nổi bật người lái xe trên tuyến đường Trường Sơn. Em hãy phân tích hình ảnh người lính lái xe trong bài thơ.
Câu 3: Em có nhận xét gì về ngôn ngữ, giọng điệu của bài thơ này. Những yếu tố đó đã góp phần như thế nào trong việc khắc họa hình ảnh những người lính lái xe ở Trường Sơn.
Câu 4: Cảm nghĩ của em về thế hệ trẻ thời kháng chiến chống Mĩ qua hình ảnh người lính trong bài thơ? So sánh hình ảnh người lính ở bài thơ này và ở bài Đồng chí.
Câu 5. Những cảm giác, ấn tượng của người lái xe trong chiếc xe không kính trên đường ra trận đã được tác giả diễn tả hết sức cụ thể, sinh động. Em hãy phân tích khổ thơ thứ hai để làm rõ điều ấy.


14. Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” (Huy Cận).

I. Tác giả, tác phẩm.

1. Tấc giả.

– Huy Cận (1919 – 2005) quê làng Ân Phú, huyện Dụ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới và nền văn học Việt Nam thế kỷ XX.

– Phong cách sáng tác: Huy Cận đã nổi tiếng trong phong trào thơ mới với thơ “Lửa thiêng” (1940). Trước cách mạng, hồn thơ ông là một hồn thơ ảo não, mang cảm hứng vũ trụ. Sau cách mạng, hồn thơ ông có sự biến chuyển tươi vui hơn, gắn với cuộc sống của con người lao động mới và đất nước.

2. Tác phẩm.

– Hoàn cảnh sáng tác: Giữa năm 1958, Huy Cận có một chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế ấy, hồn thơ Huy Cận thực sự nảy nở dồi dào cảm hứng về thiên nhiên đất nước. Bài thơ được sáng tác trong thời gian ấy và in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng”. “Đoàn thuyền đánh cá” là bài thơ tiêu biểu của ông, là khúc tráng ca ca ngợi cuộc sống lao động làm chủ biển khơi làm chủ cuộc đời.

Bố cục: 3 phần:

+ Phần 1 (2 khổ đầu):Cảnh đoàn đánh cá ra khơi.

+ Phần 2 (4 khổ tiếp theo): Cảnh đoàn thuyền đánh trên biển.

+ Phần 3 (khổ cuối): Hình ảnh đoàn thuyền trở về.

– Nội dung: Bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi cuộc sống lao động tập thể của người dân chài trong công cuộc xây dựng và tái thiết đất nước, đồng thời bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước khung cảnh thiên nhiên đất nước giàu đẹp.

II. Phân tích bài thơ.

1. Khúc hát ra khơi (khổ 1+2):

• Khổ 1:

– Đoàn thuyền ra khơi trong cảnh hoàng hôn (2 câu thơ đầu):

+ Phép so sánh “mặt trời xuống biển” ví như “hòn lửa” cho thấy màu sắc đỏ rực và hình dạng tròn đầy của mặt trời.

+ Nhà thơ liên tưởng vũ trụ như ngôi nhà lớn với màn đêm là cánh cửa còn sóng biển là then cài.

→ Vũ trụ đang bước vào trạng thái nghỉ ngơi gợi sự bình yên, con người ra khơi vào thời điểm về đêm.

– Dân chài cất cao tiếng hát tạo sự khỏe khoắn (2 câu thơ cuối).

+ Người dân chài ra khơi theo một tập thể: “đoàn thuyền”.

+ Từ “lại” cho thấy đó là một công việc thường xuyên, quen thuộc của họ, cứ màn đêm buống xuống thì họ lại ra khơi.

+ Hình ảnh ẩn dụ “câu hát căng buồm” cho thấy câu hát cũng như có sức mạnh góp gió căng buồm đẩy con thuyền ra khơi.

Vũ trụ bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu ra khơi đánh cá với khí thế phơi phới và niềm vui đang chinh phục biển khơi.

• Khổ 2: Câu hát thể hiện mong ước đánh nhiều cá và sự tự hào về sự giàu có của biển.

“Cá bạc, cá thu” gợi sự giàu có phong phú của biển.

– So sánh “cá thu biển đông như đoàn thoi”: từng đàn cá lao trên mặt biển như đoàn thoi mang ánh sáng lấp lánh dệt muôn luồng sáng trên tấm thảm biển.

– Ẩn dụ, nhân hóa “đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng” tạo ra nhiều sắc màu chuyển động.

– Nhà thơ cất tiếng gọi cá thật dịu dàng “đến dệt lưới ta đoàn cá ơi”: vừa là lời gọi vừa là niềm mong ước đánh được nhiều cá vừa xen cả sự lạc quan tươi vui và tự hào về biển.

* Bình luận:

– Khung cảnh hoàng hôn trên biển vừa diễm lệ vừa hùng vĩ đầy sức sống: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa”. Nghệ thuật so sánh nhân hoá: vũ trụ như một căn nhà khổng lồ bước vào trạng thái nghỉ ngơi. Có sự đối lập giữa vũ trụ và con người: Vũ trụ nghỉ ngơi >< con người lao động. Sóng cài then đêm sập cửa… lại ra khơi (vần trắc thanh trắc>< vần bằng thanh bằng).

– Khí thế của những con người ra khơi đánh cá mạnh mẽ tươi vui, lạc quan, yêu lao động. Diễn tả niềm vui yêu đời, yêu lao động, yêu cuộc sống tự do, tiếng hát của những con người làm chủ quê hương giàu đẹp.

2. Khúc hát đánh cá trên biển (khổ 3+4+5+6).

• Khổ 3: hình ảnh người dân ra khơi với tư thế tầm vóc lớn lao:

– Nghệ thuật phóng đại “Lướt giữa mây cao với biển bằng”: con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé giờ đây qua cái nhìn của tác giả đã sánh ngang tầm vũ trụ.

– Nghệ thuật ẩn dụ “lái gió buồm trăng”: thiên nhiên hòa hợp, cùng con người lao động.

Các biện pháp nghệ thuật trên làm nổi bật tầm vóc của con người và đoàn thuyền.

– Không khí lao động đang trở nên hứng khởi “Ra đậu dặm xa dò bụng biển”: mặc đêm tối, mặc gió khơi người dân chài vẫn ra khơi dò lồng cá trong lòng biển.

– Ẩn dụ “Dàn đan thế trận”: thể hiện cuộc sống đánh cá của người dân chài như một trận chiến đấu ác liệt

→ Sự kết hợp giữa hiện thực (đoàn thuyền) với chất lãng mạn (thuyền lái gió, trăng treo trên cánh buồm) tạo nên những vần thơ đẹp và sâu sắc.

• Khổ 4: Cảnh biển đẹp trong đêm:

– Nhà thơ đã liệt kê những loài cá quý của biển: cá nhụ, cá chim, cá đé cho thấy sự phong phú và quý giá của biển.

– Nhân hóa “Cái đuôi em quẫy” kết hợp với các tính từ chỉ màu sắc: làm cho lời thơ thêm sinh động.

– Phép so sánh “đuôi cá” với “ngọn đuốc”: hình ảnh so sánh thú vị giàu liên tưởng.

– Nhà thơ gọi cá bằng một cách gọi rất dịu dàng “em” ẩn chứa sự yêu mến với cá và biển cả quê hương.

“Đêm thở sao lùa nước Hạ Long”: Màn đêm trước biển như một sinh mệnh.

Thiên nhiên trên biển đêm thực sự rực rỡ sắc màu như một bức tranh sơn mài.

• Khổ 5: Tinh thần lao động hăng say và lòng biết ơn biển.

“Ta hát bài ca gọi cá vào”: Người dân chài đã biến công việc nặng nhọc thành bài ca vui tươi. Tiếng hát của người dân chài có khả năng kì diệu là gọi cá vào lưới. Bút pháp lãng mạn khi miêu tả giúp cho công việc đánh cá đêm trở nên thơ mộng.

– Những người dân chài vô cùng biết ơn biển cả “biển cho ta cá như lòng mẹ”. So sánh biển với lòng mẹ cho thấy biển nuôi sống nhân dân từ bao đời nay nói lên lòng tự hào và biết ơn biển.

• Khổ 6: Cảnh thu hoạch cá.

“Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng”: người dân thu hoạch cá vào lúc trời đã gần sáng hăng say.

“Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng”: công việc trở nên khẩn trương với hi vọng đón chờ chùm cá nặng, cho hình dung thấy những cánh tay sắn chắc, cuồn cuộn, tư thế hiên ngang, làn da nhuộm năng gió, nhuộm cả vị mặn mòi của biển cả.

– Kéo lưới lên là khi trời đã sáng, bình minh lên là kết thúc công việc đánh cá.

Bút pháp lãng mạn được sử dung làm nổi bật vẻ thơ mộng khi đã kết thúc công việc đánh cá đêm.

“Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông”: mọi vật đều tràn ngập sức sống. Cảnh biển vào lúc mình minh bao la kì vĩ. Đoàn thuyền đang khẩn trương thu lưới, chuẩn bị để trở về.

* Bình luận.

– Khung cảnh được miêu tả lớn lao, kì vĩ với vầng trăng, mây cao, biển bằng… Các loại cá: các nhụ, cá chim, cá đé… Khung cảnh biển đêm: thoáng đãng lấp lánh, ánh sáng đẹp, vẻ đẹp lãng mạn kỳ ảo của biển khơi. Nhà thơ đã tưởng tượng ngược lại, bóng sao lùa nước Hạ Long làm nên tiếng thở của đêm, một sự sáng tạo nghệ thuật, biển đẹp màu sắc lấp lánh: hồng trắng, vàng chéo, vảy bạc, đuôi vàng loé rạng đông.

– Hình ảnh con thuyền được miêu tả mạnh mẽ, khí thế. Thuyền lái gió… dò bụng biển…dàn đan thế trận. Gõ thuyền có nhịp trăng cao, kéo xoăn tay… chùm cá nặng. Cảnh lao động với khí thế sôi nổi, hào hứng, khẩn trương, hăng say. Tinh thần lao động sảng khoái ung dung, lạc quan, yêu biển, yêu lao động.

– Âm hưởng của tiếng hát là âm hưởng chủ đạo, niềum yêu say mê cuộc sống, yêu biển, yêu quê hương, yêu lao động. Nhịp điệu khoẻ, đa dạng, cách gieo vần biến hoá, sự tưởng tượng phóng phú, bút pháp lãng mạn.

3. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về trong khúc ca khải hoàn (Khổ 7).

“Câu hát căng buồm với gió khơi”: gió thổi đưa câu hát của người dân chài bay cao, bay xa trên biển.

“Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”: Đoàn thuyền lướt sóng trở về như đua cùng thời gian để nhanh chóng trở về bến cảng.

Câu hát lúc trở về say sưa hơn bao giờ hết, vì một đêm lao động vất vả đã được đề đáp một cách xứng đáng.

“Mặt trời đội biển nhô màu mới”: niềm hi vọng, sự ngợi ca cuộc sống mới của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc, được làm chủ cuộc sống của mình.

– Từ láy “huy hoàng”: là ánh sáng huy hoàng của niềm vui niềm tin vào một cuộc đời tốt đẹp.

Vẻ đẹp của con người, thiên nhiên hòa hợp nhuần nhuyễn thành vẻ đẹp thực sự tráng lệ.

* Bình luận:

– Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về được miêu tả hết sức lớn lao, kỳ vĩ, hào hùng. Nhà thơ khắc họa đậm nét vẻ đẹp khoẻ mạnh và thành quả lao động của người dân miền biển: “Câu hát căng buồm…”, “đoàn thuyền chạy đua…”, “mặt trời đội biển…”, “mắt cá huy hoàng…”,… Con người lúc ra đi hoàng hôn, vũ trụ vào trạng thái nghỉ ngơi. Sau một đêm lao động miệt mài, họ trở về trong cảnh bình minh, mặt trời bừng sáng nhô màu mới. Hình ảnh mặt trời cuối bài thơ là hình ảnh mặt trời rực rỡ với muôn triệu mặt trời nhỏ lấp lánh trên thuyền: Một cảnh tượng huy hoàng của thiên nhiên và lao động.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: hình ảnh thơ đẹp, xây dựng bằng sự liên tưởng phong phú, âm hưởng mạnh mẽ, bút pháp lãng mạn xen hiện thực. Bài thơ được viết trong không khí phơi phới, phấn khởi của những con người lao động với bút pháp lãng mạn, khí thế tưng bừng của cuộc sống mới tạo cho bài thơ một vẻ đẹp hoành tráng mơ mộng.

– Nội dung: Bài thơ ca ngợi sự giàu đẹp của biển, sự giàu đẹp trong tâm hồn của những người lao động mới,phơi phới tin yêu cuộc sống mới, ngày đêm chạy đua với thời gian để cống hiến, để xây dựng, họ là những con người mới đáng yêu. Bài thơ là khúc hát ngợi ca con người lao động trên biển đồng thời là niềm say mê tự hào của con người làm chủ quê hương

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Bài thơ được triển khai theo trình tự chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá. Dựa vào trình tự ấy, em hãy tìm bố cục của bài thơ. Hãy nêu không gian và thời gian được miêu tả trong bài thơ.
Câu 2: Hình ảnh người lao động và công việc của họ được miêu tả trong không gian nào? Bằng những biện pháp nghệ thuật gì, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của con người trước thiên nhiên vũ trụ.
Câu 3: Em hãy chọn phân tích một hình ảnh đặc sắc trong các khổ 1,3,4,7. Bút pháp xây dựng hình ảnh của tác giả có gì nổi bật?
Câu 4: Bài thơ có nhiều từ hát, cả bài hát cũng như một khúc ca. Đây là khúc ca gì và tác giả làm thay lời ai? Em có nhận xét gì về âm hưởng, giọng điệu của bài thơ? Các yếu tố: thể thơ, vần, nhịp góp phần tạo nên âm hưởng bài thơ như thế nào?
Câu 5: Qua những bức tranh về thiên nhiên và con người lao động trong bài thơ, em có nhận xét gì về cái nhìn và cảm xúc của tác giả trước thiên nhiên đất nước và con người lao động?
Câu 6: Viết đoạn văn phân tích khổ thơ đầu và khổ thơ cuối của bài thơ.


15. Bài thơ “Bếp lửa” (Bằng Việt).

I. Tác giả, tác phẩm.

1. Tác giả.

– Bằng Việt t(sinh năm 1941), quê ở Thạch Thất – Hà Tây (nay là Hà Nội). Ông thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ.  Thơ ông trong trẻo, mượt mà và tràn đầy cảm xúc, giàu chất suy tưởng, tính trí tuệ và rất hào hoa.

2. Tác phẩm.

– Xuất xứ: Bài thở “Bếp lửa” được viết năm 1963, khi tác giả là sinh viên đang học ở Liên Xô. Bài thơ in trong tập “Hương cây – Bếp lửa”, (1968), đồng tác giả với Lưu Quang Vũ.

– Bài thơ là dòng hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu về người bà kính yêu, thể hiện lòng biết ơn vô hạn tới bà, cũng như với quê hương, đất nước.

– Bố cục 4 phần:

+ Phần 1 (Ba dòng thơ đầu): Hình ảnh bếp lửa đã khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà.

+ Phần 2 (Bốn khổ thơ tiếp theo từ Lên bốn tuổi đến Chứa niềm tin dai dẳng): Hồi tưởng những kỷ niệm tuổi thơ sống bên bà và hình ảnh bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa.

+ Phần 3 (Hai khổ thơ tiếp theo từ Lận đận đời bà đến thiêng liêng – bếp lửa): Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà.

+ Phần 4 (Khổ cuối): Cháu đã trưởng thành, đã đi xa nhưng không nguôi nhớ về bà.

– Nội dung: Bài thơ là dòng kỉ niệm xúc động về người bà và tình bà cháu, thể hiện lòng kính yêu, biết ơn của người cháu đối với bà, cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.

II. Phân tích bài thơ.

1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà (Ba dòng thơ đầu).

– Bài thơ bắt đầu từ hình ảnh “bếp lửa” gắn bó mật thiết với người bà tần tảo sớm khuya:

“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”.

+ Bếp lửa là hình ảnh gần gũi, quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt Nam.

+ Từ láy “chờn vờn” rất thực như gợi đến hình ảnh bập bùng của ngọn lửa, mờ ảo trong làn sương buổi sớm. Bếp lửa đó được nhóm lên bằng bàn tay khéo léo và chăm chút của bà.

+ Từ hình ảnh bếp lửa, người cháu nhớ đến bà với biết bao vất vả, cực nhọc.

→ Trong tâm tưởng của người cháu nơi xa, sự xuất hiện của hình ảnh bếp lửa đã khơi gợi mạch nguồn cảm xúc để cháu nhớ về bà, nhớ về tình bà cháu. “Bếp lửa” khơi dòng kỉ niệm, là chứng nhân tuổi thơ, là bước đệm giúp cháu vượt qua cả chặng đường dài. Đặc biệt ở từ “ấp iu” giúp ta liên tưởng đến bàn tay khéo léo và tấm lòng kiên trì của người nhóm lửa.

2. Những hồi tưởng về thời gian tuổi thơ được sống trong tình yêu thương, chăm sóc của bà (Bốn khổ thơ tiếp theo từ “Lên bốn tuổi” đến “Chứa niềm tin dai dẳng”).

– Bốn khổ thơ tương ứng với ba kỉ niệm của khoảng thời thơ ấu của nhà thơ sống bên bà:

+ Đó là những kỉ niệm bên bếp lửa và bên người bà kính yêu. Đoạn thơ thấm thía bởi sự kết hợp hài hòa giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự với trữ tình.

– Bếp lửa gợi dậy cả một ký ức của tuổi ấu thơ:

“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”.

+ Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945. Hơn hai triệu người dân Việt Nam chết đói vì chính sách cai trị dã man của giặc Nhật, giặc Pháp. Người sống thì “dật dờ như những bóng ma”. Đến nỗi nhà thơ Chế Lan Viên đã từng tổng kết trong một câu thơ đau đớn: “Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ”.

+ Hình ảnh “khô rạc ngựa gầy” cũng phần nào diễn tả được hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn của gia đình tác giả trong cái khốn khó chung của những người lao động.

Nhưng trong khoảng thời gian ấy, bếp lửa vẫn cháy sáng, vẫn ấm nóng nồng đượm bởi tình bà. Điều đó làm cho tác giả: “đến giờ sống mũi còn cay”.

– Đó còn là kỉ niệm về người bà nhóm lên ngọn lửa ấm ấp để nuôi dưỡng, chở che cho cháu:

“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
(……..)
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

+ Tám năm cháu nhận được sự yêu thương, che chở, dưỡng nuôi tâm hồn từ tấm lòng của bà. Tám năm ấy, cháu sống cùng bà vất vả, khó khăn nhưng đầy tình yêu thương.

+ Kháng chiến bùng nổ, cha mẹ bận công tác, bà vừa là cha, lại vừa là mẹ: bà bảo cháu nghe, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học. Chính bà là người đã nuôi dưỡng, dạy dỗ cháu nên người.

+ Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế để nhắc nhở cháu về truyền thống gia đình, về những đau thương mất mát và cả những chiến công của dân tộc. Bà luôn bên cháu, dạy dỗ, chăm sóc cho cháu lớn lên.

Tình yêu và kính trọng bà của tác giả được thể hiện thật chân thành, sâu sắc: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”.

– Đọng lại trong kỉ niệm của người cháu là:

“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh”

+ Chi tiết thơ đậm chất hiện thực, thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” đem đến cảm nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh. Trên cái nền của sự tàn phá hủy diệt ấy là sự cưu mang, đùm bọc của xóm làng đối với hai bà cháu.

+ Điều khiến cháu xúc động nhất là một mình bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi để trải qua những năm tháng gian nan, đau khổ mà không hề kêu ca, phàn nàn. Bà mạnh mẽ, kiên cường trước hiện thực ác liệt.

– Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh:

“Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên“.

+ Vậy là bà đã gồng mình gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm công tác. Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc.

Chan chứa trong từng lời thơ, ta cảm nhận một lòng biết ơn, niềm tự hào của đứa cháu đã trưởng thành khi nghĩ về người bà thân yêu.

– Từ hình ảnh bếp lửa, bài thơ gợi đến hình ảnh ngọn lửa có ý nghĩa trừu tượng và khái quát:

“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dằng”.

+ Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể ở câu trên, tác giả chuyển thành hình ảnh ngọn lửa trong lòng bà. Ngọn lửa là những kỉ niệm ấm lòng, là niềm tin thiêng liêng kì diệu nâng bước cháu trên suốt chặng đường dài. Ngọn lửa là sức sống, lòng yêu thương, niềm tin mà bà truyền cho cháu.

+ Cùng với hình tượng “ngọn lửa”, các từ ngữ chỉ thời gian: “rồi sớm rồi chiều”, các động từ “nhen”, “ủ sẵn”, “chứa” đã khẳng định ý chí, bản lĩnh sống của bà, cũng là của người phụ nữ Việt Nam giữa thời chiến. Điệp ngữ – ẩn dụ “một ngọn lửa” cùng kết cấu song hành đã làm cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động tự hào.

* Bình luận:

– Cuộc sống trong thời kì này cũng vô cùng cực khổ, bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945 với hơn hai triệu dân Việt Nam đã chết đói vì chính sách cai trị của bọn thực dân Pháp. Tất cả những hình ảnh như: đói mòn đói mỏi, bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy, khói hun,….. đã làm cháu xúc động. Tám năm trường kì, gian khổ cháu được ở cùng bà: bà đã ươm mầm tuổi thơ, bà không chỉ nhóm lửa cuộc sống, bà thay cha mẹ cháu để dạy cháu thành người. Sao cháu có thể quên những năm tháng ấy. Bà luôn quan tâm, chăm sóc từng bữa cơm giấc ngủ. Ở bà còn hiện lên một tình yêu thương vô hạn đến đứa cháu bé bỏng của bà.

– Không chỉ vậy mà bà có một sự dũng cảm, một nghị lực sống phi thường. Khi kháng chiến đang ở những giai đoạn ác liệt nhất bà đã vượt qua, luôn là hậu phương vững chắc của các con đang ở chiến trường. Có thể nói bà chính là hình ảnh tiểu biểu cho các bà mẹ Việt Nam tiêu biểu. Dòng cảm xúc của tác giả ở trong khổ thơ này như lên đến tột đỉnh, bà như một bà tiên trong truyện cổ tích. Bếp lửa tay bà nhóm lên mỗi sớm mai cũng chính là nhóm lên niềm yêu thương, bà luôn đặt niềm tin vào cháu, mong cháu có thể tự tin bước trên đường một cách vững vàng nhất.

3. Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà (Hai khổ thơ tiếp theo từ “Lận đận đời bà” đến “thiêng liêng – bếp lửa”):

– Từ những hồi tưởng về kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà, người cháu đã suy ngẫm về bà, về cuộc đời bà:

“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”.

+ Nếu từ đầu bài thơ, hình ảnh bà và bếp lửa song hành thì đến đây hoà vào làm một, nhòe lẫn, tỏa sáng bên nhau.

+ Cụm từ chỉ thời gian “đời bà”, “mấy chục năm”, từ láy tượng hình “lận đận”, hình ảnh ẩn dụ “nắng mưa” đã diễn tả cảm nhận của nhà thơ về cuộc đời gian nan, vất vả và sự tần tảo, đức hi sinh, chịu thương, chịu khó của bà.

+ Điệp ngữ “nhóm” được nhắc lại bốn lần gợi nhiều liên tưởng. Từ hành động, bà đã nhóm dậy những gì thiêng liêng, cao quý nhất của con người. Bà nhóm bếp lửa mỗi sớm mai là nhóm lên: tình yêu thương, niềm vui sưởi ấm, sự san sẻ tình làng nghĩa xóm, những tâm tình, ước vọng của tuổi thơ.

→ Nhờ ngọn lửa mà bà “ủ”, bà “nhen”, bà “giữ”, cháu biết cách sống ân nghĩa, thủy chung, biết mở lòng ra với mọi người xung quanh, biết sẻ chia, gắn bó với xóm làng.

– Chính vì thế, nhà thơ đã cảm nhận được sự kì diệu thiêng liêng từ bếp lửa bình dị và quen thuộc:

“Ôi, kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

+ Bằng Việt đã phát hiện bếp lửa được bà nhen lên không chỉ bằng nhiên liệu củi rơm mà còn được nhen lên trong ngọn lửa lòng bà, ngọn lửa của sự sống, tình yêu thương, niềm tin bất diệt.

* Bình luận:

– Từ những hồi tưởng về kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà, người cháu đã suy ngẫm về bà, về hình ảnh bếp lửa: “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa…. Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”. Nếu từ đầu bài thơ, hình ảnh bà và bếp lửa song hành thì đến đây hoà vào làm một, tỏa sáng bên nhau. Cụm từ chỉ thời gian “đời bà”, “mấy chục năm”, từ láy tượng hình “lận đận”, hình ảnh ẩn dụ “nắng mưa” – diễn tả cảm nhận của nhà thơ về cuộc đời gian nan, vất vả và sựtần tảo, đức hi sinh, chịu thương, chịu khó của bà.

– Tình thương yêu tác giả dành cho bà được thể hiện trong từng câu chữ. Tình cảm ấy giản dị, chân thành mà thật sâu nặng thiết tha. Suốt cuộc đời, bà luôn chăm chút cho cháu cả về vật chất và tinh thần để cháu lớnlên. Bà là người nhóm lửa, cũng là người luôn giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng, tỏa sáng trong gia đình. Điệp ngữ “nhóm” được nhắc lại bốn lần với những ý nghĩa phong phú, gợi nhiều liên tưởng. Từ hành động, bà đã nhóm dậy những gì thiêng liêng, cao quý nhất của con người. Bà nhóm bếp lửa mỗi sớm mai là nhóm lên tình yêu thương, nhóm lên niềm vui sưởi ấm, sự san sẻ tình làng nghĩa xóm, nhóm lên những tâm tình, ước vọng của tuổi thơ. Ngọn lửa ấy chính là nguồn sống bất diệt, dẫn dắt con người đi qua bao nhiều gian khó.

– Nhờ ngọn lửa mà bà “ủ”, bà “nhen”, bà “giữ”, cháu biết cách sống ân nghĩa, thủy chung, biết mở lòng ra với mọi người xung quanh, biết sẻ chia, gắn bó với xóm làng. Người cháu yêu bà, nhờ hiểu bà mà thêm hiểu, thêm yêu dân tộc mình, nhân dân mình. Trong tâm trí nhà thơ, bếp lửa và bà là những gì tuy thật bình dị, song ẩn giấu điều cao quý thiêng liêng. Cảm xúc dâng trào: “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”. Hình ảnh bàvà hình ảnh bếp lửa sáng đẹp lung linh trong tâm hồn nhà thơ.

4. Cháu đã trưởng thành, đã đi xa nhưng không nguôi nhớ về bà và bếp lửa quê hương(khổ cuối):

– Với tất cả những ý nghĩa trên, hình ảnh người bà và bếp lửa đã trở thành điểm tựa và nỗi nhớ khi cháu đi xa:

“Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,
Nhưng vẫn chẳng bao giờ quên nhắc nhở:
– Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”

+ Các hình ảnh “khói trăm tàu”, “lửa trăm nhà”, “niềm vui trăm ngả” mở ra một thế giới rộng lớn. Cháu đã lớn không, được đi đến những chân trời cao rộng. Thế nhưng cháu không quên bếp lửa của bà, không nguôi nhớ thương bà, nên vẫn “không quên nhắc nhở”: “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa”.

+ Nỗi nhớ bà trở thành nỗi nhớ thường trực, hình ảnh bà trở thành hình ảnh thiêng liêng trong tâm hồn, làm ấm lòng, nâng bước người cháu trên suốt chặng đường dài rộng của cuộc đời. Hình ảnh bà cũng chính là hình ảnh quê hương đất nước một thời gian khó, đạn lửa.

* Bình luận:

– Điệp từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với bao điều mới mẻ. Tuổi thơ đã lùixa, đứa cháu nhỏ năm xưa giờ đã lớn khôn, đã được chắp cánh bay cao, bay xa đến nhữngchân trời cao rộng có “khói trăm tàu”,”lửa trăm nhà”,”niềm vui trăm ngả”. Tuy thế, cháu vẫn khôn nguôi nhớ về bà và bếp lửa quê hương, nhớ về góc bếp, nơi nắng mưa hai bà cháu có nhau. Cháu sẽ không bao giờ quên và chẳng thể nào quên được vì đó chính là nguồn cội, là nơi mà tuổi thơ của cháu được nuôi dưỡng để lớn lên từ đó. Bà và quê hương yêu dấu là điểm tựa, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cháu trên mỗi bước đường đời.

– Từ những suy ngẫm của người cháu, bài thơ biểu hiện một triết lí sâu sắc: Những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng bước con người trong suốt hành trình dài rộng của cuộc đời. Tình yêu đất nước bắt nguồn từ lòng yêu quý ông bà, cha mẹ, từ những gì gần gũi và bình dị nhất.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Bài thơ sáng tạo nhiều hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng, đặc biệt là hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa. Thể thơ tám chữ phù hợp với cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm. Mạch thơ đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỷ niệm đến suy ngẫm. Sáng tạo hình ảnh thơ vừa thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Nhiều phương thức biểu đạt: biểu cảm, miêu tả, tự sự, bình luận. Giọng điệu phù hợp với cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm.

– Nội dung: Bài thơ “bếp lửa” gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước. Bếp lửa – tình bà, tấm lòng yêu thương của bà trong mỗi chúng ta là những gì thiêng liêng nhất. Nó nhắc nhở ta biết sống, biết yêu thương, xứng đáng với tầm lòng bà.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Bài thơ là lời của nhân vật nào, nói về ai và về điều gì? Dựa vào mạch tâm trạng của nhân vật trữ tình, em hãy nêu bố cục của bài thơ.
Câu 2: Trong hồi tưởng của người cháu, những kỉ niệm nào về bà và tình bà cháu đã được gợi lại? Em hãy chỉ ra sự kết hợp giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự, bình luận trong bài thơ và tác dụng của sự kết hợp ấy?
Câu 3: Phân tích hình ảnh bếp lửa trong bài thơ. Hình ảnh bếp lửa được nhắc đến bao nhiêu lần? Tại sao khi nhắc đến bếp lửa là người cháu lại nhớ đến bà, và ngược lại, khi nhớ về bà là nhớ ngay đến hình ảnh bếp lửa? Hình ảnh ấy mang ý nghĩa gì trong bài thơ này? Vì sao tác giả lại viết “Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa”?
Câu 4: Vì sao ở hai câu dưới tác giả dùng từ “ngọn lửa” mà không nhắc lại “bếp lửa”? Ngọn lửa ở đây có ý nghĩa gì? Em hiểu những câu thơ trên như thế nào?
Câu 5: Cảm nhận của em về tình cảm bà cháu được thể hiện trong bài thơ. Tình cảm ấy được gắn liền với những tình cảm nào khác.
Câu 6. Viết đoạn văn ngắn nêu cảm nghĩ của em về hình ảnh bếp lửa trong bài thơ.


16. Bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” (Nguyễn Khoa Điềm) – Giảm tải.


17. Bài thơ “Ánh trăng” (Nguyễn Duy).

I. Tác giả, tác phẩm.

1. Tác giả.

– Nguyễn Duy (1948) quê quán Xã Đông Vệ huyện Đông Sơn(nay là phường Đông Vệ, Thanh Hóa). Ông thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

– Phong cách sáng tác: Thơ Nuyễn Duy giàu chất triết lí, thiên về chiều sâu nội tâm với những trăn trở, day dứt và suy tư.

2. Tác phẩm.

– Xuất xứ: “Ánh trăng” là một bài thơ hay viết vào năm 1978, ba năm sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, được nhà thơ viết tại Thành phố Hồ Chí Minh. In trong tập “Ánh trăng”.

– Bố cục 3 phần:

+ Phần 1 (3 khổ thơ đầu): Kí ức về vầng trăng trong quá khứ của tác giả và vầng trăng trong hiện tại

+ Phần 2 (Khổ 4): Tình huống bất ngờ khiến kí ức ùa về

+ Phần 3 (2 khổ cuối): Sự hối hận của tác giả vì đã lãng quên vầng trăng

– Nội dung: Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương. Với Nguyễn Duy, ánh trăng là biểu tượng cho quá khứ trong mỗi đời người và bài thơ “Ánh trăng” giản dị như một niềm ân hận trong tâm sự sâu kín của nhà thơ.

II. Phân tích bài thơ.

1. Cảm nghĩ về hình ảnh vầng trăng trong quá khứ (khổ 1+2).

“Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ”.

– Khổ thơ đầu mở ra dòng hoài niệm: “Hồi nhỏ…hồi chiến tranh” đánh dấu mốc thời gian. Phép liệt kê tăng cấp “đồng”, “sông”, “bể”: Tuổi thơ gắn bó với sông nước, trăng sao đầy ắp kỉ niệm. Chỉ thứ tự từ hẹp đến rộng, từ quê hương đến đất nước, mở rộng hơn là sự gắn bó giữa những con người ở quê hương đến đồng đội nhân dân. Cuộc sống chan hòa, gần gũi với thiên nhiên, trong đó có vầng trăng.

“Vầng trăng thành tri kỉ”: đất nước có chiến tranh, con người lên đường tham gia chiến đấu, ở rừng là những năm tháng khó khăn gian khổ, trăng được nhân hóa trở thành người bạn tri kỉ không thể nào quên.

– Khổ 2: Con người nguyện trân trọng và gắn kết với cuộc sống bình dị, đẹp tươi.

“Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”.

+ Phép so sánh sánh “trần trụi, hồn nhiên” kết hợp với phép liệt kê “thiên nhiên”, “cây cỏ”: lối sống đơn giản, mộc mạc mọi buồn vui sướng khổ đều gắn bó với trăng.

+ “Ngỡ”: nghĩ là, tưởng là, vậy mà kết quả lại ngược lại.

+ Nhân hóa “cái vầng trăng tình nghĩa”: khẳng định mối quan hệ giữa người và trăng là bền vững mãi mãi.

Mạch thơ biến đổi đánh dấu một sự thay đổi lẽ ra phải trân trọng.

* Bình luận:

– Ánh trăng gắn với những kỉ niệm trong sáng thời thơ ấu tại làng quê: “Hồi nhỏ sống với đồng / Với sông rồi với biển”. Thuở ấy, ánh trăng gắn bó với những kỉ niệm không thể nào quên của cuộc chiến tranh ác liệt của người lính trong rừng sâu: “Hồi chiến tranh ở rừng / Vầng trăng thành tri kỉ”. Con người khi đó sống giản dị, thanh cao, chân thật trong sự hoà hợp với thiên nhiên: “Trần trụi với thiên nhiên / Hồn nhiên như cây cỏ”.

Thiên nhiên vô tự, hồn nhiên, thân thiện, khiến con người: “Ngỡ không bao giờ quên / Cái vầng trăng tình nghĩa”.  Trăng khi đó là ánh sáng trong đêm tối chiến tranh, là niềm vui bầu bạn của người lính trong gian lao của cuộc kháng chiến – vầng trăng tri kỉ. Nhân vật trữ tình gắn bó với trăng trong những năm dài kháng chiến. Trăng vẫn thuỷ chung, tình nghĩa.

– Khổ 3: Hình ảnh vầng trăng trong hiện tại.

+ Khi chiến tranh kết thúc, người lính từ giã núi rừng trở về với thành phố nơi đô thị hiện đại:

Từ hồi về thành phố
quen ánh điện, cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường”.

+ Nhân hóa liệt kê “ánh điện cửa gương”: cuộc sống đầy đủ tiện nghi. Mặc dù vậy trăng vẫn tròn đầy lặng lẽ đi qua thành phố nhưng người bạn năm xưa chỉ coi trăng như một vật chiếu sáng.

+ Hình ảnh so sánh “vầng trăng đi qua ngõ / như người dưng qua đường”: thể hiện một sự bội bạc vẫn thường xảy ra trong cuộc sống hằng ngày: có mới nới cũ.

Hoàn cảnh sông thay đổi kéo con người đổi thay, quên đi ân tình trong quá khứ.

* Bình luận:

– Vầng trăng tri kỉ ngày nào nay đã trở thành “người dưng” – người khách qua đườngxa lạ. Sự thay đổi của hoàn cảnh sống – không gian khác biệt, thời gian cách biệt, điều kiện sống cách biệt.

2. Tình huống bất ngờ xuất hiện và cảm xúc của con người đối diện với vầng trăng (khổ 4).

“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”.

– Phép đảo ngữ từ láy “thình lình”, “đột ngột” được đưa lên đầu câu: nhấn mạnh sự việc bất ngờ là mất điện.

– Ba động từ “vội” (vội vàng, khẩn trương), “bật (đẩy mạnh), “tung” (bật ra, mở rộng ra nhanh chóng) đặt liền nhau: diễn tả sự khó chịu và hành động khẩn trương của nhân vật trữ tình đi tìm nguồn sáng.

– Ngay lúc đó trăng hiện ra “đột ngột” khiến con người bàng hoàng xúc động.

Vầng trăng đến bất ngờ làm sáng lên những góc tối trong tâm hồn, thức tỉnh sự ngủ quên trong diều kiện sống đã hoàn toàn đổi khác.

* Bình luận:

– Sự cố “thình lình đèn điện tắt” tạo nên tình huống gặp gỡ bất ngờ giữa người và trăng. Khi những tiện nghi trở nên vô dụng, con người hoảng hốt đi tìm ánh sáng của tự nhiên. Hành động “vội bật tung cửa sổ” và cảm giác đột ngột nhận ra “vầng trăng tròn” cho thấy quan hệ giữa người và trăng không còn là tri kỉ, tình nghĩa như xưa vì con người lúc này thấy trăng như một vật chiếu sáng thay thế cho điện sáng mà thôi. Câu thơ dững dưng, lạnh lùng, nhức nhối, xót xa miêu tả một điều gì bội bạc,nhẫn tâm vẫn thường xảy ra trong cuộc sống. Từ sự xa lạ giữa người với trăng ấy, nhà thơmuốn nhắc nhở: đừng để những giá trị vật chất điều khiển chúng ta.

3. Vầng trăng thức tỉnh con người và sự hối hận của tác giả (khổ 5+6)

– Tâm trạng, cử chỉ của con người khi đối diện với vầng trăng:

“Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng”.

+ Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt”: là tư thế trực tiếp đối mặt.

+ Phép nhân hóa, từ mặt thứ hai chỉ vầng trăng tròn, đó là thiên nhiên hồn nhiên tươi mát, đó còn là quá khứ bạn bè tươi đẹp.

+ So sánh, liệt kê, điệp ngữ, lặp cấu tứ “như là đồng là bể / như là sông là rừng”: diễn tả dòng hoài niệm xưa ùa về và con người thấy trăng là thấy người bạn tri kỉ ngày nào.

Cảm xúc chừng như nén lại nhưng cứ trào ra thổn thức.

* Bình luận:

– Trăng và con người đã gặp nhau trong một giây phút tình cờ. Vầng trăng xuất hiện vẫn một tình cảm tràn đầy: “Trăng tròn”, hình ảnh thơ khá hay, tình cảm trọn vẹn, chung thuỷ như năm xưa. Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế đối mặt: “mặt” ở đây chính là vầng trăng tròn (nhân hoá). Con người thấy mặt trăng là thấy được người bạn tri kỉ ngày nào. Cách viết thật lạ và sâu sắc! Ánh trăng đã đánh thức những kỉ niệm quá khứ tốt đẹp, đánh thức lại tình cảm bạn bè năm xưa, đánh thức lại những gì con người đã lãng quên. Cảm xúc “rưng rưng” là biểu thị của một tâm hồn đang rung động, xao xuyến, gợi nhớ gợi thương khi gặp lại bạn tri kỉ. Nhịp thơ hối hả dâng trào như tình người dào dạt. Niềm hạnh phúc của nhà thơ như đang được sống lại một giấc chiêm bao.

– Bài thơ khép lại ở hình ảnh sâu lắng:

“Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”.

+ Trăng tròn đầy vành vạnh có hai lớp nghĩa: nghĩa tả thực về sự tròn đầy lung linh của trăng, thiên nhiên vũ trụ vĩnh hằng, gợi quá khứ bạn bè tươi đẹp chẳng thể phai mờ.

+ Trăng còn được nhân hóa “kể chi người vô tình / ánh trăng im phăng phắc” gợi thái độ bao dung, nhân hậu.

+ “Trăng tròn vành vạnh” còn con người “vô tình”, “ánh trăng im phăng phắc” khiến cho “con người vô tình” “giật mình” thức tỉnh. Đó là cái giật mình đầy tính nhân văn.

Câu thơ cuối mang ý nghĩa nhân văn, cái giật mình thức tỉnh của con người từng bội bạc trở nên đáng trân trọng bởi nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương tâm.

* Bình luận:

– Ánh Trăng hiện lên đáng giá biết bao, cao thượng vị tha biết chừng nào: “Trăng cứ tròn vành vạnh… Đủ cho ta giật mình”. Trăng tròn vành vạnh là hiện diện cho quá khứ đẹp đẽ không thể phai mờ. Ánh trăng im phăng phắc chính là người bạn nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và mỗi chúng ta: con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt.

– “Giật mình” là cảm giác và phản xạ tâm lí có thật của một người biết suy nghĩ,chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự nông nổi trong cách sống của mình. Cái “giật mình” của sự ăn năn, tự trách, tự thấy phải đổi thay trong cách sống. Cái “giật mình” tự nhắc nhở bảnthân không bao giờ được làm người phản bội quá khứ, phản bội thiên nhiên, sùng bái hiệntại mà coi rẻ thiên nhiên. Câu thơ thầm nhắc nhở chính mình và cũng đồng thời nhắc nhở chúng ta, những người đang sống trong hoà bình, hưởng những tiện nghi hiện đại, đừng bao giờ quên công sức đấu tranh cách mạng của biết bao người đi trước.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Bài thơ viết theo thể thơ năm chữ bố cục rõ ràng, mạch lạc. “Ánh trăng” có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và tự sự, hình ảnh thơ vừa cụ thể, vừa sinh động vừa khát, giàu tính biểu cảm, giọng điệu tâm tình tự nhiên như lời tâm sự của nhân vật trữ tình. Cảm xúc của tác giả trong bài thơ được thể hiện qua một câu chuyện riêng, bằng sựkết hợp hài hoà giữa tự sự và trữ tình. Giọng điệu tâm tình, nhịp thơ khi thì trôi chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo lời kể, khithì ngâm nga tha thiết, khi thì thầm lặng suy tư. Ngôn ngữ thơ giàu sức gợi cảm.

– Nội dung: Hình ảnh vầng trăng có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: biểu tượng cho quá khứ tình nghĩa, là vẻ đẹp bình dị vĩnh hằng của cuộc sống mang chiều sâu tư tưởng triết lý; tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ vẹn nguyên tràn đầy bất diệt. Ánh trăng thật sự đã như một tấm gương soi để thấy được gương mặt thực của mình, để tìm lại cái đẹp tinh khôi mà chúng ta tưởng đã ngủ ngon trong quên lãng.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Em có nhận xét gì về bố cục của bài thơ? Ánh trăng có sự kết hợp giữa tự sự với trữ tình. Trong dòng diễn biến của thời gian, sự việc, đâu là bước ngoặt để tác giả từ đó bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ đề của tác phẩm.
Câu 2: Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng ý nghĩa. Hãy phân tích điều ấy. Khổ thơ nào trong bài thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm.
Câu 3: Nhận xét về kết cấu, giọng điệu bài thơ. Những yếu tố ấy có tác dụng gì đối với việc thể hiện chủ đề và tạo nên sức truyền cảm của tác phẩm.
Câu 4: Xác định thời điểm ra đời của bài thơ Ánh trăng, liên hệ với cuộc đời Nguyễn Duy để phát biểu chủ đề của bài thơ. Theo cảm nhận của em, chủ đề ấy có liên quan gì đến đạo lí, lẽ sống của dân tộc ta?
Câu 5. Tưởng tượng mình là nhân vật trữ tình trong bài Ánh trăng, em hãy diễn tả dòng cảm nghĩ trong bài thơ thành một bài tâm sự ngắn.


18. Truyện ngắn “Làng” (Kim Lân).

I. Tác giải, tác phẩm:

1. Tác giả.

– Kim Lân (1920- 2007), quê quán huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông là nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam thế kỷ XX.

– Phong cách sáng tác: Ông chuyên viết truyện ngắn nên ngòi bút của ông luôn vững vàng, ông hay viêt về cuộc sống và con người ở nông thôn bằng tình cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng ruộng.

2. Tác phẩm.

– Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn “Làng” viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948.

– Bố cục 3 phần:

+ Phần 1 (Từ đầu đến “không nhúc nhích”: Cuộc sống của ông Hai ở nơi tản cư

+ Phần 2 (Từ tiếp đến “ đôi phần”) : Diễn biến tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc

+ Phần 3 (còn lại): Tâm trạng ông Hai khi nghe tin cải chính

– Nội dung: Tác phẩm đề cập tới tình yêu làng quê và lòng yêu nước cùng tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra được thể hiện một cách chân thực , sâu sắc và cảm động ở nhân vật ông Hai.

– Tóm tắt: Ông Hai là một người nông dân sống ở làng Chợ Dầu, do chiến tranh nên ông phải đi tản cư. Ở nơi tản cư, ông luôn tự hào về cái làng của mình và mang nó khoe với mọi người. Khi tin làng Chợ Dầu theo giặc, ông sững sờ, cổ ông nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, xấu hổ tới mức cứ cúi gằm mặt xuống mà đi. Suốt mấy ngày ở nhà, ông chẳng dám đi đâu, mang nỗi ám ảnh nặng nề, đau đớn, tủi hổ, bế tắc, tuyệt vọng. Tâm trạng ông bế tắc khi mụ chủ nhà nói sẽ đuổi hết người làng Chợ Dầu khỏi nơi sơ tán. Rồi cái tin cải chính khiến ông sung sướng đi khoe về làng mình với tâm trạng như lúc ban đầu, ông hạnh phúc khi khoe Tây nó đốt nhà mình.

II. Phân tích tác phẩm.

1. Hoàn cảnh đặc biệt của ông Hai:

+ Xuất thân là một người nông dân quanh năm gắn bó với lũy tre làng.

+ Một người yêu làng nhưng phải rời làng đi tản cư.

2. Cuộc sống của ông Hai ở nơi tản cư.

a. Tình cảm của ông Hai với làng:

– Ông đau đáu nhớ về quê hương, nghĩ về “những ngày làm việc cùng anh em”, ông nhớ làng tha thiết.

– Ông khoe về làng: giàu và đẹp, lát đá xanh, có nhà ngói san sát sầm uất như tỉnh, phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi, chòi phát thanh cao bằng ngọn tre.

– Ông luôn đến phòng thông tin nghe ngóng tình hình về ngôi làng của mình.

b. Tình cảm của ông Hai với đất nước, với kháng chiến.

– Ông Hai yêu nước và giàu tinh thần kháng chiến:

+ Đến phòng thông tin đọc báo, nghe tin tức về kháng chiến.

+ Lúc nào cũng quan tâm đến tình hình chính trị thế giới, các tin chiến thắng của quân ta.

+ Trước những tin chiến thắng của quân ta, ruột gan cứ múa cả lên.

→ Ngôn ngữ quần chúng, độc thoại. Tự hào, vui sướng, tin tưởng khi nghe tin về cuộc kháng chiến, đó là niềm vui của một con người biết gắn bó tình cảm của mình với vận mệnh của toàn dân tộc

2. Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng của mình theo giặc.

a. Khi vừa nghe tin làng chợ Dầu theo giặc.

– Khi mới nghe tin, ông sững sờ, xấu hổ:

+ “Cổ họng nghẹn ắng, da mặt tê rân rân”. Ông  lặng đi không thở được, giọng lạc đi.

+ Lảng chuyện, cười nhạt, cúi gằm mặt xuống mà đi.

→ Nghệ thuật miêu tả tầm lí nhân vật: từ bẽ bàng, xấu hổ đến ê chề, nhục nhã.

b. Về đến nhà trọ.

– Nằm vật ra giường, tủi thân, nước mắt giàn ra, cay đắng.

– Ông tự hỏi và buồn thay cho số phận những đứa con của mình: “chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư?”

– Ông nắm chặt tay, rít lên chua chát: “chúng bay … mà nhục nhã thế này”.

Nghệ thuật miêu tả tâm trạng qua hành động, thái độ, cử chỉ ⇒ Nỗi cay đắng tủi nhục, uất hận trước tin làng theo giặc.

c. Những ngày sau đó.

– Không dám đi đâu, chỉ quanh quẩn ở nhà, chột dạ, nơm nớp, lủi ra một góc, nín thít. Nỗi ám ảnh nặng nề, biến thành sự sợ hái thường xuyên.

– Khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi đi: ông bế tắc, tuyệt vọng.

– Ông băn khoăn trước quyết định “hay là về làng” nhưng cuối cùng ông đã gạt bỏ ngay ý nghĩ bởi đối với ông: “làng đã theo Tây, về làng nghĩa là rời bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, là cam chịu trở về kiếp sống nô lệ”

– Ông trò chuyện với đứa con út để khẳng định thêm : “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.

– Tin “làng Chợ dầu theo giặc” thử thách và khẳng định tình cảm của ông Hai với đất nước, với kháng chiến.

3. Tâm trạng ông Hai khi nghe tin cải chính.

– Thái độ ông Hai thay đổi hẳn: “cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”;  “mồm bỏm bẻm nhai trầu, mắt hấp háy”; “chạy đi khoe khắp nơi về làng của mình”

– Vui mừng tột độ, tự hào, hãnh diện khi làng không theo giặc, cũng đồng thời thấy được tình yêu làng, yêu nước của người nông dân như ông Hai

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Tác giả đã rất thành công trong việc tạo dựng tình huống thắt nút và cởi nút câu chuyện rất tự nhiên và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật qua hành động suy nghĩ và lời nói, từ đó tạo ra được một tác phẩm hoàn hảo.

– Nội dung: truyện ngắn “Làng” đề cập tới tình yêu làng quê và lòng yêu nước cùng tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra được thể hiện một cách chân thực , sâu sắc và cảm động ở nhân vật ông Hai.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Truyện ngắn Làng đã xây dựng được một tình huống truyện làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê và lòng yêu nước ở nhân vật ông Hai. Đó là tình huống nào?
Câu 2: Thuật lại diễn biến tâm trạng và hành động cùa ông Hai từ lúc nghe làng mình theo giặc đến kết thúc truyện.
Câu 3: Vì sao ông Hai lại trò chuyện như thế với đứa con nhỏ? Qua những lời trò chuyện ấy, em cảm nhận được điều gì về tấm lòng của ông Hai đối với làng quê, đất nước, với cuộc kháng chiến. Tình yêu làng quê và lòng yêu nước ở ông Hai có quan hệ như thế nào?
Câu 4: Nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lý và ngôn ngữ nhân vật ông Hai của tác giả.
Câu 5: Chọn và phân tích một đoạn miêu tả tâm lí nhân vật trong Hai trong truyện. Trong đoạn ấy, tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào để miêu tả tâm lí nhân vật.
Câu 6: Em còn nhớ truyện ngắn hay bài thơ nào cũng viết về tình cảm quê hương, đất nước? Hãy nêu nét riêng của truyện Làng so với những tác phẩm ấy.


19. Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành Long).

I. Tá giả, tác phẩm.

1. Tác giả:

– Nguyễn Thành Long (1925-1991), quê huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam, là nhà văn tiêu biểu của nền văn học kháng chiens chống Mĩ cứu nước.

– Phong cách sáng tác: Ông là một cây bút chuyên viết về truyện ngắn và kí. Đặc sắc trong truyện ngắn của ông là luôn tạo ra những hình tượng đẹp đẽ, ngôn ngữ rất giàu chất thơ trong trẻo và nhẹ nhàng.

2. Tác phẩm:

– Hoàn cảnh sáng tác: “Lặng lẽ Sa Pa” được viết năm 1970, trong chuyến đi thực tế của tác giả Nguyễn Thành Long, in trong tập “Giữa trong xanh”.

– Nội dung: Truyện ngắn khắc họa thành công hình ảnh những con người lao động thầm lặng công hiến cho đời mà tiêu biểu là nhân vật anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh núi cao. Qua đó ngợi ca vẻ đẹp của người lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng nhưng quan trọng vô cùng.

– Tóm tắt: Truyện kể về cuộc gặp gỡ tình cờ của anh thanh niên, ông họa sĩ, cô kĩ sư và bác lái xe tại trạm khí tượng trên đỉnh núi Yên Sơn, trong vòng chưa đầy nửa tiếng. Ông họa sĩ và cô kĩ sư lên thăm nơi ở và làm việc của anh thanh niên . Anh bộc bạch về công việc và cuộc sống của mình. Họa sĩ đã kịp ghi lại kí họa chân dung về anh. Anh đã làm cô kĩ sư và ông họa sĩ sống dậy những khát vọng cống hiến. Họ đã chia tay trong tình cảm lưu luyến, xúc động.

II. Phân tích tác phẩm.

1. Nhân vật anh thanh niên:

Anh thanh niên là nhân vật trung tâm của truyện, chỉ xuất hiện trong giây lát nhưng vẫn là điểm sáng nổi bật nhất trong bức tranh mà tác giả thể hiện

a. Giới thiệu về nhân vật và hoàn cảnh sống:

– Xuất hiện trong lời giới thiệu của ông lại xe: đó là một trong những người cô độc nhất thế gian, thèm người.

– Hai mươi bảy tuổi, tầm vóc nhỏ bé, nét mặt rạng rỡ.

– Sống một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m, bốn bề chỉ có cây cỏ và mây mù.

Nghệ thuật miêu tả gián tiếp, trực tiếp được sử dụng để khắc họa oàn cảnh sống thật đặc biệt: cô đơn, vắng vẻ của anh thanh niên.

– Nơi ở và cách sống, cách sinh hoạt:

+ Nơi ở: sạch sẽ với chiếc giường con, một bàn học, một giá sách.

+ Cách sống, cách sinh hoạt: Trồng hoa, nuôi gà, tự học, đọc sách.

→ Nghệ thuật liệt kê, miêu tả nhằm khắc họa nơi ở giản dị nhưng ngăn nắp, gọn gàng cùng cách sống rất đẹp của anh thanh niên.

b. Công việc và suy nghĩ về công việc, về mọi người.

– Công việc của anh thanh niên:

+ Làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu.

+ Công việc hằng ngày của anh là: đo gió, mưa, nắng, tính mây, đo chấn động địa chất dự vào việc dự báo thời tiết, phục vụ sản xuất và chiến đấu. Công việc đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác và có tinh thần trách nhiệm cao.

→ Nghệ thuật liệt kê, kể, miêu tả. Công việc của anh là một công việc đòi hỏi sự chính xác cao, đó cũng là một công việc nhiều vất vả, gian khổ, đồng thời qua đó cũng bộc lộ anh thanh niên là người yêu công việc, có tinh thần trách nhiệm cao.

– Suy nghĩ của anh thanh niên về công việc:

+ Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi.

+ Anh luôn nghĩ: mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc.

Đây là những suy nghĩ đúng đắn, nghiêm túc và sâu sắc. 

– Khi anh suy nghĩ và nói về người khác:

+ Anh kể về ông kĩ sư ở vườn rau Sa Pa: ngồi im rình xem ong lấy phấn thụ phấn.

+ Anh khâm phục đồng chí nghiên cứu khoa học đang làm bản đồ sét.

+ Anh nói về mọi người với một thái độ khiêm nhường, quý trọng những người lao động.

→ Anh thanh niên hiện lên chân thật, tận tuỵ, tin yêu cuộc sống.

– Anh rất ý thức trách nhiệm với công việc và lòng yêu nghề. Thấy được công việc lặng thầm của mình là có ích cho cuộc sống và cho mọi người.

– Yêu sách và rất ham đọc sách – những người thầy, người bạn tốt lúc nào cũng sẵnsàng bên anh.

– Anh không cảm thấy cô đơn vì biết tổ chức, sắp xếp cuộc sống khoa học, ngăn nắp,chủ động, ngoài công việc anh còn trồng hoa, nuôi gà, nhà cửa và nơi làm việc nhỏ nhắn,xinh xắn, gọn gàng và khá đẹp.

– Ở người thanh niên ấy còn có những nét tính cách và phẩm chất rất đáng quí: sự cởimở, chân thành, rất quí trọng tình cảm con người, khao khát gặp gỡ mọi người.

– Anh còn là người rất ân cần chu đáo, hiếu khách: Trao gói tam thất cho bác lái xe,tiếp đón nồng nhiệt, chân thành tự nhiên với ông học sĩ và cô kĩ sư, tặng hoa, tặng làn trứngcho hai vị khách quí…

– Anh còn là người rất khiêm tốn, thành thực. Cảm thấy công việc và những lời giớithiệu nhiệt tình của bác lái xe về mình là chưa xứng đáng, đóng góp của mình chỉ là bìnhthường nhỏ bé so với bao nhiêu người khác. Khi ông họa sĩ muốn kí họa chân dung, anh từchối, e ngại và giới thiệu những người khác đáng vẽ hơn.

Chỉ qua một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, qua cảm nhận của các nhân vật khác, chândung tinh thần của người thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu đã hiện lên rõ nét và đầy sức thuyết phục, với những phẩm chất đáng quý. Đó là một trong những con người lao động trẻ tuổi, làm công việc lặng lẽ mà vô cùng cần thiết, sống có ích cho nhân dân, đất nước – hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Namthời kì miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc.

2. Những nhân vật khác.

a. Nhân vật ông hoạ sĩ già:

– Cảm xúc của người họa sĩ già trước anh thanh niên: Xúc động mạnh, bối rối. Ông cảm thấy người con trai làm ông nhọc quá. Ông muốn vẽ anh thanh niên

– Những điều ông nhận ra sau khi tiếp xúc cới anh thanh niên:

+ Nghệ thuật, hội hoạ bất lực trong hành trình cuộc đời.

+ Vẽ là công việc khó nhọc, gian nan.

→ Ông họa sĩ hiện lên là con người yêu mến, quý trọng những người lao động.

* Bình luận:

– Tuy không dùng cách kể ở ngôi thứ nhất, nhưng hầu như người kể chuyện đã nhập vào cái nhìn và suy nghĩ của nhân vật ông họa sĩ để quan sát và miêu tả từ cảnh thiên nhiên đến nhân vật chính của truyện – người thanh niên.

– Ông là một nghệ sĩ chân chính, một trí thức lịch duyệt, một nhân cách đẹp có đời sống nội tâm phong phú.

– Ngọn bút như là một quả tim nữa của ông vì suốt đời ông chỉ đi và vẽ, ông khao khát nghệ thuật, vì thế mà ông thêm yêu cuộc sống và con người. Lúc nào ông cũng trăn trở phải vẽ được cái gì mà suốt đời mình thích.

– Người họa sĩ ngay từ phút đầu gặp gỡ, bằng cả sự từng trải nghệ thuật và khao khát tìm cái đẹp của cuộc sống đã nhận ra vẻ đẹp từ tâm hồn anh thanh niên và thực sự thấy bối rối, xúc động. “Vì họa sĩ đã bắt gặp một điều thật ra ông vẫn ao ước được biết, ôi, một nét thôi cũng đủ khẳng định một tâm hồn, khơi gợi một ý sáng tác”.

Ông phát hiện ra vẻ đẹp mới ở Sa Pa, đẹp hơn cả thiên nhiên Sa Pa, đó là vẻ đẹp từ tâm hồn con người ở Sa Pa. Và ông cảm nhận được anh thanh niên chính là đối tượng khơi nguồn cho cảm xúc.

– Ông họa sĩ muốn ghi lại hình ảnh anh thanh niên bằng nét bút ký hoạ, và “người con trai ấy đáng yêu thật, nhưng làm cho ông nhọc quá. Với những điều làm cho người ta suy nghĩ về anh. Và về những điều anh suy nghĩ…”.

– Từ ông, ta thấy được mục đích của người làm nghệ thuật là tìm ra cái đẹp tiềm ẩn trong cuộc sống, trong con người. Ông đã bộc lộ cái niềm say mê lao động, sáng tạo, từng trải, có thể cảm nhận được đối tượng nghệ thuật của con người lao động nghệ thuật chân chính.

– Những suy nghĩ của ông đã làm nổi bật anh thanh niên, từ đó làm cho ánh sáng rõ hơn, đẹp hơn, chứa đựng chiều sâu tư tưởng và làm rõ chủ đề truyện.

→ Ta càng thêm cảm phục và kính trọng ông.

b. Nhân vật cô kĩ sư.

– Cảm xúc của cô kĩ sư khi tiếp xúc với anh thanh niên:

+ Trước một người giáu lí tưởng như anh thanh niên, cô kĩ sư thấy bàng hoàng và sự hàm ơn khó tả, khi nhận lại chiếc khăn tay, cô đỏ bừng mặt.

+ Sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi ấy, cô càng tin vào quyết định của mình.

Cô kĩ sư hiện lên là một người trẻ trung, kín đáo, giàu khao khát, lí tưởng.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Tác phẩm thành công trong việc xây dựng tình huống, miêu tả nhân vật từ nhiều điểm nhìn tạo tính khách quan, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình. Bằng nghệ thuật xây dựng tình huống bất ngờ mà hợp lí, cách kể chuyện tự nhiên,có sự kết hợp giữa các phương thức biểu đạt tự sự, trữ tình và bình luận…

– Nội dung: Qua hình tượng nhân vật anh thanh niên với những suy nghĩ sâu sắc và lòng yêu nghề nghiệp, với cách sống đẹp, trong công việc thầm lặng một mình giữa núi cao mà vẫn không cô độc, buồn tẻ. Trong cái lặng lẽ của Sa Pa có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước. Qua đó truyện khẳng định vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa những công việc thầm lặng. Truyện ngắnLặng lẽ Sa Pa” khắc hoạ thành công hình ảnh những con người cống hiến thầm lặng cũng như niềm hạnh phúc của con người trong lao động có ích.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Nhận xét về cốt truyện và tình huống cơ bản của truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”. Tác phẩm này, theo lời tác giả, là “một bức chân dung”. Đó là bức chân dung ai, hiện lên trong suy nghĩ cái nhìn của nhân vật nào?
Câu 2: Phân tích nhân vật anh thanh niên.
Câu 3: Phân tích nhân vật ông họa sĩ.
Câu 4: Trong tác phẩm này có sự kết hợp giữa các yếu tố trữ tình, bình luận với tự sự. Em hãy chỉ ra các chi tiết tạo nên chất trữ tình cho tác phẩm và nêu tác dụng.
Câu 5: Phát biểu chủ đề của truyện.
Câu 6. Phát biểu cảm nghĩ của em về một trong hai nhân vật: anh thanh niên hoặc ông họa sĩ.


20. Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” (Nguyễn Quang Sáng).

I. Tác giải, tác phẩm.

1. Tác giả.

– Nguyễn Quang Sáng (1932- 2014), quê huyện Chợ Mới-tỉnh An Giang. Ông là một trong những nhà văn có mặt sớm nhất trong phong trài văn học kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

– Phong cách sáng tác: Các sáng tác của ông thường là về cuộc sống và con người Nam Bộ. Truyện ông thường có cốt truyện và lựa chọn các tình huống hết sức đặc sắc và giàu kịch tính. Truyện ngắn của ông thường rất giản dị vừa hiện đại và có âm hưởng

2. Tác phẩm.

– Hoàn cảnh sáng tác: “Chiếc lược ngà” viết năm 1966, tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên.

– Bố cục 2 phần:

+ Phần 1 (Từ đến…đến…”Nó nói trong tiếng nấc, vừa nói vừa từ từ tuột xuống”): Tình cảm cha con của bé Thu và ông Sáu trong ba ngày ông được nghỉ phép.

+ Phần 2 (Còn lại): Ở khu căn cứ, ông Sáu làm chiếc lược ngà tặng con.

– Nội dung: Truyện đã diễn tả một cách chân thành và cảm động về tình cha con thắm thiết, sâu nặng của cha con ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Qua đó tác giả khẳng định và ca ngợi tình cảm cha con thiêng liêng như một giá trị nhân bản sâu sắc, nó càng cao đẹp trongnhững cảnh ngộ éo le

– Tóm tắt: Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến 8 năm trở về thăm gia đình và con gái. Bé Thu- con gái ông không chịu nhận cha vì vết thẹo dài trên mặt làm ông không giống người cha trong tấm ảnh chụp chung với má. Em tỏ ra lạnh nhạt đối xử với ông Sáu như người lạ. Đến lúc em nhận ra cha, tình cảm cha con trong em trỗi dậy mạnh mẽ nhưng đó cũng là lúc ông Sáu phải đi. Ở khu căn cứ ông dồn hết tâm lực, tình cảm làm cây lược tặng con.Chưa kịp trap cho con thì ông đã hí sinh. Trước khi nhắm mắt ông trút hơi sức cuối cùng trao cây lược cho bác Ba- người bạn của ông nhờ trao lại cho ông Sáu.

II. Phân tích truyện ngắn.

1. Ông Sáu và bé Thu phải sống trong hoàn cảnh chia li bởi chiến tranh.

– Ông Sáu là một chiến sĩ hoạt động trên chiến trường, suốt 8 năm ròng ông chưa từng được gặp mặt đứa con gái của mình.

– Đồng nghĩa suốt 8 năm bé Thu chỉ biết cha qua tấm ảnh chụp chung với mẹ nó.

Chiến tranh đẩy con người vào hoàn cảnh xa cách.

2. Tình cảm cha con sâu nặng giữa ông Sáu và bé Thu.

a. Lúc còn ở rừng:

– Ông Sáu nhớ thương con vô cùng, khao khát gặp con, được sống trong tình yêu thương của con

b. Trong ba ngày ngày nghỉ phép:

– Khi gặp con:

+ Thuyền chưa cập bến đã nhảy vội lên bờ gọi con.

+ Đáp lại bé Thu ngạc nhiên , sợ hãi, vụt bỏ chạy.

– Ông Sáu khao khát tình cảm của con bao nhiêu thì bé Thu lại hoàn toàn lạnh lùng trước mọi tình cảm của cha.

+ Ông càng xích lại gần, bé Thu càng lùi xa. Ông càng chiều bé Thu bao nhiêu, bé Thu càng lẩn tránh.

+ Ông càng mong nghe được tiếng ba, bé Thu coàng cố tình trốn tránh.

+ Ngay cả khi bé Thu bị lâm vào thế bí “nồi cơm sôi sùng sục nó cũng không chịu cất lên cái tiếng mà ba nó mong đợi.

+ Trong bữa cơm, hành động hất cái trứng cá của bé Thu là hành động đỉnh điểm nhất khiến ông Sáu thực sự đau lòng.

Ông Sáu nhận ra tình cảm không dễ gì gượng ép, vì vậy ông cam chịu.

– Bé Thu cũng là một người thương yêu ba của mình vô cùng:

+ Tất cả những thái độ ương nhạnh ngang bướng của bé Thu đối với ông Sáu lại là biểu hiện tuyệt vời của tình phụ tử bởi Thu chỉ có duy nhất một người cha là người trong bức ảnh chụp với má nó.

+ Khi Thu được bà ngoại giảng giải người có vết thẹo chính là ba em. Tình yêu thương dành cho ông Sáu tăng lên gấp bội.

+ Trong khoảnh khắc cuối cùng trước lúc ông Sáu lên đường, Thu chạy ra ôm hôn cha.

+ Hành động cùng giọt nước mắt ân hận của bé Thu chảy đầm đìa trên má, trên cằm khiến ông không kìm nén được xúc động.

→ Tình cảm giữa hai cha con ông Sáu và bé Thu là vô cùng sâu nặng.

c. Những ngày ông Sáu xa con, trở về chiến khu.

– Ông Sáu thương nhớ con, ân hận vì mình đã đánh con.

– Tình yêu thương con đã khiến ông tự tay làm chiếc lược ngà thực hiện lời hứa với con

– Khi bị thương nặng ông đã dồn tất cả tàn lực của mình trao chiếc lược ngà cho ông Ba như một lời chăng chối cuối cùng

Tình cảm cha con trong lòng ông Sáu là một tình cảm bất diệt, chiến tranh có thể hủy diệt thân xác ông nhưng không thể hủy diệt tình cảm cha con của ông Sáu và bé Thu kết tinh trong chiếc lược ngà.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Truyện kể theo điểm nhìn của bác Ba giúp tăng tính khách quan.Truyện thành công trong việc tạo dựng tình huống bất ngờ, tự nhiên và hợp lí, thành công nữa là miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc qua suy nghĩ, hành động và lời nói.

– Nội dung: Qua truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng thể hiện được sâu sắc tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, đó là sự khẳng định ngợi ca tình phụ tử thiêng liêng như một giá trị nhân văn sâu sắc. Tình cảm ấy là cội nguồn, sức mạnh vượt lên sự hủy diệt tàn bạo của chiến tranh.


HỌC KỲ II.

I. VĂN BẢN NHẬT DỤNG.

21. Văn bản “Bàn về đọc sách” (Chu Quang Tiềm).

I. Tác giả, tác phẩm.

1. Tác giả:

– Chu Quang Tiềm (1897-1986), là nhà mĩ học, nhà lí luận nổi tiếng Trung Quốc

2. Tác phẩm

– Hoàn cảnh sáng tác: Bài luận này của Chu Quang Tiềm được trích trong “Danh nhân Trung Quốc bàn về niềm vui nỗi buồn của việc đọc sách”, Bắc Kinh (1995), Trần Đình Sử dịch

– Bố cục 3 phần:

+ Phần 1: (“Học vấn …Thế giới mới”): Tầm quan trọng của việc đọc sách

+ Phần 2: (Tiếp đến “tiêu hao lực lượng”): Những khó khăn, thiên hứng sai lạc dễ mắc phải của việc đọc sách hiện nay

+ Phần 3: (còn lại): Bàn về phương pháp đọc sách

– Nội dung: Chu Quang Tiềm trong bài viết đã khẳng định đọc sách là con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn. Từ việc đưa ra những sai lầm trong việc đọc sách, tác giả hướng tới cách đọc sách khoa học, hợp lí cho con người

II. Phân tích văn bản.

1. Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc đọc sách.

– Học vấn là thành quả tích lũy lâu dài của nhân loại. Sách chính là kho tàng lưu giữ những thành quả đã tích lũy đó. Đọc sách là con đường quan trọng của học vấn.

– Mỗi quyển sách có giá trị là một cột mốc trên con đường phát triển học thuật. Sách có ý nghĩa quan trọng trên con đường phát triển của nhân loại.

– Đọc sách là trả nợ quá khứ, là ôn lại kinh nghiệm của lòai người, là hưởng thụ kiến thức, lời dạy tâm huyết của quá khứ.

– Đọc sách là con đường tích lũy, nâng cao vốn tri thức, là sự chuẩn bị cho con đường chinh phục học vấn kéo dài hàng vạn dặm.

Sử dụng lập luận hợp lý, thấu tình đạt lí, kín kẽ sâu sắc. Khẳng định đọc sách là để nâng cao nhận thức, bồi bổ trí tuệ, phát triển tâm hồn, tình cảm, rèn giũa hành động.

2. Những khó khăn trong việc đọc sách.

– Sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu:

+ Ngày trước sách ít, “có người đọc đến bạc đầu mới hết một quyển kinh” nhưng đọc nghiền ngẫm nên đã thấm vào xương tủy

+ Ngày nay, những học giả trẻ đọc nhiều sách nhưng chỉ “lướt qua”, như vậy chỉ là “hư danh nông cạn”

Sử dụng hình ảnh đối sánh xác đáng: sách nhiều khiến người đọc lướt qua, hời hợt không chuyên sâu, dễ sa vào lối “ăn tươi nuốt sống”.

– Sách nhiều khiến người đọc lạc hướng:

+ Trước một số lượng lớn sách sẽ khiến con người “tham nhiều mà không thực chất”, không phân biệt được những “tác phẩm cơ bản đích thực” với “những cuốn sách “vô thưởng vô phạt”

Nhấn mạnh việc sách nhiều có thể khiến chọn lầm chọn sai lãng phí thời gian và sức lực. Thậm chí chọn phải sách độc hại.

3. Phương pháp đọc sách hiệu quả.

– Cách chọn sách:

+ Chọn cho tinh (sách hay), kỹ lưỡng, phù hợp.

+ Không xem thường đọc sách thường thức, sách ở lĩnh vực gần gũi, kế cận với chuyên môn của mình

– Cách đọc sách:

+ Đọc cho kĩ.

+ Không đọc lướt qua, vừa đọc vừa suy nghĩ.

+ Không đọc tràn lan mà cần đọc có kế hoạch và có hệ thống.

→ So sánh, kết hợp phân tích lí lẽ, liên hệ. Đọc sách nhằm rèn luyện tính cách, học làm người.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Bàn về đọc sách là tác phẩm nghị luận có tính thuyết phục, sức hấp dẫn cao bởi hệ thống luận điểm rõ ràng, thuyết phục, ố cục bài viết hợp lí, chặt chẽ, các ý được dẫn dắt tự nhiên, lối viết giàu hình ảnh, nhiều so sánh thú vị, cách trình bày vừa đạt lí vừa thấu tình, bởi lời văn giàu hình ảnh nhiều chỗ tác giả dùng cách nói ví von thật cụ thể và thú vị.

– Nội dung: Đọc sách là con đường quan trọng để tích luỹ nâng cao học vấn. Cần kết hợp giữa đọc rộng với đọc sâu, giữa đọc sách thường thức với đọc sách chuyên môn. Việc đọc sách không thể tuỳ hứng mà phải có kế hoạch, có mục đích kiên định, phải vừa đọc vừa nghiền ngẫm.

LUYỆN TẬP.

Câu 1. Vấn đề nghị luận của bài viết này là gì? Dựa theo bố cục bài viết, hãy tóm tắt các luận điểm của tác giả khi triển khai vấn đề ấy.
Câu 2. Qua lời bàn của Chu Quang Tiềm, em thấy sách có tầm quan trọng như thế nào, việc đọc sách có ý nghĩa gì?
Câu 3. Muốn tích lũy học vấn, đọc sách có hiệu quả, tại sao trước tiên cần biết cách chọn lựa sách mà đọc? Theo tác giả, nên chọn lựa như thế nào?
Câu 4. Phân tích lời bàn của tác giả bài viết về phương pháp đọc sách. Tìm hiểu cách lập luận, trình bày ở phần này.
Câu 5. Bài viết Bàn về đọc sách có sức thuyết phục cao. Theo em, điều ấy được tạo nên từ những yếu tố cơ bản nào?
Câu 6. Phát biểu điều mà em thấm thía nhất khi học bài “Bàn về đọc sách” của Chua Quang Tiềm.


22. Văn bản “Tiếng nói của văn nghệ” (Nguyễn Đình Thi)

I. Tác giải, tác phẩm.

1. Tác giả

– Nguyễn Đình Thi (1924-2003) quê Hà Nội. Ông là nhà thơ, nhà phê bình, nhạc sĩ xuất sắc của nền văn học Việt Nam thế kỷ XX.

– Phong cách sáng tác: Thơ của Nguyễn Đình Thi giản dị, giàu tính triết lý nhưng cũng không kém phần lắng đọng: đó là tình yêu quê hương đất nước, sự tự hào về dân tộc.

2. Tác phẩm.

– Hoàn cảnh sáng tác: Tiểu luận “Tiếng nói của văn nghệ” được Nguyễn Đình Thi viết năm 1948, in trong cuốn “Mấy vấn đề văn học” (xuất bản năm 1956).

– Bố cục 2 phần:

+ Phần 1: từ đầu bài cho đến “cách sống của tâm hồn”: Nội dung tiếng nói của văn nghệ.

+ Phần 2: Tiếp theo đoạn 1 cho đến cuối bài: Văn nghệ mang lại nhiều giá trị thiết thực trong cuộc sống con người.

– Nội dung: Bài tiểu luận bàn về nội dung của văn nghệ và sức mạnh kì diệu của nó đối với đời sống của con người, giúp con người được sống phong phú hơn và tự nhiên hoàn thiện nhân cách tâm hồn mình.

II. Phân tích văn bản.

1. Nội dung tiếng nói của văn nghệ.

– Khi sáng tác, người nghệ sĩ không phải chỉ lấy chất liệu từ đời sống hiện thực mà còn gửi gắm vào đó cách nhìn, lời nhắn nhủ của riêng mình. Văn nghệ không chỉ phản ánh cái khách quan mà còn biểu hiện tư tưởng, tình cảm của người viết.

– Tác phẩm nghệ thuật được nói bằng những say sưa, vui buồn, yêu ghét, mơ mộng, đem đến cho con người sự bỡ ngỡ mới lạ giữa bao điều thân thuộc.

– Nội dung tiếng nói của văn nghệ còn bao gồm cả những nhận thức rung cảm nơi người đọc (người đọc tham gia vào quá trình đồng sáng tạo với người nghệ sĩ).

→ Lập luận bằng những luận cứ trong tác phẩm và thực tế. Nội dung của văn nghệ là hiện thực mang tính cụ thể sinh động được phản ánh qua lăng kính của người nghệ sĩ, là đời sống trải nghiệm của người nghệ sĩ và của chính độc giả cộng lại.

2. Văn nghệ mang lại nhiều giá trị thiết thực trong cuộc sống con người.

– Vai trò của tiếng nói của văn nghệ:

+ Giúp mỗi con người sống đầy đủ hơn, phong phú hơn với cuộc đời và chính mình, làm “thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ”.

+ Văn nghệ là sợi dây ràng buộc họ chặt hơn với cuộc đời, giúp con người biết rung cảm và ước mơ trong cuộc đời lắm cơ cực.

+ Góp phần giữ cho “đời cứ tươi”.

– Bản chất của văn nghệ:

+ Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm.

+ Văn nghệ nói nhiều đến cảm xúc.

+ Văn nghệ mượn sự việc để tuyên truyền.

– Sức mạnh của văn nghệ:

– Văn nghệ giúp mọi người tự nhận thức mình, tự xây dựng nhân cách và cách sống của bản thân mình và xã hội.

+ Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đi, nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng chúng ta, khiến chúng ta phải tự bước đi trên con đường ấy

→ Dẫn chứng phong phú, sát thực khẳng định sSức mạnh kì diệu, làm thay đổi nhận thức con người của văn chương nghệ thuật.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Bố cục chặt chẽ, hợp lí, dẫn dắt tự nhiên. Lối viết giàu hình ảnh, sử dụng nhiều dẫn chứng thơ văn, dẫn chứng thực tế, khẳng định các ý kiến, nhận xét, tăng sức hấp dẫn cho bài viết.

– Nội dung: Bài tiểu luận bàn về nội dung của văn nghệ và sức mạnh kì diệu của nó đối với đời sống của con người, giúp con người được sống phong phú hơn và tự nhiên hoàn thiện nhân cách tâm hồn mình.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Bài nghị luận này phân tích nội dung phản ánh, thể hiện của văn nghệ, khẳng định sức mạnh lớn lao của nó đối với đời sống con người. Hãy tóm tắt hệ thống luận điểm và nhận xét về bố cục của bài nghị luận.
Câu 2: Nội dung phản ánh, thể hiện của văn nghệ là gì?
Câu 3: Tại sao con người cần tiếng nói của văn nghệ?
Câu 4 : Tiếng nói của văn nghệ đến với người đọc bằng cách nào mà có khả năng kì diệu đến vậy? (Tư tưởng, nội dung của văn nghệ được thể hiện bằng hình thức nào? Tác phẩm nghệ thuật tác động đến người đọc qua con đường nào, bằng cách gì?)
Câu 5: Nêu vài nét đặc sắc trong nghệ thuật nghị luận của Nguyễn Đình Thi qua bài tiểu luận này (cách bố cục, dẫn dắt vấn đề, cách nêu và chứng minh các luận điểm, sự kết hợp giữa nhận định, lí lẽ với dẫn chứng thực tế…)


23. Văn bản “Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới” (Vũ Khoan).

I. Tác giả, tác phẩm.

1. Tác giả.

– Vũ Khoan (sinh năm 1937), quê huyện Phú Xuyên, Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội). Vũ Khoan được biết đến là một nhà chính trị và ngoại giao xuất sắc của Việt Nam.

2. Tác phẩm.

– Xuất xứ: Bài viết này đăng trên tạp chí Tia sáng năm 2001, in trong tập “Một góc nhìn của trí” thức, NXB Trẻ, Thành phố HCM, 2002.

– Bố cục 3 phần:

+ Phần 1 từ đầu đến “thiên niên kỷ mới”: Sự chuẩn bị bản thân con người là sự chuẩn bị quan trọng nhất trong hành trang bước vào thế kỉ mới.

+ Phần 2: tiếp theo cho đến “kinh doanh và hội nhập”: Tình hình thế giới và những nhiệm vụ của đất nước.

+ Phần 3: tiếp theo cho đến hết. Những điểm manh, điểm yếu của con người Việt Nam và nhiệm vụ của con người khi bước vào thế kỉ mới.

– Nội dung: Văn bản đã nêu ra bình luận cụ thể về những điểm mạnh, điểm yếu trong tính cách và thói quen của người Việt Nam, từ đó, đưa ra những yêu cầu, đòi hỏi con người Việt Nam phải khắc phục điểm yếu để bước vào thế kỉ mới.

II. Phân tích văn bản.

1. Sự chuẩn bị bản thân con người là sự chuẩn bị quan trọng nhất trong hành trang bước vào thế kỉ mới.

– Khẳng định trong thời khắc chuyển giao giữa hai thế kỉ, cần chuẩn bị tốt hành trang để bước sang một thế kỉ mới thành công.

– Nhấn mạnh sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất vì:

+ Con người lúc nào cũng là động lực phát triển của lịch sử.

+ Con người giữ vai trò nổi trội trong nền kinh tế tri thức mà nền kinh tế này sẽ phát triển nổi trội vào thế kỉ mới.

Cách đặt vấn đề trực tiếp, ngắn gọn, thuyết phục.

2. Tình hình thế giới và những nhiệm vụ của đất nước.

– Tình hình thế giới:

+ Khoa học công nghệ phát triển như huyền thoại.

+ Sự giao thoa sâu rộng giữa các nền kinh tế.

– Nhiệm vụ của đất nước:

+ Thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp.

+ Đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa.

+ Tiếp cận với nền kinh tế tri thức.

Cách trình bày luận điểm logic chặt chẽ.

3. Những điểm manh, điểm yếu của con người Việt Nam và nhiệm vụ của con người khi bước vào thế kỉ mới.

– Điểm mạnh của con người Việt Nam:

+ Thông minh, nhạy bén với cái mới.

+ Cần cù, sáng tạo.

+ Có tinh thần đoàn kết, đùm bọc, nhất là trong kháng chiến chống ngoại xâm.

+ Bản tính thích ứng nhanh.

– Điểm yếu của con người Việt Nam:

+ Thiếu kiến thức cơ bản, kém khả năng thực hành.

+ Thiếu đức tính tỉ mỉ, hành động theo phương châm “nước đến chân mới nhảy”, chưa có được thói quen tôn trọng những quy định nghiêm ngặt của công việc là cường độ khẩn trương.

+ Thường ích kỉ, đố kị nhau trong đời sống thường ngày.

+ Thái độ kì thị với sự kinh doanh, , thói quen ảnh hưởng sự bao cấp, nếp nghĩ sùng ngoại hoặc bài ngoại quá mức.

→ Lập luận song hành: đi liền với điểm mạnh là điểm yếu thể hiện cái nhìn trực diện, thông suốt, thấu đáo, không né tránh. Người Việt Nam nhận rõ về những điểm mạnh, điểm yếu của mình.

– Từ điểm mạnh, điểm yếu, đề ra nhiệm vụ khi bước vào thế kỉ mới:

+ Lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh: Phát huy điểm mạnh.

+ Vứt bỏ điểm yếu.

+ Làm cho lớp trẻ nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu, làm quen với những thói quen tốt đẹp.

→ Lập luận chặt chẽ, logic, chắc chắn, giàu sức thuyết phục thể hiện tài năng, tầm nhìn và ý thức trách nhiệm của một người tài năng luôn lo lắng cho vận mệnh đất nước.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Bài viết đặt ra vấn đề nóng hổi, cấp thiết với cách nhìn nhận khách quan kết hợp với lí lẽ lập luận giản dị, chặt chẽ và thái độ tôn trọng đối tượng, tinh thần trách nhiệm của tác giả. Việc sử dụng ngôn ngữ báo chí gắn với ngôn ngữ sinh hoạt đời thường, cách nói giản dị, dễ hiểu, sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ sinh động, cụ thể và hàm súc cũng là những nét tiêu biểu về nghệ thuật của tác phẩm.

– Nội dung: Tiếng nói văn nghệ đã đưa ra hệ thống luận điểm về nội dung, giá trị của văn nghệ trong đời sống. Thông qua bài viết, tác giả Nguyễn Đình Thi đã khẳng định sức mạnh và vai trò không thể thiếu của văn nghệ đối với đời sống của con người.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Bài nghị luận này phân tích nội dung phản ánh, thể hiện của văn nghệ, khẳng định sức mạnh lớn lao của nó đối với đời sống con người. Hãy tóm tắt hệ thống luận điểm và nhận xét về bố cục của bài nghị luận.
Câu 2: Nội dung phản ánh, thể hiện của văn nghệ là gì?
Câu 3: Tại sao con người cần tiếng nói của văn nghệ?
Câu 4 : Tiếng nói của văn nghệ đến với người đọc bằng cách nào mà có khả năng kì diệu đến vậy? (Tư tưởng, nội dung của văn nghệ được thể hiện bằng hình thức nào? Tác phẩm nghệ thuật tác động đến người đọc qua con đường nào, bằng cách gì?)
Câu 5: Nêu vài nét đặc sắc trong nghệ thuật nghị luận của Nguyễn Đình Thi qua bài tiểu luận này (cách bố cục, dẫn dắt vấn đề, cách nêu và chứng minh các luận điểm, sự kết hợp giữa nhận định, lí lẽ với dẫn chứng thực tế…)


II. VĂN BẢN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI.

24. Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” (Thanh Hải).

I. Tác giả, tác phẩm.

1. Tác giả.

– Thanh Hải (1930-1980), quê Thừa Thiên Huế, là một trong những nhà thơ có mặt sớm nhất trong phong trào kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân miền Nam.

– Phong cách sáng tác: Thanh Hải thường viết về thiên nhiên và lòng yêu cuộc sống. Thơ ông bình dị, nhẹ nhàng nhưng đậm chất triết lí về cuộc đời thể hiện tình yêu cuộc sống tha thiết.

2. Tác phẩm.

– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ viết vào tháng 11-1980 trong hoàn cảnh đất nức đã thống nhất, đang xây dựng cuộc sống mới nhưng còn vô vàn khó khăn gian khổ, thử thách, không đầy một tháng trước khi nhà thơ qua đời. Bài thơ như một lời tâm niệm chân thành, gửi gắm tha thiết của nhà thơ để lại với đời.

– Bố cục 4 phần:

+ Khổ 1: Cảm xúc trước mùa xuân thien nhiên đất nước.

+ Khổ 2+3: Cảm xúc về mùa xuân của đất nước.

+ Khổ 4+5: Ước nguyện của tác giả.

+ Khổ 6: Lời ngợi ca quê hương đất nước qua điệu dân ca xứ Huế.

– Nội dung: Bài thơ bộc lộ cảm xúc của tác giả trước mùa xuân của thiên nhiên đất nước và khát vọng đẹp đẽ muốn làm một “mùa xuân nho nhỏ” dâng hiến cho đời

II. Phân tích bài thơ.

1. Cảm xúc trước mùa xuân thien nhiên đất nước (khổ thơ 1):

– Nhà thơ vẽ ra trước mắt độc giả bức tranh thiên nhiên mùa xuân với:

+ Không gian: cao rộng của bầu trời, dài rộng của “dòng sông xanh”.

+ Âm thanh: âm thanh rộn rã vui tươi của “chim chiền chiện”.

+ Mùa sắc: xanh của dòng sông, tím của hoa.

→ Nghệ thuật đảo cú pháp: không gian cao rộng, màu sắc tươi sáng và âm thanh rộn ràng như thiết tha mời gọi níu giữ con người ở lại với cuộc sống, với mùa xuân xứ Huế tươi đẹp này.

– Cảm xúc của tác giả trước mùa xuân của thiên nhiên:

+ Nhà thơ có cái nhìn trìu mến với cảnh vật

+ Đưa tay ra “hứng” “giọt long lanh”: là giọt sương, cũng có thể là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác chỉ tiếng chim “hót vang trời”

Cảm xúc ngây ngất trước vẻ đẹp của mùa xuân của thiên nhiên, khao khát hòa mình với thiên nhiên đất trời.

* Bình luận:

– Hình ảnh chọn lọc tiêu biểu điển hình của mùa xuân. Từ “mọc” được đặt ở đầu câu kết hợp nghệ thuật đảo ngữ nhằm nhấn mạnh, khắc hoạ sự khoẻ khoắn. “Mọc” tiềm ẩn một sức sống, sự vươn lên, trỗi dậy. Giữa dòng sông rộng lớn,không gian mênh mông chỉ một bông hoa thôi mà không hề gợi lên sự lẻ loi đơn chiếc. Trái lại, bông hoa ấy hiện lên lung linh, sống động, tràn đầy sức (sống) xuân. Màu sắc có sự kết hợp hài hòa giữa các sự vật.  Gam màu hài hoà dịu nhẹ tươi tắn. Màu xanh lam của nước sông (dòng sông Hương) hòa cùng màu tím biếc của hoa, một màu tím giản dị, thuỷ chung, mộng mơ và quyến rũ. Đó là màu sắc đặc trưng của xứ Huế. Âm thanh tiếng chim chiền chiện, loài chim của mùa xuân. Cách dùng các từ cảm thán “ơi”, “chi” mang chất giọng ngọt ngào đáng yêu của người xứ Huế (thân thương, gần gũi). Khung cảnh mùa xuân có không gian cao rộng, màu sắc tươi thắm, âm thanh vang vọng – một sắc xuân của xứ Huế. Một không gian bay bổng lại đằm thắm dịu dàng, tươitắn.

– Cảm xúc say sưa ngây ngất xốn xang rạo rực trước cảnh đất trời vào xuân. Tiếng chim chiền chiện hót vang trời nhưng không tan biến vào không trung. Nó như ngưng đọng lại thành từng giọt âm thanh. Ở đây có sự chuyển đổi cảm giác: từ thính giác đến thị giác, xúc giác. Những yếu tố huyền ảo trong bài thơ được thể hiện một cách sáng tạo, gợi cảm. “Tôi đưa tay tôi hứng” thể hiện sự trân trọng vẻ đẹp của thi nhân đối với vẻ đẹp chất nhạc của trời với sông, của chim với hoa thể hiện sự đồng cảm của thi nhân trước thiên nhiên và cuộc đời.

2. Cảm xúc về mùa xuân của đất nước (khổ thơ 2,3):

– Mùa xuân của đất nước gắn với hình ảnh người cầm súng (những người làm nhiệm vụ chiến đấu) và hình ảnh “người ra đồng”, “lộc” – niềm hi vọng tươi sáng đang theo họ đi khắp nơi hay hay chính họ đã đem mùa xuân đến mọi nơi trên đất nước.

– Nhịp độ khẩn trương : “Tất cả như…xôn xao”: Công cuộc xây dựng mùa xuân của đất nước diễn ra khẩn trương, sôi động.

Nghệ thuật điệp cấu trúc, từ láy… Nhà thơ như reo vui trước tinh thần lao động khẩn trương của con người làm nên mùa xuân của đất nước.

– Nhà thơ nhắc lại về lịch sử bốn nghìn năm “vất vả và gian lao” của đất nước đầy tự hào, đồng thời tin tưởng vào tương lai tươi đẹp của đất nước mai sau bằng hình ảnh so sánh đẹp mang nhiều ý nghĩa “Đất nước như vì sao…phía trước”.

* Bình luận:

– Từ cảm xúc về thiên nhiên tràn trề sức sống, tác giải nghĩ đến màu xuân trong lòng người, mùa xuân của cuộc đời. Hình ảnh hộc non chồi biếc thể hiện sức sống mạnh mẽ của con người. Đây là những hình ảnh tượng trưng, kết cấu đối xứng. Biện pháp tả thực gây được ấn tượng mạnh mẽ. Mùa xuân là mùa ra quân, mùa chiến thắng; mùa xuân cũng là mùa người nông dân ra đồng gieo trồng lúa xuân. Một là nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc; một là nhiệm vụ xây dựng đất nước. Hình ảnh “Đất nước như vì sao/Cứ đi lên phía trước” khái quát toàn bộ lịch sử hào hùng của dân tộc. Một đất nước với 4000 năm dựng nước và giữ nước đã trải qua muôn vàn khó khăn thử thách, gian khổc liệt, tưởng chừng như không thể vượt qua, thế mà vẫn kiên cường.

– Nghệ thuật so sánh “Đất nước như vì sao” khẳng định sự trường tồn vĩnh cửu của thiên nhiênđược so sánh với tầm vóc của dân tộc Việt Nam. Tác giả thể hiện niềm tin vào cách mạng, vào tương lai của đất nước, định hướng, mục đích sống của mỗi con người. Đó là sức sống, sức vươn lên không ngừng của đất nước vào xuân.

3. Ước nguyện chân thành và cao quý của tác giả (khổ thơ 4,5):

– Nhà thơ bộc lộ chân thành và thiết tha khát khao cống hiến giản dị, chân thành cho cuộc đời:

+ Tác giả muốn làm “con chim hót”: góp tiếng hót rộn rã, tươi vui cho cuộc đời.

+ Tác giả muốn làm “nhành hoa”: góp chút sắc hương tô thắm sắc màu cho cuộc sống.

+ Tác giả muốn làm “nốt trầm”: âm thanh nhẹ nhàng, tha thiết, góp phần cho sự hoàn thiện của bản nhạc cuộc sống.

+ Tất cả những khát khao của tác giả chỉ là “một”: khát khao mong ước nhỏ bé, giản dị nhưng ý nghĩa.

→ Không mong muốn những điều lớn lao. Ứớc nguyện hóa thân thiết tha của nhà thơ giản dị nhưng chân thành và tha thiết.

– Thanh Hải đúc kết tất cả những mong ước của mình thành “Một mùa xuân nho nhỏ – Lặng lẽ dâng cho đời”

+ Hình ảnh “mùa xuân nho nhỏ” mang nghĩa ẩn dụ cho khao khát cống hiến phần tươi đẹp nhất của mình cho cuộc đời chung.

+ Từ láy “lặng lẽ” thể hiện sự cống hiến thầm lặng lẽ.

+ Hoán dụ “tuổi hai mươi”, “khi tóc bạc”: sự cống hiến từ lúc còn trẻ đến khi về già. Công hiến suốt đời.

* Bình luận:

– Cuộc sống tươi đẹp, đất nước đang bước vào thời kì mới với biết bao niềm tin và hi vọng trong khi sự sống của bản thân sắp hết khiến tác giả nghĩ đến sự hóa thân, hòa nhập sau khi rời khỏi cuộc sống này. Tác giả muốn làm “một con chim” hót vang trời (mang âm thanh); “một nhành hoa” (khoe sắc tỏa hương), “một nốt trầm” (sự vui vẻ, yêu đời). Nhưng tất cả đều một thôi: một con chim trong muôn ngàn loài chim, một nhành hoa trong biết bao loài hoa, một nốt trầm trong bản hòa ca. Trong cái không khí réo rắt đầy đủ các cung bậc âm thanh, nhà thơ chỉ khiêm tốn xin làm một nốt trầm nhập vào bản hoà ca chung. Lời ước nguyện chân thành tha thiết, muốn làm “một mùa xuân nho nhỏ”, cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ bé của mình cho mùa xuân lớn của đất nước, của cuộc đời chung.

– Sự chuyển đổi cách xưng hô từ “tôi” (riêng, nhỏ bé) sang “ta” (chung, rộng lớn) chính là sự thể hiện của khát vọng hoà nhập ấy. “Một mùa xuân nho nhỏ/Lặng lẽ dâng cho đời/Dù là tuổi hai mươi/Dù là khi tóc bạc”. Hình ảnh có tính chất biểu tượng “mùa xuân – tuổi hai mươi”: trẻ trung sung sức; “tóc bạc”: trở về già. Mạch cảm xúc chuyển từ sôi nổi sang trầm lắng, suy tư.

4. Lời ngợi ca quê hương đất nước qua điệu dân ca xứ Huế (khổ thơ 6):

– Giai điệu được cất lên chính là điệu hát truyền thống của xứ Huế mộng mơ

+ “Nam Ai, Nam Bình”: làn điệu dân ca ngọt ngào xứ Huế, thể hiện tình yêu mến với di sản văn hóa phi vật thể

“Mùa xuân ta xin hát” : không chỉ mở ra không gian nó còn mở ra niềm tự hào về lối sống nghĩa tình của cha ông.

* Bình luận:

Khổ thơ đầu được mở đầu bằng một phong cảnh Huế: hoa nở, chim hót, dòng sông xanh. Khổ kết thúc là một làn điệu dân ca xứ Huế quen thuộc, ngọt ngào, êm dịu, sử dụng ngôn ngữ giàu nhịp điệu, các vần bằng tha thiết, êm ái. Kết cấu đầu cuối tương ứng tạo sự hài hoà, cân đối cho bài thơ, đồng thời thể hiện rõ hơn khát vọng hoà nhập với cuộc đời của tác giả.

III. Tổng kết:

– Nghệ thuật: Thể thơ năm chữ, có nhạc điệu trong sáng, thiết tha gần gũi với dân ca, nhiều hình ảnh đẹp, giản dị, gợi cảm, nhiều so sáng và ẩn dụ sáng tạo, giọng thơ lúc mạnh mẽ, lúc tha thiết ngân vang. Ngôn ngữ thơ trong sáng và biểu cảm, hàm súc và hình tượng. Các biện pháp lu từ như so sánh, ẩn dụ song hành đối xứng, điệp ngữ… được vận dụng sắc sảo, tài hoa.

– Nội dung: Bài thơ là tiếng lòng yêu mến và gắn bó thiết tha với đất nước, với cuộc đời; thể hiện ước nguyện chân thành của nhà thơ muốn được cống hiến, đóng góp một mùa xuân nho nhỏ vào mùa xuân lớn lao của dân tộc. Từ đó mở ra những suy nghĩ về ý nghĩa và giá trị cuộc sống của mỗi cá nhân là sống có ích, có cống hiến cho cuộc đời chung.

– Suy nghĩ của bản thân: Lối sống đẹp là biết phục vụ, cống hiến, hy sinh vì người khác, vì đồng bào, vì quê hương đất nước thân yêu. Sống có mục đích, ước mơ, lý tưởng cao đẹp. Luôn trau dồi tri thức, rèn luyện nhân cách, đạo đức để trở thành công dân tốt, có ích cho quê hương đất nước.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Đọc nhiều lần bài thơ và tìm hiểu mạch cảm xúc trong bài (gợi ý: từ cảm xúc về thiên nhiên, đất nước dẫn đến suy nghĩ, ước nguyện của tác giả). Từ việc nhận ra mạch cảm xúc, hãy nêu bố cục của bài thơ.
Câu 2: Mùa xuân của thiên nhiên, đất nước đã được miêu tả như thế nào qua những hình ảnh, màu sắc, âm thanh trong hai khổ thơ đầu?
Câu 3: Phân tích đoạn thơ “Ta làm con chim hót… Dù là khi tóc bạc” (chú ý những hình ảnh biểu tượng, từ ngữ và cách diễn đạt rất gợi cảm thể hiện một ước nguyện chân thành của tác giả). Đoạn thơ ấy gợi cho em những cảm nghĩ gì về ý nghĩa cuộc sống của mỗi con người.
Câu 4: Bài thơ có nhạc điệu trong sáng, thiết tha, gợi cảm, gần gũi với dân ca. Những yếu tố như thể thơ, cách ngắt nhịp, gieo vần, điệp ngữ,… đã được sử dụng như thế nào để tạo được nhạc điệu ấy ?
Câu 5: Em hiểu thế nào về nhan đề Mùa xuân nho nhỏ? Hãy nêu chủ đề của bài thơ.


25. Bài thơ “Viếng lăng Bác” (Viễn Phương).

I. Tác giải, tác phẩm.

1. Tác giả.

– Viễn Phương (1928-2005), quê tỉnh An Giang. Ông là một cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời chống Mĩ cứu nước.

– Phong cách sáng tác: Thơ của Viễn Phương giàu cảm xúc nhưng không bi lụy, thơ ông nền nã, thì thầm, bâng khuâng.

2. Tác phẩm.

– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được viết vào tháng 4 năm 1976, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, đất nước nước thống nhất, lăng Bác Hồ mới được khánh thành, Viễn phương ra Bắc thăm Bác, nhà thơ đã viết bài thơ này và được in trong tập “Như mây mùa xuân” năm 1978

– Bố cục 4 phần:

– Khổ 1: Cảm xúc của tác giả trước không gian, cảnh vật bên ngoài lăng.

– Khổ 2: Cảm xúc trước đoàn người vào lăng viếng Bác.

– Khổ 3: Cảm xúc khi vào lăng, nhìn thấu di hài Bác.

– Khổ 4: Những tình cảm, cảm xúc trước lúc ra về.

– Nội dung: Bài thơ thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sắc của nhà thơ nói riêng và mọi người nói chung khi đến thăm lăng Bác.

II. Phân tích bài thơ.

1. Niềm xúc động nghẹn ngào khi đến thăm lăng Bác (khổ 1).

– Câu thơ mở đầu như một lời chào tha thiết: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”. Nhân dân miền Nam xưng “con” với Bác vì Bác như một người cha nhân hậu hiền từ

– Nhà thơ dùng từ “thăm”: nói giảm nói tránh để giảm nhẹ đi nỗi đau, mặc dù Bác đã đi xa nhưng trong tâm trí mỗi người Bác luôn sống mãi

– Từ láy “bát ngát” hiện lên trước mắt mà một màu xanh ngút ngàn trải dài và lan ra quanh lăng

– Hình ảnh hàng tre mang nghĩa thựclà những khóm tre quanh lăng nhưng còn mang nghĩa ẩn dụ chỉ phẩm chất con người Việt Nam bất khuất kiên cường, ngay thẳng có tinh thần yêu thương, đùm bọc

Tác giả đứng trước lăng bác với cảm xúc nghẹn ngào “ôi”, xưng hô “con”…

* Bình luận:

– Cách nói “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” thể hiện thái độ trìu mến, thiết tha của nhà thơ đối với bác Hồ kính yêu. Câu thơ như một lời tâm sự, giải bày, từ ngữ dung dị, tự nhiên, cách xưng hô thân mật, gầngũi, thân thương, kính trọng, giọng điệu cảm xúc (như người con về thăm cha). Từ “thăm” thay cho từ “viếng”: kìm nén đau thương nói tránh, khẳng định Bác còn sống mãi.

– Ấn tượng đầu tiên sâu sắc về hình ảnh “hàng tre” quanh lăng Bác vừa thực vừa tượng trưng. Hàng tre bát ngát, thẳng hàng (tả thực). Hàng tre xanh xanh Việt Nam (tượng trưng). Xung quanh lăng Bác trồng nhiều tre và trúc. Tre cũng là hình ảnh quen thuộc là biểu tượng của nhân dân Việt Nam. Hình ảnh hàng tre thể hiện lòng tôn kính, trang nghiêm. Dường như dân tộc Việt Nam quần tụ quanh Bác. “Hàng tre” như gợi tả đội quân danh dự bên người. Hình ảnh hàng tre vừa tượng trưng vừa thực, gợi tả được sự giản gị, gần gũi nhưng cũng rất thiêng liêng.

2. Cảm xúc trước đoàn người vào lăng viếng Bác ( khổ 2).

– Ẩn dụ “mặt trời” khẳng định Bác là mặt trời của dân tộc mang ánh sáng ấm áp cho cuộc sống của dân tộc, đồng thời thể hiện niềm yêu mến kính trọng Bác.

– Sử dụng điệp ngữ “ngày ngày” chỉ thời gian vô tận, tấm lòng của người dân chưa bao giờ thôi nhớ Bác.

– Hình ảnh ẩn dụ “tràng hoa” chỉ những người vào lăng viếng Bác kết thành tràng hoa rực rỡ huy hoàng, mỗi người mang một bông hoa của lòng thành kính, sự yêu mến và niềm ngưỡng vọng lãnh tụ.

“bảy mươi chín mùa xuân” là hoán dụ chỉ cuộc đời Bác đẹp như những mùa xuân, đó còn là tuổi thọ của Bác.

Sự biết ơn công lao to lớn của chủ tịch Hồ Minh, niềm thành kính của người dân Việt Nam với vị lãnh tụ của dân tộc.

* Bình luận:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…
“.

– Hình ảnh ẩn dụ “mặt trời” ánh sáng của sự sống vĩ đại lớn lao. Bác được ví như mặt trời soi đường chỉ lối cho dân tộc Việt Nam, mang lại cuộc sống ấm no cho nhân dân, cho dân tộc. Hình ảnh đó thể hiện lòng tôn kính và biết ơn, đồng thời gợi nên sự cao cả vĩ đại, lớn lao của bác.

– Bằng điệp từ “ngày ngày”, nhà thơ đã đúc kết một sự thực cảm động diễn ra ngày này qua ngày khác. Biết bao dòng người với nỗi tiếc thương vô hạn cứ lặng lẽ lần lượt vào lăng viếng Bác. Câu thơ sâu lắng có âm điệu kéo dài như diễn tả dòng người vô tận, khái quát thật sâu sắc tình cảm sâu nặng của nhà thơ với Bác Hồ.

– Với lòng biết ơn vô hạn, Viễn Phương đã sáng tạo hình ảnh ẩn dụ, giàu ý nghĩa tượng trưng “bảy mươi chín mùa xuân” để ca ngợi sự cống hiến, hi sinh cao cả của Bác Hồ kính yêu. Cuộc đời của Người là “bảy mươi chín mùa xuân” tươi đẹp, cống hiến trọn vẹncho dân tộc, cho đất nước. Sự cống hiến của Bác thật cao cả, vĩ đại! Vì vậy Bác còn sống mãi trong niềm ngưỡng mộ, tôn kính của nhân dân.

3. Cảm xúc khi vào lăng, nhìn thấy di hài Bác (Khổ 3).

“Giấc ngủ bình yên”: nói giảm nói tránh nhằm giảm đi nỗi đau, vừa thể hiện thái độ nâng niu, trân trọng giấc ngủ của Bác.

“Vầng trăng sáng dịu hiền”: nhân hóa chỉ ánh đèn tỏa ra từ lăng, đó cũng là ẩn dụ chỉ vẻ đẹp tâm hồn thanh cao của Người

“Trời xanh”: ẩn dụ Bác trường tồn, vĩnh hằng cùng non sông đất nước

– Nhà thơ dùng nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “nghe nhói ở trong tim”, nhà thơ như nghe thấy nỗi đau cứ nhức nhối như cắt cứa trong tim mình

Cảm xúc trong lăng của nhà thơ với Bác thành kính mà xúc động.

* Bình luận:

Bên Bác, nhà thơ cảm thấy gần gũi, thân thương:

“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền”.

– Bác đang yên nghỉ giữa lòng quê hương, đất nước thân yêu. Tác giả đã chọn lọc một hình ành đặc sắc, sinh động, giàu sức gợi cảm “vầng trăng sáng dịu hiền” để ca ngợi tâm hồn trong sáng cao đẹp tuyệt vời của Bác. Trong cảm nhận của nhà thơ, Bác mãi mãi là một vầng trăng ngời ngời tỏa sáng tình yêu thương cho con người và cuộc đời. “Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim”.

– “Trời xanh” cũng là hình ảnh ẩn dụ, là biểu tượng sự trường tồn của Bác Hồ – Người đã ra đi nhưng lý tưởng sự nghiệp của Người vẫn còn mãi. Cụm từ “vẫn biết >< mà sao” dùng như một sự đối lập. Đó là sự mâu thuẫn giữa lý trí (biết rằng hình ảnh Bác vẫn còn sống mãi, cũng như lý tưởng cao quý của Người) và tình cảm (đau đớn, xót xa khi nhận thức được thực tại).

– Những hình ảnh lớn lao “mặt trời”, “vầng trăng”, “trời xanh” là biểu tượng của thiên nhiên trường tồn, vĩnh cửu, bất diệt được ví với Bác. Bác như hoá thân vào non sông xứ sở, Bác trường tồn mãi mãi, vĩ đại, lớn lao ngang tầm trời đất.

4. Những tình cảm, cảm xúc trước lúc ra về (khổ 4).

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt”: cảm xúc trực tiếp lưu luyến không muốn rời xa.

– Phép liệt kê, ẩn dụ “con chim, đóa hoa, cây tre” cùng với điệp ngữ “muốn làm” thể hiện niềm dâng hiến tha thiết, mãnh liệt, muốn làm một điều gì đó vì Bác.

– Hình ảnh cây tre được lặp lại tạo kết cấu đầu cuối tương ứng.

→ Chủ thể “con” đến đây không xuất hiện thẻ hiện ước nguyện này không phải của riêng tác giả mà là của tất cả mọi người, của dân tộc ta đối với Bác.

* Bình luận:

Nghĩ đến ngày về Miền nam, ngày xa Bác, dòng cảm xúc của nhà thơ tiếp tục dâng trào: “Mai về miền Nam thương trào nước mắt”. Hình ảnh chứa chan cảm xúc “thương trào nước mắt” diễn tả cái cảm xúc đang dâng trào mãnh liệt trong lòng tác giả. Nhà thơ lưu luyến, nhớ thương, xúc động, nghẹn ngào,không muốn rời xa người cha già kính yêu.

– Với tất cả tấm lòng thành kính, biết ơn Bác, người con miền Nam đã bày tỏ ướcnguyện:

“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”.

– Điệp ngữ “muốn làm” được đặt ở đầu 3 câu thơ liên tiếp nhau gắn liền với hình ảnh “con chim hót”, “đóa hoa tỏa hương” và “cây tre trung hiếu” thể hiện ước nguyện giản dị, chân thành và sâu sắc của nhà thơ. Trước anh linh của Bác, người con miền Nam xin hứa luôn giữ mãi phẩm chất cao đẹp, trong sáng, cốt cách của con người Việt Nam để mãi mãixứng đáng là lớp cháu con của Bác.

– Hình ảnh nhân hóa sinh động giàu sức biểu cảm “cây tre trung hiếu” gợi lên hình ảnhnhững người con trung kiên, hiếu nghĩa, một lòng vì nước vì dân. Tác giả nguyện sống xứng đáng là người con trung hiếu của dân tộc. Lời hứa đó thể hiện tình cảm thành kính thiêng liêng của người con miền Nam và của nhân dân cả nước thành tâm hướng về Bác vô hạn.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Với thể thơ 8 chữ, giọng điệu thiết tha, sâu lắng, sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ quen thuộc, ngôn ngữ thơ giản dị mà cô đọng. Bài thơ có giọng điệu phù hợp với nội dung tình cảm, cảm xúc vừa trang nghiêm sâu lắng vừa tha thiết, đau xót, tự hào, thể hiện tâm trạng xúc động của nhà thơ vào lăng viếng Bác. Thể thơ tám chữ, có dòng bảy chữ gieo vần lưng. Khổ thơ không cố định có khi liền khi cách nhịp. Nhịp thơ chậm, diễn tả sự trang nghiêm, thành kính, lắng đọng. Hình ảnh thơ sáng tạo, có nhiều biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ, tượng trưng

– Nội dung: Thể hiện niềm xúc động, thành kính, và nỗi đau xót của nhà thơ trước sự ra đi của Bác, ước nguyện là được ở mãi bên Bác, đang lên Bác tất cả lòng tôn kính và biết ơn…

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Đọc nhiều lần bài thơ, tìm hiểu cảm xúc bao trùm của tác giả và trình tự biểu hiện trong bài.
Câu 2: Phân tích hình ảnh hàng tre bên lăng Bác được miêu tả ở khổ thơ đầu. Tác giả đã làm nổi bật những nét nào của cây tre và điều đó mang ý nghĩa ẩn dụ như thế nào? Câu thơ cuối bài trở lại hình ảnh cây tre đã bổ sung thêm phương diện ý nghĩa gì nữa của hình ảnh cây tre Việt Nam?
Câu 3: Tình cảm của nhà thơ và của mọi người đối với Bác đã được thể hiện như thế nào trong các khổ thơ 2,3,4? Chú ý phân tích những hình ảnh ẩn dụ đặc sắc trong các khổ thơ này.
Câu 4: Nhận xét về sự thống nhất giữa nội dung tình cảm, cảm xúc và các yếu tố nghệ thuật (thể thơ, nhịp điệu, ngôn ngữ, hình ảnh) của bài thơ.


26. Bài thơ “Sang thu” (Hữu Thỉnh).

I. Tác giả, tác phẩm.

1. Tác giả.

– Hữu Thỉnh (sinh năm 1942), quê ở Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc, là nhà thơ tiêu biểu của nền văn học kháng Mĩ cứu nước.

– Phong cách sáng tác: Ông là người viết nhiều, viết hay về con người và cuộc sống ở nông thôn. Thơ ông giản dị nhưng vô cùng tinh tế và sâu sắc.

2. Tác phẩm.

– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ “Sang thu” ra đời gần cuối năm 1977 khi đất nước mới thống nhất hòa bình, in trong tập “Từ chiến hào đến thành phố”.

– Bố cục 3 phần:

+ Khổ 1: Cảm nhận về thiên nhiên lúc giao mùa, tín hiệu báo thu về

+ Khổ 2: Cảm nhận về quang cảnh trời đất lúc vào thu

+ Khổ 3: Những biến chuyển âm thầm của tạo vật và suy ngẫm về cuộc đời người lúc chớm thu

– Nội dung: Bài thơ là những cảm nhận thực sự tinh tế cùng sự quan sát vô cùng tỉ mỉ của tác giả về sự biến chuyển của đất trời từ cuối mùa hạ sang thu. Từ đó bộc lộ tình yêu thiết tha với thiên nhiên của một tâm hồn nhạy cảm và sâu sắc. Bài thơ được viết theo thể thơ năm chữ: nhịp nhàng, khoan thai, êm ái, trầm lắng vàthoáng chút suy tư… thể hiện một bức tranh cuối hạ sang đầu thu trong sáng, đáng yêu ởvùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ.

II. Phân tích bài thơ.

1. Cảm nhận về thiên nhiên lúc giao mùa, tín hiệu báo thu về (khổ 1).

“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về”.

– Thiên nhiên cảm nhận từ những gì vô hình, rất ấn tượng: “hương ổi”. Đó là hương thơm bình dị của làng quê Bắc Bộ mà bất cứ ai cũng đã từng cảm nhận mỗi dịp chớm thu.

“Gió se” là gió heo may, khiến làn da cảm nhận được hơi lạnh và khô.

– Từ “phả” gợi sự sánh, hòa quyện, huơng thu hòa trong làn gió se trải đều khắp các ngõ ngách làng quê.

– Nhân hóa “sương chùng chình” tả làn sương mỏng nhẹ bắt đầu xuất hiện, có lẽ làn sương cũng như cố chậm lại có vẻ đợi chờ ai

Những chuyển biến của không gian được tác giả cảm nhận bằng nhiều giác quan tinh tế: khướu giác (hương ổi), xúc giác (gió se), thị giác (sương chùng chình) và bằng tâm hồn (hình như thu đã về?). Con người quanh năm bận rộn thấm thoắt thu đã đến, cái ngõ mà sương chùng chình chưa muốn qua có lẽ là cái ngõ của cuộc đời vào thu.

* Bình luận:

– “Hương ổi” là làn hương đặc biệt của mùa thu miền Bắc được cảm nhận từ mùi ổi chín rộ. Đọng từ “phả” có nghĩa là toả vào, trộn lẫn, gợi mùi hương ổi ở độ đậm nhất, thơm nồng quyến rũ, hoà vào trong gió heo may của mùa thu, lan toả khắp không giantạo ra một mùi thơm ngọt mát – hương thơm nồng nàn hấp dẫn của những vườn cây sum suê trái ngọt ở nông thôn Việt Nam.

– Những hạt sương nhỏ li ti giăng mắc như một làm sương mỏngnhẹ nhàng trôi, đang “cố ý” chậm lại thong thả, nhẹ nhàng, chuyển động chầm chậm sangthu. Hạt sương sớm mai cũng như có tâm hồn

– Kết hợp một loạt các từ: “bỗng”, “phả”, “hình như” thể hiện tâm trạng ngỡ ngàng, cảm xúc bâng khuâng trước thoáng đi bất chợt của mùa thu. Nhà thơ giật mình, hơi bối rối, hình như còn có chút gì chưa thật rõ ràng trong cảm nhận. Vì đó là những cảm nhận nhẹ nhàng, thoáng qua. hay là vì quá đột ngột mà tác giả chưa nhận ra? Tâm hồn thi sĩ biến chuyển nhịp nhàng với phút giao mùa của cảnh vật. Từng cảnh sang thu thấp thoáng hồn người: chùng chình, bịn rịn, lưu luyến, bâng khuâng.

2. Quang cảnh đất trời vào thu (khổ 2).

“Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu”.

– Không gian đất trời vào thu bằng những dấu hiệu và hình ảnh: “sông dềnh dàng”, “chim vội vã”: Sông cạn nước đã chảy chậm hơn, đàn chim đã bắt đầu bay đi tránh rét

Phép nhân hóa: “sông dềnh dàng”, “chim vội vã”, “mây vắt nửa mình”. Từ những dấu hiệu vô hình giờ đây hữu hình, không gian đất trời mở ra nhiều tầng bậc khác nhau.

– Hình ảnh “Có đám mây màu hạ / Vắt nửa mình sang thu” rất độc đáo và sáng tạo, giàu sức lien tưởng. Những đám mây xanh mỏng lững lở bảng lảng như một dải lụa nửa nghiêng về mùa hạ nửa ngả về mùa thu.

Con người vừa muốn níu kéo cái rực rỡ của mùa hè vừa muốn vội vã làm việc gì chưa xong khi mùa thu chưa ngả chiều.

* Bình luận:

– Dòng sông quê hương thướt tha mềm mại, hiền hoà trôi một cách nhàn hạ, thanh thản, gợi lên vẻ đẹp êm dịu của bức tranh thiên thiên mùa thu. Dường như, dòng sông còn lưu luyến bờ xinh bãi đẹp của đất trời, cứ “dềnh dàng” không muốn trôi đi. Đối lập với hình ảnh trên là những cánh chim chiều bắt đầu vội vã bay về phương nam tránh rét trong buổi hoàng hôn.

– Hình ảnh đám mây được miêu tả qua sự liên tưởng độc đáo bằng tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết: “Có đám mây mùa hạ / Vắt nửa mình sang thu”. Hình ảnh một làn mây mỏng, nhẹ, kéo dài của mùa hạ còn sót lại như lưu luyến, níu kéo. Không phải vẻ đẹp của mùa hạ cũng chưa hẳn là vẻ đẹp của mùa thu mà đó là vẻ đẹp của thời khắc giao mùa được sáng tạo từ một hồn thơ tinh tế và nhạy cảm.

3. Những biến chuyển âm thầm của tạo vật và suy ngẫm về cuộc đời người lúc chớm thu (khổ 3).

“Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi”.

– Đất trời dần sang thu, nắng vẫn còn nhưng đã nhạt, mưa ít đi, sấm cũng bớt đi, “hàng cây đứng tuổi” là hình ảnh nhân hóa chỉ những cây cổ thụ già, lâu năm. Tín hiệu mùa hạ vẫn còn nhưng đã nhạt dần.

+ Lớp nghĩa ẩn dụ đem đến cho bài thơ sự đặc sắc. “Sấm” là những biến đổi bất thường, “hàng cây đứng tuổi” chỉ những con người từng trải sẽ vững vàng hơn.

* Bình luận:

– “Nắng” là hình ảnh cụ thể của mùa hạ. Nắng cuối hạ vẫn còn nồng, còn sáng nhưng đã nhạt dần, yếu dần bởi gió se đã đến chứ không chói chang, dữ dội, gây gắt. Mưa cũng đã ít đi. Cơn mưa mùa hạ thường bất ngờ chợt đến rồi lại chợt đi. Từ “vơi” có giá trị gợi tả, diễn tả cái thưa dần, ít dần, hết dần những cơn mưa rào ào ạt, bất ngờ của mùa hạ.

– Hình ảnh “Sấm cũng bớt bất ngờ / Trên hàng cây đứng tuổi” vừa có ý nghĩa tả thực vừa mang nghĩa ẩn dụ độc đáo. Hình tượng sấm thường xuất hiện bất ngờ đi liền với những cơnmưa rào chỉ có ở mùa hạ (sấm cuối mùa, sấm cuối hạ cũng bớt đi, ít đi lúc sang thu). Sấm là những vang động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời. “Hàng cây đứng tuổi” gợi tả những con người từng trải đã từng vượt qua những khó khăn,những thăng trầm của cuộc đời. Qua đó, con người càng trở nên vững vàng hơn.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật:  Bài thơ có nhiều hình ảnh đặc sắc, từ ngữ độc đáo, cảm nhận tinh tế, giọng thơ êm đềm gợi cảm về thời khắc giao mùa hạ sang thu ở làng quê Việt Nam. Tác giả sử dụng khá thành công một số biện pháp nghệ thuật tu từ như từ láy, nhân hoá, ẩn dụ. Các biện pháp nghệ thuật này có tác dụng nhấnmạnh vẻ đẹp dịu dàng, êm ả của đất trời khi thu sang.

– Nội dung: “Sang thu” là một bức thông điệp lúc giao mùa. Mùa hạ dần qua, mùa thu tới, khoảnh khắc ấy được diễn tả bằng sự rung cảm tinh tế, sự trải nghiệm sâu sắc của nhà thơ. Mạch cảm xúc xuyên suốt với hai nội dung nổi bật: cảm nhận về thiên nhiên lúc sang thu và suy ngẫm về đời người khi chớm thu.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Sự biến đổi của đất trời sang thu được Hữu Thỉnh cảm nhận bắt đầu từ đâu và gợi tả qua những hình ảnh, hiện tượng gì?
Câu 2: Phân tích sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ về những biến chuyển trong không gian lúc sang thu. (Gợi ý: qua hương vị, qua sự vận động của gió, sương, của dòng sông, cánh chim, đám mây, qua nắng, mưa, tiếng sấm. Chú ý các từ ngữ phả vào, chùng chình, dềnh dàng…)
Câu 3: Theo em, nét riêng của thời điểm giao mùa hạ – thu này được Hữu Thỉnh thể hiện đặc sắc nhất qua hình ảnh, câu thơ nào? Em hiểu thế nào về hai dòng thơ cuối bài:
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
Câu 4. Dựa vào các hình ảnh, bố cục của bài thơ, viết một bài văn ngắn diễn tả cảm nhận của Hữu Thỉnh trước sự biến chuyển của đất trời lúc sang thu.


27. Bài thơ “Nói với con” (Y Phương).

I. Tác giải, tác phẩm.

1. Tác giả.

– Y Phương (sinh năm 1948), quê quán huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng. Ông là một trong những nhà thơ dân tộc thiểu số tiêu biểu, có nhiều đóng góp quan trọng trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX.

– Phong cách sáng tác: Thơ Y Phương thể hiện tâm hồn mạnh mẽ, chân thực và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của người dân tộc miền núi, mang đậm bản sắc vùng cao.

2. Tác phẩm.

– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác năm 1980, khi đất nước mới hòa bình thống nhất nhưng gặp rất nhiều khó khăn thiếu thốn. Từ hiện thực ấy nhà thơ sáng tác bài thơ như lời tâm sự, động viên chính mình đồng thời nhắc nhở con cái sau này.

– Bố cục 2 đoạn:

+ Đoạn 1: Con lớn lên trong tình yêu thương, sự giúp đỡ của cha mẹ , trong cuộc sống lao động của quê hương.

+ Đoạn 2: Lòng tự hào về sức sống bền bỉ, manh mẽ về truyền thống cao đẹp của quê hương và niềm mong ước con sẽ kế tục những truyền thống đáng quý.

– Nội dung: Bài thơ thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống, niềm tự hào về quê hương, dân tộc mình. Bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân tộc miền núi, gợi nhắc đến tình cảm đẹp đẽvới quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống.

II. Phân tích bài thơ.

1. Cội nguồn sinh dưỡng của con (đoạn 1).

– Cội nguồn gia đình: Con lớn lên trong những tháng ngày chờ trông, mong đợi của cha mẹ. phép đối “hân phải – chân trái”, “một bước – hai bước”  tạo âm điệu vui tươi, tạo không khí đầm ấm, hạnh phúc, mỗi nhịp bước của con đều có cha mẹ dang rộng vòng tay che chở. Đó là tình cảm thiêng liêng mà con luôn phải khắc cốt ghi tâm.

– Cội nguồn quê hương: Quê hương là nguồn sống và chở che con người. Những hình ảnh đơn sơ, thân thuộc nhưng có ý nghĩa sâu sắc đối với con người. Họ biết làm đẹp cuộc sống ngay cả trong những vật dụng nhỏ bé: “đan lờ cài nan hoa” là công việc đã tạo nên vẻ đẹp của con người lao động.  “Vách nhà ken câu hát” thể hiện cuộc sống hòa với niềm vui. Cuộc sống lao động của người đồng mình được gợi lên qua nhiều hình ảnh đẹp đẽ. Sử dụng các động từ: “đan”, “ken”, “cài” vừa diễn tả những động tác cụ thể, khéo léo vừa nói lên cuộc sống gắn bó với niềm vui. Phép nhan hóa “rừng cho hoa”, “con đường cho những tấm lòng” tạo cảm giác gần gũi, thân thuộc. Rừng không chỉ cho gỗ, cho lâm sản mà còn cho hoa (làm đẹp cuộc sống). Con đường đâu chỉ đãn lối mà còn cho những tấm lòng cao cả tấm lòng cao cả, thủy chung.

* Bình luận:

– Mở đầu bài thơ bằng những hình ảnh cụ thể, Y Phương đã tạo được không khí giađình đầm ấm, quấn quýt. Từng bước đi, từng tiếng nói tiếng cười của con được cha mẹmừng vui đón nhận:

“Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười”

– Những câu thơ có cách diễn đạt thật độc đáọ đã cho thấy tình yêu thương của cha mẹ đối với con. Con lớn lên hàng ngày trong tình yêu thương ấy, trong sự nâng niu, mong chờ của cha mẹ.

Không chỉ có tình yêu thương của cha mẹ, thời gian trôi qua, con trưởng thành trong cuộc sống lao động, trong thiên nhiên thơ mộng và nghĩa tình của quê hương. Đó là cuộc sống của những “người đồng mình”, rất cần cù và tươi vui:

“Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới”

–  Cách gọi “người đồng mình” đặc biệt gần gũi, thân thiết và gắn bó như gợi niềm ruột thịt yêu thương. Những từ ngữ giàu sắc thái biểu hiện: “cài nan hoa”, “ken câu hát”,… đã miêu tả cụ thể cuộc sống ấy đồng thời thể hiện tình cảm gắn bó, quấn quýt của con người quê hương. Rừng núi quê hương thơ mộng và trữ tình cũng là một trong những yếu tố nuôi con khôn lớn, nâng đỡ tâm hồn con. Thiên nhiên với những sông, suối, ghềnh, thác… đã nuôi dưỡng con người cả về tâm hồn và lối sống.

2. Quê hương và gia đình nuôi con khôn lớn (đoạn 2).

“Người đồng mình” là những người sống chung trên một miền quê, cùng một dân tộc, “thương lắm”- sự gắn bó yêu thương, đùm bọc.

– Người đồng mình có chí khí mạnh mẽ. Họ cũng có niềm vui, nỗi buồn, những tâm sự trước cuộc sống vốn khó khăn, khắc nghiệt. Nhưng, ở đây, nỗi buồn được cụ thể hóa bằng chiều cao, chí được đo bằng độ xa. người đọc có thể cảm nhận nỗi buồn chồng chất trong cuộc sống của họ. Cuộc sống vẫn nhiều buồn lo cực nhọc nhưng tâm càng sáng chí càng bền, tầm nhìn càng xa càng rộng.

– Người đồng mình thủy chung tình nghĩa. Họ sống với tâm thế bản lĩnh kiên cường, bất chấp khó khăn gian khổ. Họ gắn kết với quê huwong, xứ sở như máu thịt của mình. Mặc dù cuộc sống quê hương khó khăn vất vả nhưng họ “không chê”, học vẫn thủy chung với quê hương, gắn bó với quê hương để tạo dựng cuộc sống. Họ có lối sống phóng khoáng đầy nghị lực và vô tư “như sống như suối” . Đó là ngọn nguồn củasức sống mãnh liệt, đầy ắp nghĩa tình. Dù “lên thác xuỗng ghềnh” nhưng người đồng mình vẫn không lo cực nhọc, vẫn đầy sự yêu mến tự hào về quê hương.

– Người đồng mình giàu lòng tự trọng. Dù vẻ bề ngoài có “thô sơ da thịt”, nói không hay, làm không khéo, làn da mái tóc dãi dầu mưa nắng nhưng phẩm chất bên trong không hề nhỏ bé, tầm thường.

– Người đồng mình khát vọng xây dựng quê hương giàu đẹp. Họ tự lực tự cường, tự xây dựng quê hương bằng bàn tay khối óc. Họ xây dựng quê hương, đưa quê hương có thể sánh ngang với các cường quốc năm châu.

Người cha gợi cho con niềm tự hào và khát vọng xây dựng quê hương, kế tục truyền thống đáng tự hào của dân tộc.

* Bình luận

– Cha nói với con về những đức tính cao đẹp của “người đồng mình” với sự trân trọng và niềm tự hào lớn lao. Đó là những con người có lòng yêu lao động, hăng say lao động với cả tấm lòng. Đó là những con người có sức sống bền bỉ, mạnh mẽ, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ: “Người đồng mình thương lắm con ơi / Cao đo nỗi buồn / Xa nuôi chí lớn”. Dùng những từ ngữ rất mạnh mẽ như “cao”, “xa”, “lớn”, tác giả muốn nhấn mạnh cuộc sống khoáng đạt, mạnh mẽ của những “người đồng mình”. Dù khó khăn, đói nghèo còn nhiều nhưng họ không nhụt chí, ý chí của họ vẫn rất vững chắc, kiên cường:

“Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục”

– Những “người đồng mình” vượt qua vất vả để bám trụ lấy quê hương. Bằng cuộc sống lao động không mệt mỏi, họ xây dựng quê hương với những truyền thống cao đẹp. Những “người đồng mình” mộc mạc, thẳng thắn nhưng giàu chí khí, niềm tin… Người cha đã kể với con về quê hương với cảm xúc rất tự hào .

3. Lời nhắn nhủ và mong muốn ở con.

– Cha nhắc con “lên đường” là khi con trưởng thành, dù ở bất cứ đâu, đi bất cứ nới nào cũng không bao giờ được sống một cách tầm thường phải luôn giữ lấy cốt cách giản dị, ý chí của dân tộc để vững bước. Qua đó cha thể hiện tình yêu con. Đó còn là lời của cha anh đi trước nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải vững tin vào cuộc đời để xây dựng quê hương giàu đẹp.

* Bình luận:

– Người cha mong cho con mình sống ngay thẳng, trong sạch, sống với ý chí, niềm tin để vững vàng vượt qua mọi thử thách khó khăn. Người cha mong cho con sống phải luôn tin vào khả năng của mình, tin tưởng vàobản thân và lòng tự hào với sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, với truyền thống của quê hương.

– Bài thơ đã gợi cho người đọc những suy nghĩ sâu sắc. Đằng sau những lặng lẽ,thâm trầm cùa cha là biết bao yêu thương, biết bao mong mỏi, biết bao hi vọng, biết bao đợi chờ … Con lớn lên như hôm nay không chỉ nhờ vào cơm ăn và áo mặc mà còn mang nặngân tình của những lời dạy dỗ ân cần thấm thía. Con sẽ bước theo những bước chân vững chắc mà cha để lại trên con đường cha bước, nguyện “sống như sông như suối”, luôn ngẩng cao đầu “lên đường” mà không “thô sơ da thịt”. Và trên con đường ấy, con sẽ mang theo hình ảnh quê hương để tiếp tục nối tiếp cha anh “tự đục đá kê cao quê hương” thân thiết của mình.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Bài thơ được làm theo thể thơ tự do phóng khoáng làm cho cảm xúc cụ thể, rõ ràng, giọng điệu thơ trìu mến, thiết tha. Ngôn ngữ thơ cụ thể, hàm súc, nhiều ý nghĩa, hình ảnh thơ độc đáo sinh động mang đậm bản sắc thơ ca miền núi cũng là những nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm

– Nội dung: Mượn lời người cha nói với con, bài thơ gợi về cội nguồn của mỗi con người, đồng thời bộc lộ niềm tự hào trước sức sống mạnh mẽ, bền bỉ của quê hương mình. Nhà thơ đã mở rộng từ tình cảm gia đình đến tình cảm quê hượng, từ những kỷ niệm gần gũi, thiết tha mà nâng lên thành lẽ sống. Bài thơ đồng thời cũng gợi cho người đọc những suy nghĩ sâu sắc về trách nhiệm của người làm con.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Mượn lời nói với con, nhà thơ gợi về cội nguồn sinh dưỡng mỗi con người, gợi về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ của quê hương mình. Bố cục của bài thơ đã thể hiện ý tưởng đó như thế nào?
Câu 2: Con được lớn lên trong tình yêu thương của cha mẹ, trong sự đùm bọc của quê hương. Hãy tìm và phân tích các câu thơ nói lên điều ấy.
Câu 3: Người cha nói với con về những đức tính cao đẹp gì của người “đồng mình”, từ đó nhắc nhở con trên đường đời cần phải như thế nào?
Câu 4: Em cảm nhận như thế nào về tình cảm người cha đối với con trong bài thơ? Điều lớn lao nhất mà người cha muốn truyền cho con qua những lời này là gì?
Câu 5 : Nhận xét về cách diễn tả tình cảm và suy nghĩ bằng hình ảnh của nhà thơ. (Gợi ý: Người miền núi thường có cách nói giàu hình ảnh, cụ thể, mộc mạc mà có tính khái quát, giàu chất thơ. Chẳng hạn bốn dòng thơ đầu bài hay các câu: “Đan lờ cài nan hoa / Vách nhà ken câu hát” / “Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương”…)


28. Truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” (Lê Minh Khuê).

I. Tác giả, tác phẩm.

1. Tác giả.

– Lê Minh Khuê sinh năm 1949, quê huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

– Phong cách sáng tác: Các tác phẩm của Lê Minh Khuê ra đời đầu những năm 70 của thế kỉ XX đều viết về cuộc sống chiến đấu của thanh niên xung phong và bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn khói lửa. Từ sau năm 1975, sáng tác của Lê Minh Khuê đã bám sát những biến chuyển cùa đời sống, đề cập đến nhiều vấn đề bức xúc của xã hội thời đổi mới. Ngòi bút miêu tả tâm lý của Lê Minh Khuê khá sắc sảo, nhất là khi miêu tả tâm lý phụ nữ.

2. Tác phẩm.

– Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn “Nhưng ngôi sao xa xôi” được viết năm 1971, lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra vô cùng ác liệt, lúc đó tác giả từng là chiến sĩ thanh niên xung phong ở Trường Sơn.

– Bố cục 3 phần:

+ Phần 1 (Từ đầu đến “là những người mặc quân phục, có ngôi sao trên mũ”): Hoàn cảnh sống và làm việc của các cô gái trong tổ trinh sát.

+ Phần 2 (Tiếp theo đến “Chị Thao bảo”): Một lần phá bom của tổ trinh sát.

+ Phần 3 (Còn lại): Trận mưa đá diễn ra trên cao điểm.

– Nội dung: tác phẩm đã khắc họa rõ nét tâm hồn trong sáng, mộng mơ cùng tinh thần lạc quan dũng cảm giàu nghị lực của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Đó cũng là hình ảnh đẹp của thanh niên, thế hệ trẻ Việt Nam những năm kháng chiến chống Mĩ.

– Tóm tắt tác phẩm: Truyện kể về cuộc sống và chiến đấu của ba cô gái thanh niên xung phong: Thao, Phương Định và Nho của một trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn những năm kháng chiến chống Mĩ. Họ làm thành một tổ trinh sát mặt đường làm nhiệm vụ phá bom, đo khối lượng đất đá lấp vào hố bom thông đường cho đoàn xe ra mặt trận. Công việc vô cùng khó khăn và gian khổ, họ luôn phải đối mặt với cái chết nhưng chưa bao giờ mất đi niềm vui, sự hồn nhiên của tuổi trẻ, những giây phút mơ mộng. Họ yêu thương và gắn bó với nhau mặc dù mỗi người một cá tính. Trong một lần phá bom, Nho bị thương, đồng đội hết sức lo lắng, chăm sóc cho cô rất tận tình. Cuối truyện, một trận mưa đá gợi trong lòng Phương Định những khát khao hoài niệm.

II. Phân tích tác phẩm.

1. Hoàn cảnh sống và chiến đấu của ba nữ thanh niên xung phong.

– Các cô gái sống trong một cái hang dưới chân cao điểm trong vùng trọng điểm, nơi tập trung nhiều nhất bom đạn và sự nguy hiểm ác liệt.

– Cuộc sống thiếu thốn. Họ uống nước suối đựng trong ca hoặc bi đông, tắm ở suối, dụng cụ giải trí duy nhất là một cây đài bán dẫn nhỏ để nghe nhạc và tin tức.

– Công việc đặc biết nguy hiểm: chạy trên cao điểm cả ngày, phơi mình giữa vùng trọng điểm, sau mỗi trận bom phải đo khối lượng đất đá lấp vào hố bom, khi cần thì phải phá bom.

Hoàn cảnh sống vô cùng nguy hiểm, luôn căng thẳng, cái chết luôn rình rập đòi hỏi sự bình tĩnh, tự tin và dũng cảm.

2. Vẻ đẹp phẩm chất và tâm hồn của ba nữ thanh niên xung phong.

a. Điểm chung:

– Họ có phẩm chất chung của người chiến sĩ thanh niên xung phong.

– Họ có lí tưởng sống cao đẹp: họ sẵn sàng hi sinh tuổi thanh xuân, hi sinh hạnh phúc cá nhân để nghe tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.

– Kiên cường dũng cảm đối mặt với mưa bom bão đạn:

+ Nơi các cô làm việc quả là một thử thách, không sợ hi sinh.

+ Bị thương nhưng vẫn sẵn sàng bám trụ chia lửa cùng đồng đội.

– Tinh thần trách nhiệm cao với công việc: Khối lượng công việc lớn nhưng các cô thường cố gắng hoàn thành tốt mà không cần nhờ đến sự giúp đỡ.

– Họ còn có tình đồng chí, đồng đội gắn bó đầy yêu thương: Khi Nho bị thương, chị Thao lo cho Nho, Phương Định rửa cho Nho bằng nước đun sôi, tiêm cho Nho, chăm sóc Nho như một cô y tá thành thạo. Chính tình đồng đội ấy giúp các cô động viên nhau hoàn thành nhiệm vụ.

→ Đó là những cô gái trẻ dễ vui, mơ mộng nhưng cũng trầm tư sâu lắng. Họ nữ tính thích làm đẹp cho cuộc sống ở chiến trường khói lửa. Lúc nào họ lình tĩnh, chủ động, lạc quan luôn nghĩ về tương lai.

b. Điểm riêng:

– Nhân vật Nho: Nho là em út, tính trẻ con, thích ăn kẹo, có dáng vẻ nhỏ nhắn, cứ mỗi lần đi trinh sát về lại đi tắm khiến Phương Định liên tưởng Nho như một que kem mát mẻ. Thế nhưng khi bị thương lại luôn là một cô gái rắn rỏi và bản lĩnh.

– Nhân vật Thao: Chị Thao là chị cả nhưng lại thích làm duyên: Lông mày tỉa nhỏ như cái tăm, áo lót cái nào cũng thêu chỉ màu. Chị rất chăm chép bài hát mặc dù không hát trôi chảy bài nào. Trong công việc luôn dũng cảm quyết đoán nhưng lại rất sợ máu và sợ vắt. Trong cô có sự kết hợp giữa cái nhút nhát, mềm yếu và cái bản lĩnh quyết đoán đến vô cùng.

– Nhân vật Phương Định: Định là một cô gái hồn nhiên, hay mơ mộng hay sống với kỉ niệm của thiếu nữ ở thành phố nơi cô sống. Cô nhạy cảm, duyên dáng nhưng không biểu lộ tình cảm, tỏ ra kín đáo trước đám đông, tưởng như kiêu kì nhưng lại tạo nên một sức hút tự nhiên. Phương Định còn rất dũng cảm trong một lần phá bom, cô bản lĩnh hơn khi nghĩ rằng có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình. Cô không sợ chết mà chỉ sợ đường không thông không hoàn thành nhiệm vụ.

Các cô đều có những nét tính cách đẹp đẽ và đáng yêu, là những con người sinh động từ cuộc sống thực bước vào tác phẩm một cách tự nhiên.

III. Tổng kết.

– Nghệ thuật: Truyện ngắn có cách kể chuyện tự nhiên với ngôi kể thứ nhất, Phương Định kể chuyện làm tăng tính chân thực. Ngôn ngữ truyện sinh động, trẻ trung, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật qua hành động, lời nói, suy nghĩ xuất sắc.

– Nội dung: Truyện “Những ngôi sao xa xôi” đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, mộng mơ, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Đó là hình ảnh đẹp, tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ.

LUYỆN TẬP.

Câu 1: Kể tóm tắt nội dung truyện. Truyện được trần thuật từ nhân vật nào? Việc chọn vai kể như vậy có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung truyện?
Câu 2: Truyện kể về ba cô gái thanh niên xung phong ở một tổ trinh sát phá bom trên cao điểm. Ở họ có những nét gì chung đã gắn bó thành một khối thống nhất và những gì là nét riêng ở mỗi người?
Câu 3: Tác giả đã thể hiện chân thực và sinh động, tự nhiên tâm lí của những cô gái thanh niên xung phong tuổi đời còn rất trẻ.
Hãy phân tích tâm lí nhân vật Phương Định, tập trung vào những đoạn:
– Nhân vật tự quan sát và đánh giá về mình ở phần đầu của truyện.
– Tâm trạng của cô trong một lần phá bom ở phần cuối truyện.
– Cảm xúc trước trận mưa đá ở cuối truyện.
Câu 4 : Em có nhận xét gì về ngôn ngữ, giọng điệu của truyện?
Câu 5 : Đọc truyện ngắn này, em hình dung và cảm nghĩ như thế nào về tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ?
Câu 6: Kể một số bài thơ, đoạn thơ hay viết về thế hệ trẻ trong kháng chiến chống Mĩ.
Câu 7: Cảm nghĩ của mình về nhân vật Phương Định.


* Tham khảo:

Giải thích ý nghĩa nhan đề của tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi”.

* Gợi ý trả lời:

– Những ngôi sao xa xôi là một nhan đề rất lãng mạn, rất đặc trưng của văn học thờikháng chiến chống Mĩ.

– Nhan đề những ngôi sao xa xôi xuất phát từ ánh mắt, từ cái nhìn xa xăm của Phương Định mà các anh lính láy lái xe Trường Sơn đã nhận xét.

– Ba cô gái trẻ trong truyện: Phương Định, Nho hay Thao đều là những “ngôi sao xaxôi” với những phẩm chất sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

– Bằng khả năng sáng tạo và nhờ có những ngày tháng từng lăn lộn với chiến trường mà “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê đã có một chỗ đứng vững vàng, luôn hấp dẫn với người đọc.


Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của các nhân vật nữ thanh niên xung phong trong truyện “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê.

* Gợi ý trả lời:

  • Mở bài:

– Lê Minh Khuê là cây bút nữ chuyên về truyện ngắn với ngòi bút miêu tả tâm lí tinhtế, sâu sắc đặc biệt là khi viết về phụ nữ. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, truyệncủa Lê Minh Khuê thường viết về cuộc sống chiến đấu của tuổi trẻ ở tuyến đường TrườngSơn. ” Những ngôi sao xa xôi” là một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện vẻ đẹptính cách và tâm hồn của các nhân vật nữ thanh niên xung phong thời chống Mỹ.

  • Thân bài:

1. Vẻ đẹp chung trong tâm hồn và tính cách của ba cô gái thanh niên xung phong trong tổ trinh sát mặt đường.

– Hoàn cảnh sống, chiến đấu: nơi có nhiều bom đạn; nguy hiểm; ác liệt; gian khổ khókhăn. Họ sống trong một cái hang dưới chân cao điểm, tại một vùng trọng điểm nơi tuyến đường Trường Sơn, nơi tập trung nhiều bom đạn, nguy hiểm, ác liệt. Những con đường bị đánh lở loét màu đất đỏ trắng lẫn lộn; hai bên đường không có lá xanh; những thân cây bị tước khô cháy; một vài thùng xăng ô tô méo mó han gỉ.

– Công việc: mạo hiểm thường xuyên đối diện với thần chết. Đòi hỏi sự dũng cảm, gan dạ và hết sức bình tĩnh. Họ chạy trên cao điểm cả ban ngày; quan sát địch ném bom; đánh dấu những quả bom chưa nổ, phá bom;…

– Tính cách, tâm hồn: Có trách nhiệm cao với nhiệm vụ; dũng cảm; tinh thần đồng đội gắn bó. Họ là những cô gái trẻ, dễ xúc cảm, hay mơ mộng; dễ vui và cũng dễ trầm tư; thíchlàm đẹp cho cuộc sống của mình ngay trong hoàn cảnh của chiến trường. Nho thích thêu thùa; Chị Thao chăm chép bài hát; Phương Định thích ngắm mình trong gương, ngồi bó gối mơ mộng rồi hát…

2. Họ cũng có những nét cá tính riêng.

* Nhân vật Phương Định.

– Đây là cô gái Hà Nội trẻ trung, yêu đời. Phương Định thích ngắm mình trong gương, là người có ý thức về nhan sắc của mình: Cô có hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Đôi mắt màu nâu, dài dài, hay nheo nheo như chóinắng…

– Phương Định là nhân vật kể chuyện xưng tôi đầy nữ tính.Cô đẹp nhưng không kiêucăng mà có sự thông cảm, hoà nhập. Cô thích hát dân ca quan họ Bắc Ninh, dân ca ý, đặc biệt hát bài Ca Chiu Sa. Cô có tài bịa lời cho những bài hát. Những bài hát về cuộc đời, vềtình yêu và sự sống cất lên giữa cuộc chiến tranh ác liệt, tôn thêm vẻ đẹp của những cô thanh niên xung phong giúp họ có niềm tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc.

– Phương Định là cô gái dũng cảm. Hành động phá bom của cô cùng đồng đội đã góp phần thông mạch giao thông. Cảnh phá bom vừa hồi hộp, vừa căng thẳng, cho người đọchình dung cuộc chiến tranh tàn khốc như thế nào nhưng cô vẫn bình tĩnh. Vì một ngày ítnhất các cô phải phá bom ba lần, đó là chuyện thường tình. Có lúc Phương Định nghĩ đến cái “chết” nhưng một cái chết mờ nhạt, không cụ thể. Còn cái chính liệu mìn có nổ, bom cónổ không?

– Phương Định là cô gái dễ thương, hay xúc động. Khi chứng kiến cảnh trận mưa đácô nhớ về Hà Nội, nhớ mẹ, nhớ cái cửa sổ, nhớ những ngôi sao, nhớ quảng trường lung linh… Những hoài niệm; kí ức dội lên sâu thẳm càng chứng tỏ sự nhạy cảm trong tâm hồncô gái Hà Nội mơ mộng, lãng mạn, thật đáng yêu.

* Nhân vật chị Thao:

– Đây là cô gái lớn tuổi nhất trong nhóm, là đội trưởng tổ trinh sát mặt đường. Ở chị có những nét dễ ấn tượng. Chị cũng tỉa tót lông mày nhỏ như cái tăm, cương quyết, mạnh mẽ,táo bạo. Chị không sợ bom đạn, chỉ đạo công việc dứt khoát nhưng lại rất sợ máu và convắt.

– Chị yêu thương đồng đội, đúng vai trò của người chị cả. Khi Nho bị thương, chị rất lo lắng, săn sóc tận tình từng hớp nước, cốc sữa… Tình đồng đội sưởi ấm tâm hồn những côgái lúc khó khăn nhất.

– Sở thích của chị Thao là chép bài hát và cũng thích hát, dù hát sai lời, sai nhạc. Nhưng tiếng hát yêu đời, cất lên từ cuộc chiến tranh là thể hiện bản lĩnh, sức mạnh, niềm tin vào lí tưởng của thanh niên thời đại những năm chống Mĩ.

* Nhân vật Nho:

– Nho xuất hiện trong thời điểm quan trọng của câu chuyện. Đó là lúc phá bom, khiranh giới của sự sống và cái chết gần kề gang tấc. Nho nhỏ nhẹ, dịu dàng, duyên dáng “Trông nó nhẹ mát mẻ như một que kem trắng” nhưng hết sức gan dạ, dũng cảm.

* Đánh giá:

“Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê đã làm sống lại trong lòng người đọc hình ảnh tuyệt đẹp về những chiến công phi thường của tổ trinh sát mặt đường, của Nho, Định, Thao, cũng là hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam trong thời đánh Mĩ. Chiến công thầm lặng của Phương Định và đồng đội là bài ca của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

– Đọc “Những ngôi sao xa xôi” ta như được sống lại những năm tháng hào hùng của đất nước. Những Phương Định, Thao, Nho gần xa vẫn toả sáng tâm hồn ta với bao ngưỡng mộ, mến yêu.

  • Kết bài:

– Sử dụng vai kể là nhân vật chính; cách kể chuyện tự nhiên, ngôn ngữ sinh động trẻ trung; nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc tinh tế, sắc sảo…

– Vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, sự hồn nhiên và tính cách dũng cảm, lạc quan… của các nhân vật nữ thanh niên xung phong chính là vẻ đẹp của tuổi trẻ Việt Nam ở mọi thời đại.

B. KIẾN THỨC LÀM VĂN.

I. NGHỊ LUẬN XÃ HỘI.

1. Nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống xã hội.

  • Mở bài:

– Giới thiệu trực tiếp sự việc, hiện tượng đời sống cần bàn luận.

– Đánh giá chung về sự việc, hiện tượng (tác động tiêu cực, hay tích cực đối với đời sống xã hội).

  • Thân bài:

1. Giải thích sự việc, hiện tượng.

Giải thích sơ lược sự việc, hiện tượng đời sống; làm rõ những hình ảnh, từ ngữ, khái niệm trong đề bài.

2. Bàn luận.

Luận điểm 1: Nêu rõ thực trạng các biểu hiện và ảnh hưởng của sự việc, hiện tượng đời sống.

+ Thực tế của sự việc, hiện tượng đang diễn ra như thế nào, có ảnh hưởng ra sao đối với đời sống

+ Thái độ của xã hội đối với sự việc, hiện tượng ấy.

(Chú ý liên hệ với thực tế địa phương để đưa ra những dẫn chứng sắc bén, thuyết phục từ đó làm nổi bật tính cấp thiết phải giải quyết vấn đề).

Luận điểm 2: Lý giải nguyên nhân dẫn đến sự việc, hiện tượng đời sống, đưa ra các nguyên nhân nảy sinh vấn đề.

+ Các nguyên nhân chủ quan do tự nhiên.

+ Các nguyên nhân khách quan do con người.

Luận điểm 4: Đề xuất giải pháp để giải quyết sự việc, hiện tượng đời sống (từ nguyên nhân nảy sinh vấn đề để đề xuất phương hướng giải quyết trước mắt, lâu dài).

(Chú ý chỉ rõ những việc cần làm, cách thức thực hiện, đòi hỏi sự phối hợp với những lực lượng nào).

– Đánh giá vấn đề nghị luận.

  • Kết bài:

– Khái quát lại vấn đề đang nghị luận, bày tỏ thái độ của bản thân về sự việc, hiện tượng đời sống đang nghị luận.

– Liên hệ hành động của bản thân (cần làm gì để khắc phục hoặc phát huy sự việc, hiện tương).

CẤU TRÚC BÀI LÀM

HIỆN TƯỢNG CÓ TÁC ĐỘNGTIÊU CỰC HIỆN TƯỢNG CÓ ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC
I. MỞ BÀI: Nêu vấn đề nghị luận (trực tiếp). I. MỞ BÀI:Nêu vấn đề nghị luận (trực tiếp).
II. THÂN BÀI.

1. Giải thích sự việc, hiện tượng.

2. Bàn luận.

– Nêu hiện trạng của sự việc, hiện tươnghiện tượng.

– Phân tích những tác hại.

– Chỉ ra nguyên nhân.

– Đề xuất biện pháp khắc phục.

– Ca ngợi, biểu dương những hành động tích cực; phê phán những biểu hiện tiêu cực của sự việc, hiện tượng.

Khẳng định sự cần thiết của những giải pháp khắc phục sự việc, hiện tượng đối với đời sống.

3. Bài học nhận thức và hành động.

II. THÂN BÀI.

1. Giải thích sự việc, hiện tượng.

2. Bàn luận.

– Nêu những biểu hiện của sự việc, hiện tượng.

– Vai trò, ý nghĩa của sự việc, hiện tượng.

– Đề xuất biện pháp phát huy vai trò, ý nghĩa của sự việc, hiện tượng.

– Ca ngợi, biểu dương những hành động tích cực; phê phán những biểu hiện tiêu cực của sự việc, hiện tượng.

– Khẳng định sự cần thiết của những giải pháp phát huy vai trò, ý nghĩa của sự việc, hiện tượng đối với đời sống.

3. Bài học nhận thức và hành động.

III. KẾT BÀI:

– Đánh giá chung về sự việc, hiện tượng.

– Liên hệ bản thân học sinh.

III. KẾT BÀI:

– Đánh giá chung về sự việc, hiện tượng.

– Liên hệ bản thân học sinh.

2. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.

  • Mở bài:

– Dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận (từ một danh ngôn, một câu nói hay).

– Nêu vấn đề cần nghị luận ra (trích dẫn).

– Nhận xét chung về vấn đề đưa ra nghị luận: ý nghĩa, tầm quan trọng,… (có tính chuyển ý).

  • Thân bài:

1. Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận.

+ Giải thích khái niệm, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề.

+ Giải thích nghĩa đen của từ ngữ, rồi suy luận ra nghĩa bóng, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề.

+ Giải thích mệnh đề, hình ảnh trong câu nói, trên cơ sở đó xác định nội dung, ý nghĩa của vấn đề mà câu nói đề cập.

* Lưu ý: Tránh sa vào cắt nghĩa từ ngữ (theo nghĩa từ vựng).

2. Bàn luận vấn đề.

– Nêu những biểu hiện của tư tưởng, đạo lí trong đời sống.

– Tại sao cần phải làm theo tư tưởng, đạo lí ấy (Trình bày vai trò, ý nghĩa của tư tưởng, đạo lí dối với đời sống con người). Dẫn chứng cụ thể.

– Cần làm gì để thực hiện (rèn luyện) theo tư tưởng, đạo lí ấy (những việc làm nhằm rèn luyện đối với bản thân hoặc phát huy vai trò, ý nghĩa của tư tưởng, đạo lí đối với đời sống). Dẫn chứng cụ thể.

3. Bình luận, đánh giá (bàn bạc, mở rộng, đề xuất ý kiến…):

+ Đánh giá vấn đề: Nêu ý nghĩa của vấn đề, mức độ đúng/sai, mặt tích cực và hạn chế của vấn đề.

+ Phê phán, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề đang bàn luận (…)

+ Mở rộng vấn đề: liện hệ đời sống thực tế.

4. Rút bài học nhận thức và hành động.

+ Từ sự đánh giá trên, rút ra bài học kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như trong học tập, trong nhận thức cũng như trong tư tưởng, tình cảm, … (Thực chất trả lời câu hỏi: từ vấn đề bàn luận, hiểu ra điều gì? Nhận ra vấn đề gì có ý nghĩa đối với tâm hồn, lối sống bản thân?…)

+ Bài học hành động: Đề xuất phương châm đúng đắn, phương hướng hành động cụ thể.

  • Kết bài:

– Khẳng định chung về tư tưởng, đạo lí đã bàn luận ở thân bài.

– Lời nhắn gửi (thông điệp) đến mọi người.

II. NGHỊ LUẬN VĂN HỌC.

Tổng hợp đầy đủ các bài nghị luận văn bản văn học Ngữ văn 9 (có liên hệ) – Luyện thi tuyển sinh 10

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.