Phân tích bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường

phan-tich-but-ky-ai-da-dat-ten-cho-dong-song-cua-hoang-phu-ngoc-tuong

Phân tích bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường

  • Mở bài:

Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn chuyên về bút ký, tản văn. Sáng tác của ông gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước, con người, đặc biệt là văn hóa Huế như : “Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu”, “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”… Trong đó, tùy bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” thực sự là một trong những trang viết hay nhất của nhà văn về một dòng sông mang bao huyền thoại đẹp – Sông Hương.

  • Thân bài:

Bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” được Hoàng Phủ Ngọc Tường viết ở Huế năm 1981, in trong tập sách cùng tên. Bài ký có ba phần. Sách giáo khoa trích học phần đầu. Với bút ký này, tác giả đã mang đến cho người đọc những cảm nhận thật đầy chất thơ về dòng sông Hương theo dòng chảy của nó từ Trường Sơn cho đến khi chảy qua thành phố Huế và xuôi về biển.

Sông Hương nhìn từ cội nguồn là dòng chảy có mối quan hệ sâu sắc vời dãy Trường Sơn. Sông Hương vùng thượng lưu mang vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt, hoang dại, bí ẩn, sâu thẳm nhưng cũng có lúc dịu dàng, say đắm. Sự mãnh liệt, hoang dại của con sông được thể hiện qua những so sánh : “Như một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”. Khi chảy qua miền địa hình hiểm trở, sông Hương mang vẻ đẹp dữ dội: “mãnh liệt qua ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc xoáy vào đáy vực bí ẩn”, nhưng cũng có lúc nó lại hiền lành trữ tình “dịu dàng, say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”.

Nhà văn đã nhân hoá dòng sông giống như “một cô gái Di gan phóng khoáng và man dại”. Con sông được rừng già hun đúc cho “một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”. Đó là sức mạnh bản năng của người con gái, sức mạnh ấy được chế ngự bởi cấu trúc địa lý lãnh thổ để đi ra khỏi rừng, nó “nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá sứ sở”.

Sông Hương lúc về tới đồng bằng đã không còn dữ dội nữa, con sông trở nên dịu dàng, mềm mại và đằm thắm. Với vốn hiểu biết về địa lí tác giả đã miêu tả tỉ mỉ về sông Hương với hình ảnh: “Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm”. Sự chuyển dòng ấy, trong cách cảm nhận của Hoàng Phủ Ngọc Tường giống như “một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó”. Vẫn những đường cong mềm mại, sông Hương lại có sự chuyển mình: “Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế”.

Có lúc cảnh sắc sông Hương như bức tranh có đường nét, có hình khối với : “sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé bằng con thoi”. Người đọc còn bắt gặp vẻ đẹp đa màu mà biến ảo, phân quang màu sắc của nền trời Tây Nam thành phố: “sớm xanh , trưa vàng, chiều tím”.

Sông Hương lại có vẻ đẹp trầm mặc chảy dưới chân những rừng thông u tịch với những lăng mộ âm u mà kiêu hãnh của các vua chúa triều Nguyễn. Đó là vẻ đẹp mang màu sắc triết lí, cổ thi khi đi trong âm hưởng ngân nga của tiếng chuông chùa Thiên Mụ. Có vẻ đẹp “vui tươi” khi đi qua những bãi bờ xanh biếc vùng ngoại ô Kim Long. Có vẻ đẹp “mơ màng trong sương khói” khi nó rời xa thành phố để đi qua những bờ tre, lũy trúc và những hàng cau thôn Vĩ Dạ.

Từ Kim Long, sông Hương đã nhìn thấy hình ảnh “Chiếc cầu trắng in ngấn trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non”. Đó chính là chiếc cầu Tràng Tiền nối đôi bờ sông thơ mộng. Không chỉ vậy, vẻ đẹp của dòng Hương còn được miêu tả “Giáp mặt thành phố ở cồn Dã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn Hến”. Nhà văn như thổi linh hồn vào cảnh vật: “đường cong ấy làm cho dòng sông như mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu”. “Tôi nhớ sông Hương, quý điệu chảy lững lờ của nó khi ngang qua thành phố”. Cái phút ban đầu để đến với “người tình” của sông Hương như thế đấy! Nàng đã tự làm mới mình để hiến tặng những gì đẹp nhất cho người yêu.

Từ sông Hương xinh đẹp nhà văn liên tưởng tới nhiều con sông trên thế giới như sông Xen, sông Nê-va, sông Đa – nuýp… và nhận ra điểm tương đồng giữa chúng là cùng chảy giữa lòng thành phố. Nhưng sông Hương khác với các dòng sông khác là bởi vì nó vẫn giữ được những nét cổ kính và nếu sông Nê-va chảy nhanh quá thì sông Hương lại rất chậm buồn như điệu Slow “đấy là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”.

Tình cảm của dòng sông dành cho thành phố Huế cũng rất sâu nặng. Dường như sông Hương không muốn xa thành phố: “Rồi như sực nhớ lại một điều gì đó chưa kịp nói. Nó đột ngột đổi dòng rẽ ngoặt sang hướng Đông Tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc Bao Vinh xưa cổ”. Nhà văn ví von sông Hương giống như nàng Kiều chí tình trở lại tìm Kim Trọng. Vì thế nên nhìn “khúc quanh này” thấy nó “thật bất ngờ”. Nhà văn cảm nhận “khúc quanh” ấy giống như “là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Đó là sự chí tình của Sông Hương trở lại “để nói một lời thề trước khi về biển cả”. Tác giả liên hệ “Lời thề ấy vang vọng khắp khu vực sông Hương thành giọng hò dân gian, ấy là tấm lòng người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở”.

Tác giả gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế: “Sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya…Quả đúng vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được hình thành trên mặt nước của dòng sông này”. Tác giả liên tưởng tới việc có người nghệ nhân già gần thế kỷ chơi đàn, một đêm khuya nghe con gái đọc Kiều “Trong như tiếng hạc bay qua/ Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”. Người nghệ nhân ấy đã nhổm dậy, vỗ đùi chỉ vào trang sách mà nói “Đó là Tứ Đại Cảnh”.

Cũng từ đó ngòi bút tài hoa cộng với sự rung cảm mạnh mẽ, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhớ tới Nguyễn Du “Nguyễn Du đã bao năm lênh đênh trên quãng sông này với một phiến trăng sầu. Và từ đó, những bản đàn đã đi suốt đời Kiều”. Đây là cách liên tưởng độc đáo, tài hoa mang đến cho người đọc một sự bồi hồi, xao xuyến.

Nhưng chẳng phải bao giờ sông Hương cũng là người con gái đằm thắm, dịu dàng, mềm mại trong lòng Huế, đã có một thời sông Hương mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam của Tổ quốc (Tên của dòng sông Hương được ghi trong “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi là Linh giang).

Dòng sông ấy là điểm tựa, bảo vệ biên cương thời kì Đại Việt. Thế kỉ XVIII, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân, gắn liền với tên tuổi của người anh hùng Nguyễn Huệ. Nó đọng lại đến bầm da, tím máu “nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ XIX”. Nó đi vào thời đại của Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển. Nó chứng kiến cuộc nổi dậy tổng tiến công tết Mậu Thân 1968. Sông Hương đã gắn liền với lịch sử của Huế, lịch sử dân tộc.

Có một huyền thoại vọng về từ làng Thành Trung, một ngôi làng trồng rau thơm ở Huế: Vì yêu quý con sông xinh đẹp, người dân hai bên bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước xanh thắm ấy mãi mãi thơm tho. Phải chăng đó là cách lý giải tên của Hương Giang – con sông gắn liền với Huế, gắn liền với tình yêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường?

Ngôn ngữ trong sáng, phong phú, uyển chuyển, giàu hình ảnh, giàu chất thơ, sử dụng nhiều phép tu tư như : So sánh, nhân hoá, ẩn dụ,…Có sự kết hợp hài hoà cảm xúc, trí tuệ, chủ quan và khách quan. Bút ký có sức liên tưởng kì diệu, sự hiểu biết phong phú về kiến thức địa lý, lịch sử, văn hoá nghệ thuật và những trải nghiệm của bản thân.

  • Kết bài:

Trích đoạn bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” đã gợi ra vẻ đẹp của Huế, của tâm hồn người Huế qua sự quan sát sắc sảo của Hoàng Phủ Ngọc Tường về dòng sông Hương. Hoàng Phủ Ngọc Tường xứng đáng là một thi sĩ của thiên nhiên, một cuốn từ điển sống về Huế, một cây bút giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Bài kí góp phần bồi dưỡng tình yêu, niềm tự hào đối với dòng sông và cũng là với quê hương đất nước.


Bài tham khảo:

Cảm nhận vẻ đẹp dòng song Hương qua bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng phủ Ngọc Tường

  • Mở bài:

Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Ông là một trong những nhà văn chuyên về bút ký. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý…Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa. Tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông là bút kí nổi tiếng của Hoàng phủ Ngọc Tường về sông Hương và xứ Huế.

  • Thân bài:

Tác phẩm viết vào năm 1981 – tại Huế, được in trong tập sách cùng tên. Bài bút kí gồm ba phần, đoạn trích nằm ở giữa phần thứ nhất của tác phẩm.

Nhan đề “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” giàu chất thơ, là một câu hỏi tu từ nhằm khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của sông Hương (sông thơm) – gắn với huyền thoại vì yêu quý con sông xinh đẹp, “nhân dân hai bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông để làn nước thơm tho mãi mãi”. Nghĩa là nhân dân đã đặt tên cho dòng sông và gửi vào đấy tất cả tình yêu quê hương xứ sở và ước vọng của con người : muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hóa, lịch sử dân tộc. Qua nhan đề, nhà thơ bày tỏ tình yêu, sự đắm say, ngưỡng mộ đối với sông Hương và xứ Huế. Sông Hương mãi mãi là đề ài bí ẩn để tìm hiểu và khám phá. Nhan đề gợi niềm biết ơn đối với những người đã có công khai phá mảnh đất này.

Hình tượng chủ đạo của bút kí là dòng sông Hương với những vẻ đẹp đa diện. Vẻ đẹp sông Hương hiện lên với cảnh sắc thiên nhiên được cảm nhận qua thủy trình của dòng sông. Ở nơi khởi nguồn, giữa rừng Trường Sơn, sông Hương toát lên vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt, hoang dại đầy cá tính. Nó được so sánh như “bản trường ca của rừng già” với nhiều tiết tấu khi “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”, lúc “mãnh liệt qua các ghềnh thác”; khi “cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực sâu ”, lúc “dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đổ quyên rừng”

Sông Hương ở thượng nguồn hùng tráng, dữ dội mà nên thơ, trữ tình là bài ca bất tận của thiên nhiên. Nó được nhân hóa như một “cô gái Di – gan phóng khoáng và man dại” với một “bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do, trong sáng” có sức mạnh bản năng đầy quyến rủ.

Khi ra khỏi cửa rừng, sông Hương khoát lên mình vẻ đẹp “dịu dàng và trí tuệ ”. Lúc này, sông Hương được nhân hóa là “người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở ”, là đấng sáng tạo, là sự khởi nguồn của không gian văn hóa Huế. Với hình ảnh liên tưởng độc đáo, nhà văn đã tìm về nguồn cội để khám phá vẻ đẹp tâm hồn sâu thẳm của dòng sông mà chính nó không muốn bộc lộ. Đó cũng là cái nhìn mới mẻ, độc đáo về một nữa ít người biết đến của dòng sông Hương.

Khi chảy xuôi về đồng bằng và ở ngoại vi thành phố, sông Hương trở nên khác hẳn. Hành trình chảy xuối của sông Hương được hình dung như “một cuộc tìm kiếm có ý thức” người tình nhân lí tưởng với vẻ đẹp thơ mộng đầy khát khao lãng mạn. Giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại, sông Hương là một “cô gái đẹp ngủ mơ màng”. Rồi như bừng lên sức trẻ, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điên Hòn Chen; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hường sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi thiên Mụ, xuôi dần về Huế

Chảy qua những địa danh khác nhau, dòng sông mang nhiều vẻ đẹp đa dạng. Sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn khi vừa ra khỏi rừng già. Đến khi vượt qua chân núi Ngọc Trân, sắc nước trở nên xanh thẳm. Từ đó về xuôi, dòng sông phản chiếu ánh sáng của sự sống ngàn năn ẩn mình. Vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng, sông Hương có lúc “mềm như tấm lụa” khi qua Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo, có khi ánh lên “những phản quang nhiều màu sắc sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”, lúc qua những dãy đồi núi phía tây nam thành phố. Sông Hương bừng sáng, tươi tắn và trẻ trung khi gặp “tiếng chuông chùa Thiên Mụ” ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà.

Sông Hương mang vẻ đẹp “trầm mặc như triết lí cổ thi khi dòng sông chảy qua những đồi thông u tịch với những lăng tẩm đền đài. Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương. Bút pháp kể và tả kết hợp nhuần nhuyễn, lối hành văn lịch lãm và tài hoa, sức hấp dẫn toát lên từ hàng loạt hành động từ diễn tả dòng chảy sống động của dòng sông qua những địa danh khác nhau, đã làm nổi bật vẻ đẹp của dòng sông Hương trong sự phong phú, hài hòa với thiên nhiên xứ Huế.

Khi chảy vào thành phố Huế, sông Hương trở nên trầm tĩnh. Sông Hương có những nét khác biệt so với các dòng chảy qua thành phố trên thế giới : “nó trôi đi chậm, thật chậm cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh ”. Phát hiện này của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho thấy vẻ đẹ dịu dàng sâu lắng dòng sông và cả tình cảm yêu mến của tác giả danh cho sông Hương, cho xứ Huế. Sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc

Sông Hương được cảm nhận ở nhiều góc độ khác nhau. Ở sắc thái tâm trạng tình yêu, sông Hương gặp thành phố Huế như đến với điểm hẹn tình yêu. Dòng sông được cảm nhận trong cảm xúc mới. Ở ngoại ô Kim Long, dòng sông “vui tươi hẳn lên”, nó kéo một nét thẳng thực yên tâm . Khi giáp mặt thành phố, sông hương e lệ, thẹn thùng, nó uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn Huế; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu.

Ở góc nhìn hội họa, nằm giữa lòng thành phố Huế, sông Hương và những chi lưu của nó đã tạo nên những đường nét tinh tế làm nên vẻ đẹp cổ kính của cố đô. (Bởi bóng “ Cây đa, cây dừa cổ thụ tỏa vầng lá u sầm… với những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ ”).

Qua cách cảm nhận âm nhạc, Sông Hương có vẻ đẹp sâu lắng trữ tình như “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế ” bởi điệu chảy chậm rãi, lặng lờ của nó. Sông Hương như “người tài nữ đánh đàn lúc đem khuya” bởi toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này.

Sông Hương khi từ biệt thành phố, dòng sông mang vẻ đẹp của một người tình dịu dàng và chung thủy. Nó lưu luyến ra đi giữa màu xanh của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ. Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây rồi vòng lại để gặp thành phố lần cuối. Khúc quanh đó thật bất ngờ. Nhà văn đã gọi đấy là “nổi vương vấn”, là “chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”, như  “nàng Kiều trong đêm tình tự… trở lại tìm Kim Trọng ” để nói lời thề trước lúc đi xa.

Nghệ thuật ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được sử dụng rất tài tình và hiệu quả, cách lựa chọn các định ngữ táo bạo, đắt giá, thanh điệu hài hòa, hình ảnh chân thực, có sự kết hợp giọng điệu cổ kính và hiện đại, các kiểu câu văn xuôi giàu chất thơ.

Trong lịch sử, sông Hương mang vẻ đẹp của một bản hùng ca, “dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ biếc” ghi dấu biết bao chiến công oanh liệt của đất nước. Từ thời các vua Hùng nó là dòng sông biên thùy bảo vệ non sông đất nước. Thời của Nguyễn Trãi nó mang tên Linh Giang, dòng sông Viễn Châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỷ trung đại.

Thế kỉ XVIII, nó soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ. Nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ XIX với máu những cuộc khởi nghĩa, nó chứng kiến thời đại mới với cách mạng 8/ 1945 và bao chiến công rung chuyển qua hai cuộc chiến trah vệ quốc sau này…

Sông Hương mang vẻ đẹp của âm nhạc, thi ca. Nhà văn đã gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế, vì “toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này”. Tác giả cho rằng “có một dòng sông thi ca về sông Hương”… Dòng sông ấy không bao giờ tự lập  lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ, mỗi nhà thơ đều có một khám phá riêng về nó. Ở đâu đó, ta bất chợt nhìn thấy sông Hương hùng tráng “như kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát;hay là “nỗi quan hoài vạn cổ” trong hồn thơ Bà Huyện Thanh Quan. Có khi là “sức mạnh phục sinh của tâm hồn” trong thơ Tố Hữu.

Sông Hương với vẻ đẹp bình dị, đời thường. Sông Hương mang vẻ đẹp giản dị của cuộc sống bình thường “làm một người con gái dịu dàng của đất nước”. Cái tên song hương bắt nguồn từ trong cuộc sống bình dị của con người. Người làng Thành Trung có nghề trông rau thơm. Ở đây cô một huyền thoại kể rằng, vì yêu quý con sông xinh đẹp, nhân dân hai bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đố xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi.

Bút pháp sử thi, lãng mạn, khảo cứu… của Hoàng Phủ Ngọc Tường được kết hợp vừa khéo léo vừa tài hoa khiến cho dòng sông vốn đã rất đẹp bỗng tỏa sáng thêm nhiều nét hấp dẫn mới. Ông là một tri thức uyên bác với sự hiểu biết phong phú, có chiều sâu về lịch sử, địa lí sông Hương, văn hóa Huế và nhiều lĩnh vực khác. Tác phẩm thể hiện sâu sắc một cái “tôi” tài hoa với khả năng quan sát, liên tưởng tinh tế, ngôn ngữ biến ảo, giàu chất thơ…. Một cái “tôi” đầy nhân cách với sự trân trọng.

Nhà văn đã sáng tạo những trang văn đẹp bởi kho từ vựng phong phú, uyển chuyển và giàu hình ảnh, nhịp điệu. Biện pháp ẩn dụ, nhân hóa, so sánh, … được sử dụng một cách hiệu quả, gắn liền với những liên tưởng thú vị, bất ngờ. Sự kết hợp nhuần nhuyễn bút pháp kể và tả làm nổi bật vẻ đẹp của dòng sông trong một lói văn phong tao nhã, tài hoa.

  • Kết bài:

Bài kí ca ngợi sông Hương, rộng hơn là vùng đất cố đô đẹp, thơ mộng, ca ngợi lịch sử vẻ vang, văn hóa và tâm hồn Huế. Qua đó bộc lộ tình yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với dòng sông quê hương với xứ Huế và đối với quê hương đất nước.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.