Sự đồng cảm của Nguyễn Du với cuộc đời và số phận của nàng Tiểu Thanh qua bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí

su-dong-cam-cua-nguyen-du-voi-cuoc-doi-va-so-phan-nang-tieu-thanh

Sự đồng cảm của Nguyễn Du với cuộc đời và số phận của nàng Tiểu Thanh qua bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí

  • Mở Bài:

– Giới thiệu: Tác giả Nguyễn Du, bài thơ Đọc Tiểu Thanh Kí.

– Dẫn dắt vấn đề: Sự đồng cảm của Nguyễn Du với cuộc đời và số phận của nàng Tiểu Thanh

  • Thân bài:

– Giới thiệu về nàng Tiểu Thanh.

– Phân tích bài thơ:

* Hai câu đề:

“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”

“Hoa uyển”: Vườn hoa (Vườn hoa Tây Hồ: một cảnh đẹp cụ thể) – Dịch thơ: Cảnh đẹp: một vẻ đẹp chung chung

“Tẫn”: đến cùng, triệt để, hết – Dịch thơ: Hóa → nhẹ hóa đi chưa lột tả hết được sự biến đổi khắc nghiệt của thời gian.

– Câu thơ gợi ra một nghịch cảnh giữa quá khứ và hiện tại: Vườn hoa bên Tây Hồ nay đã thành bãi đất hoang rồi => Gợi sự xót xa trước sự đổi thay, sự tàn phá của thời gian đối với cái đẹp.

“Nhất chỉ thư”, ” độc” trong “độc điếu”, làm giảm đi ý nghĩa của câu thơ → Cô đơn nhưng tương xứng trong cuộc gặp gỡ này. Một trạng thái cô đơn gặp một kiếp cô đơn bất hạnh.

→ Sự đồng cảm của Nguyễn Du

* Hai câu thực:

Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư

“Son phấn”: Sắc đẹp

“Văn chương”: Tài hoa

→ Ca ngợi sắc đẹp và tài năng của nàng Tiểu Thanh.

“Chôn”, “đốt” là những động từ cụ thể hóa sự ghen ghét, sự vùi dập phũ phàng của người vợ cả đối với nàng Tiểu Thanh → Thái độ của xã hội phong kiến không chấp nhận những con người tài sắc.

→ Triết lí về số phận con người trong xã hội phong kiến: Tài hoa bạc mệnh, tài mệnh tương đố, hồng nhan đa truân…cái tài, cái đẹp thường bị vùi dập → Bên cạnh triết lý đó còn có sự ca ngợi, sự khẳng định trường tồn, bất tử của cái đẹp, tài năng (“vẫn hận, còn vương”)

⇒ Tấm lòng xót thương, đồng cảm sâu sắc của Nguyễn Du, sự xót xa cho những người vì sắc vì tài mà bị hủy hoại.

* Hai câu luận:

“Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư”

“Cổ kim hận sự”: Mối hận xưa và nay, mối hận muôn đời, mối hận truyền kiếp.

– Mối hận của những người tài hoa mà bạc mệnh.

→ Nỗi hận kia không phải là nỗi hận của riêng nàng Tiểu Thanh, của Nguyễn Du mà của tất cả những người tài hoa trong xã hội phong kiến.

“Thiên nan vấn”: Khó mà hỏi trời được.

→ Đau đớn, phẫn uất cao độ trước một thực tế vô lí: Người có sắc thì bất hạnh, nghệ sĩ có tài thường cô độc.

“Kì oan”: Nỗi oan lạ lùng

→ Nỗi oan do “nết phong nhã” gây ra. Vì có “nết phong nhã” mà mắc “oan khiên’ thì thật là điều nghịch lý, trái ngang của cuộc đời.

⇒ Sự đồng cảm sâu sắc của Nguyễn Du với nàng Tiểu Thanh.

* Hai câu kết:

“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”

– Nghệ thuật: Câu hỏi tu từ

→ Nguyễn Du khóc nàng Tiểu Thanh và băn khoăn, khóc cho chính mình: Tình cảm, cảm xúc thương thân mình, thân người trào lên mãnh liệt không kìm nén được.

⇒ Đó là nỗi cô đơn của nghệ sĩ lớn “Tiếng chim cô lẻ giữa trời thu khuya” (Xuân Diệu).

  • Kết bài:

Khẳng định giá trị nhân đạo trong bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí, ngòi bút nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du.


Tham khảo:

Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc, một nhà văn, nhà thơ tiêu biểu trong trong nền thơ ca Việt Nam. Có thể thấy ông là một nhà thơ thường bày tỏ sự cảm thương sâu sắc về số phận của những người phụ nữ đương thời. Tiêu biểu trong số đó, ta không thể không nhắc đến bài thơ Đọc Tiểu Thanh Kí. Bài thơ thể hiện sâu sắc nỗi cảm thương và sự đồng cảm của Nguyễn Du với cuộc đời và số phận của nàng Tiểu Thanh

Đây chính là bài thơ viết về nàng Tiểu Thanh, một người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng lại có số phận bất hạnh oan nghiệt, cô phải sống một mình trên Cô Sơn,cạnh Tây Hồ. Vì đau buồn cảnh sống tù túng, Tiểu Thanh sớm sinh bệnh và mất ở tuổi 18. Trong những tháng ngày ấy, Tiểu Thanh gửi nỗi lòng của mình vào những vần thơ nhưng cũng bị đốt gần hết, may vẫn có những vần thơ được giữ lại đến ngày nay.Bài thơ đã được Nguyễn Du thể hiện những khía cạnh đồng cảm sâu sắc đối với Tiểu Thanh tài sắc nhưng số phận hẩm hiu, oan nghiệt do sự cổ hủ của thời đại. Đồng thời qua đó ông thể hiện sự day dứt, trăn trở cho số phận những người có tài nhưng luôn bị xã hội vùi dập trong đó có chính bản thân ông.

Với sự tinh tế và thấu hiểu được sâu sắc hoàn cảnh người phụ nữ trong thời đại phong kiến, Nguyễn Du đứng trước những tập thơ còn sót lại của nàng Tiểu Thanh mà bày tỏ những cảm xúc xót thương và đặc biệt là sự đồng cảm. Đó là sự đồng cảm của hai con người chung một kiếp người tài hoa bạc mệnh.Lối nhân cách hóa thể hiện rõ cảm xúc xót xa của nhà thơ, sự đồng cảm về những bất hạnh của người phụ nữ có tài, có sắc trong xã hội xưa nhưng không được sống hạnh phúc của một kiếp người qua số phận trái ngang của Tiểu Thanh. Sự đồng cảm ấy được thể hiện qua câu thơ:

“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh luỵ phần dư.”

Trong câu thơ, từ “độc điếu” đã cho ta thấy cảnh ngộ đơn độc của nhà thơ khi chỉ một mình đến viếng Tiểu Thanh trong nỗi xót thương. Không chỉ vậy, câu thơ còn cho nỗi đơn độc, buồn tủi của Tiểu Thanh nhưng tiếc là nàng chẳng biết có thể sẻ chia nỗi lòng ấy với ai ngoài việc làm thơ, đó là nơi duy nhất nàng có thể gửi gắm được nỗi lòng mình. Thế mà cuối cùng những tâm tư ấy rồi cũng hóa “mảnh giấy tàn”.

Những cảm xúc trang trọng, thành kính đến lắng sâu, trầm tư đều được nhà thơ thể hiện tinh tế, qua đó mà ta thấy được sự đồng cảm giữa hai con người tài hoa nhưng cô đơn dù ở hai thời đại khác nhau. Ông đã rất tài tình khi kết hợp phép đối và biện pháp nghệ thuật ẩn dụ qua từ “chi phấn” và “văn chương”. “Chi phấn” ở đây là nói về sắc đẹp của Tiểu Thanh, còn “văn chương” chính là tài hoa của nàng.

Không chỉ vậy, nhà thơ còn nhân cách hoá những sự vật vô tri vô giác như chi phấn và văn chương bằng từ “thần” và “mệnh” nhằm thể hiện những cảm xúc xót xa của mình về những kiếp người bất hạnh và đồng thời cũng nêu lên những bất công phi lí trong xã hội lúc bấy giờ. Tác giả nêu lên một hiện thực đau lòng là vẻ đẹp son phấn bên ngoài lại được người chồng nâng niu, quý mến cho đến cả sau khi chết. Còn văn chương, biểu hiện của tài năng, trí tuệ và tình cảm là những phẩm chất cao quý thì lại chịu phận hẩm hiu,phải nhờ vào tờ giấy nháp dùng để gói quà còn sót lại mà đến được với đời.

Qua đây nhà thơ đã có sự đồng cảm sâu sắc với Tiểu Thanh bởi ông cũng là một người tài hoa đã chứng kiến, thậm chí đã trải qua những đau thương, những biến động cuộc đời do những bất công mà xã hội phong kiến đã gây ra,chính xã hội phong kiến thối nát ấy đã cướp đi của nàng tuổi thanh xuân, đã mang đến cho nàng biết bao đau thương,nên ông mới thấu hiểu được rằng người tài hoa sẽ luôn bị cái ác, cái bất công dập vùi trong đau khổ đến mức nếu son phấn có thần chắc chắn có chết vẫn hận hay văn chương dù không có số mệnh nhưng bị đốt cũng mãi vương vấn. Cái tàn nhẫn của người đời đủ khiến những vật vô tri vô giác cũng phải oán than trời xanh.Điều đó, cũng đồng thời thể hiện nhận thức của ông vốn rất nhạy cảm trước cuộc đời, nổi oan lớn, “hồng nhan bạc mệnh” , “tài mệnh tương đố “.

Người xưa cho rằng, những người cùng cảnh ngộ sẽ có sự thấu hiểu và cảm thương cho nhau sâu sắc hơn bất cứ ai. Bên cạnh việc ca ngợi tài hoa, sắc đẹp của Tiểu Thanh, Nguyễn Du còn khóc thương cho người cùng cảnh ngộ như nàng. Nếu cuộc đời của Tiểu Thanh bất hạnh, bị vùi dập bởi xã hội phong kiến tàn độc thì cuộc đời của Nguyễn Du cũng chẳng suôn sẻ gì. Chính vì lẽ đó, ông đã thể hiện rất rõ sự đồng cảm, sự thấu hiểu và cảm thương của mình qua những dòng thơ chứa chan đầy tình cảm:

“Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư”

Qua hai câu trên, ý thơ được mở rộng bằng lập luận của nhà thơ. Cụm từ “cổ kim hận sự” mang ý nghĩa là mối hận xưa và nay, đó chính là nói đến mối hận của những người tài hoa nhưng bạc mệnh. Bên cạnh đó, “thiên nan vấn” chỉ những thứ không hiểu được, khó mà hỏi được trời xanh. Câu thơ được tác giả tinh tế sử dụng thanh trắc qua các từ ngữ: “cổ”, “hận”, “sự”, “vận” để từ đó nói lên nỗi đồng cảm, sựthương xót cho những số phận bất hạnh trong xã hội lúc bấy giờ. Đó chính là tiếng lòng của tác giả, là lời oán ghét, tố cáo xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công, oan trái khiến cho những người tài hoa phải chịu số phận bi thương .

Tiếp đó, từ “kì oan” nói đến nỗi oan lạ lùng, vô lí, sự bất lực trước nỗi oan trái của ông cũng như nàng Tiểu Thanh ba trăm năm trước. Ông đã thật sự thấy được điểm giống nhau, tương đồng của mình đối với những người nghệ sĩ tài hoa luôn phải chịu cảnh chà đạp, vùi dập của xã hội phong kiến suy tàn. Để từ đó ông tìm được sự an ủi nhỏ nhen cho chính bản thân mình. Nguyễn Du không chỉ thương xót cho Tiểu Thanh mà còn bàn ra nỗi hận của muôn người thi sĩ. Qua đó, những tâm tình của ông đã chạm đến trái tim của người đọc, thể hiện xuất sắc và để lại ấn tượng khắc sâu vào tâm trí của ta về sự đồng cảm thương sót cho những con người tài hoa nhưng bạc mệnh.

Bài thơ Đọc Tiểu Thanh Kí qua ngòi bút điêu luyện của Nguyễn Du đã mang đến cho người đọcnhiều cảm xúc khó tả. Bằng cách sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, những từ ngữ thơ sâu sắc, đầy triết lí và giàu giá trị biểu tượng, những câu hỏi tu từ, nghệ thuật đối đã giúp bài thơ trở nên mạch lạc, tự nhiên và giàu cảm xúc. Bên cạnh đó, bài thơ đã thể hiện được nỗi lòng, tâm tư cũng như là sự đồng cảm sâu sắc của Nguyễn Du đối với nàng Tiểu Thanh bất hạnh. Một cô gái tài sắc vẹn toàn lại bị xã hội xã hội phong kiến vùi dập không một chút thương xót. Và đó cũng chính là sự bất công mà người phụ nữ trong xã hội phong kiến thời xưa luôn phải chịu đựng. Là một người luôn đứng lên đòi lại công bằng cho người phụ nữ, Nguyễn Du đã bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc cho số phận nghiệt ngã của họ, đồng thời lên án những hành vi đen tối của xã hội phong kiến xa xưa. Đó chính là giá trị nhân đạo sâu sắc trong thơ văn Nguyễn Du.


Tham khảo:

Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc là danh nhân văn hóa thế giới, là nhà thơ tiêu biểu trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Ông để lại cho đời số lượng lớn bài thơ trong đó có những sáng tác đạt đến trình độ cổ điển và mẫu mực, Trong đó phải kể đến bài thơ ” Đọc tiểu thanh kí”, bài thơ được khơi nguồn từ hình ảnh người con gái tài hoa bạc mệnh.

Tương truyền Tiểu Thanh là một cô gái Trung Quốc có tài và có sắc, sống khoảng đầu thời Minh. Cô được biết đến là người con gái thông mình, nhiều tài nghệ thuật như thi ca, âm nhạc. 16 tuổi cô về làm vợ lẽ cho một nhà quyền quý. Vì vợ cả hay ghen bắt cô phải sống một mình trên Cô Sơn, cạnh Tây Hồ. Sống trong sự cô đơn, buồn tủi, Tiêu Thanh sinh bệnh và từ giã cuộc đời ở năm 18 tuổi. Vì quá thương thay cho thân phận người con gái tài hoa bạc mệnh nên Nguyễn Du đã viết nên bài thơ này. Mở đầu bài thơ với hai câu đề đã như tiếng trút lòng của Tiểu Thanh

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư

(Tây hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)

Câu thơ không nhằm mục đích miêu tả cảnh đẹp Tây Hồ mà ngụ ý tác giả chỉ là mượn không gian để nói lên suy nghĩ, cảm nhận về sự biến đổi trong cuộc sống. Tây Hồ vốn được biết đến là cảnh đẹp có tiếng nhưng với cuộc đời của nàng Tiểu Thanh thì cảnh đẹp nơi ấy “hóa gò hoang”. Người nằm dưới lòng “gò hoang” kia là nàng Tiểu Thanh bạc mệnh chỉ để lại trên trần thế “mảnh giấy tàn” là phần di sản của Tiểu Thanh.

Trong không gian điêu tàn ấy, con người xuất hiện với dáng vẻ cô đơn qua từ ngữ “độc điếu”. Hai hình ảnh “gò hoang” và “mảnh giấy tàn” đã làm cho nhà thơ cảm giác “thổn thức bên song”. Hai câu đầu chỉ là lời giới thiệu thì sang hai cậu thật nhà thơ đã làm sáng tỏ hơn cảm giác buồn thương ngậm ngùi trong hai câu đề

Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư

(Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương)

Mượn hình ảnh “son phấn” và ” văn chương” ngụ ý nhắc đến nàng Tiểu Thanh. Cả cuộc đời nàng chỉ biết làm bạn với son phấn và văn chương để vơi đi những buồn tủi, bất hạnh. Nhà thơ dùng từ “son phấn” để ẩn dụ khi nói về nhan sắc của nàng Tiểu Thanh nhưng cái đẹp ấy lại bị vùi dập không thương tiếc.

Dù đã chết “chôn” nhưng linh hồn nàng vẫn chưa siêu thoát vẫn ôm một nỗi “hận” trần thế. “Hận” vì sự ghen tuông vô lý của bà vợ cả đã đẩy nàng vào cái chết khi tuổi vừa mới 18 đôi mươi, hận vì những trang văn vốn chẳng có tội tình gì cũng bị đốt cháy nhưng như còn chút nuối tiếc ” còn vương” nên vẫn còn lại một số bài. Từ số phận của nàng Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã khái quát thành cái nhìn về con người trong xã hội phong kiến trong hai câu luận tiếp theo:

Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư

(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)

Dường như nỗi oan ức của Tiểu Thanh không phải chỉ của riêng mỗi nàng mà là cái án, cái kết thúc chung của những con người “tài hoa bạc mệnh” có từ thời “cổ” chí “kim”. Nhà thơ dùng từ “hận sự” như muốn nhắc đến một mối hận suốt đời nhắm mắt cũng không thể quên. Có tài, có sắc nhưng lại không thể an yên, vui vẻ với kiếp người. Khi đọc những vần thơ trên người đọc còn sẽ liên tưởng đến hình ảnh nàng Kiều của Nguyễn Du. Đó cũng là một số phận sinh ra trong xã hội phong kiến tài sắc chẳng kém ai vậy mà cuộc đời nàng lênh đênh, bạc mệnh quá. Nhà thơ Nguyễn Du đã từng viết 2 câu thơ ngậm ngùi, xót xa:

Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Những oan khuất của nghìn đời ấy chỉ có trời mới hiểu “trời khôn hỏi” nhưng dẫu có biết thì cũng không thể làm gì được. Đó như một cái án của nhiều nạn nhân, nhiều con người trong cái xã hội lúc bấy giờ phải “tự mang”. Hai câu thơ khóc thương người nhưng dường như cũng để thương mình của Nguyễn Du đã thể hiện được tầm vóc lớn lao của chủ nghĩa nhân đạo và cách nhìn sâu sắc của ông. Khép lại bài thơ với hai câu kết là những dòng suy tư, cảm nghĩ của chính nhà thơ về thời thế, thời cuộc:

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng)

Khóc cho Tiểu Thanh của ba trăm năm trước bằng sự đồng điệu về suy nghĩ, thấu hiểu về cảm xúc nhưng nhà thơ đã tự vấn, hoài nghi và đặt câu hỏi cho chính mình. Một câu hỏi chứa đựng nhiều xót xa, nếu như ba trăm năm sau những vần thơ của Tiểu Thanh vẫn còn có Nguyễn Du thương cảm nhưng liệu ba trăm năm sau có còn “ai khóc Tố Như chăng”. Người đời khi ấy liệu có nhớ hay đã quên đến ông, câu hỏi như xoáy sâu vào suy nghĩ của người đọc. Câu thơ như bộc lộ nỗi bi phẫn của nhà thơ trước thời cuộc để rồi khóc thương người, nhà thơ tự khóc thương chính mình.

Nhưng đến ngày hôm nay, ai trong chúng ta đều biết đến, đều ghi nhớ đến Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc, một tượng đài bất từ của nền văn học Việt Nam bởi những tác phẩm đồ sộ mang giá trị cao đã và đang được lưu truyền cho các thế hệ sau.

“Đọc Tiểu Thanh ký” là một bài thơ để lại những thương cảm trong lòng người đọc về số phận bất hạnh của những con người tài hoa nhưng bạc mệnh. Đồng thời qua đây, tác giả cũng đã phản ánh thực trạng xã hội phong kiến tàn ác đã đẩy con người vào những bước đường cùng, chà đạp lên nhân phẩm và lãng quên những giá trị mà họ đã để lại cho đời.

Bài viết liên quan:

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.