Đọc – hiểu văn bản: “Hồi thứ 14” – trích “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô Gia văn phái – Luyện thi tuyển sinh

on-tap-luyen-thi-tu-a-den-z-van-ban-hoi-thu-14-hoang-le-nhat-thong-chi-cua-ngo-gia-van-phai

“Hồi thứ 14” – trích “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô Gia văn phái

I. Tác giả, tác phẩm:

1. Tác giả:

Ngô gia văn phái là một nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì, ở làng Tả Thanh Oai, Hà Nội. Đây là một gia tộc danh tiếng, có truyền thống nhiều đời làm qua lớn và sáng tác văn chương. Các thế hệ kế tục nhau gây dựng và giữ gìn danh thế hết sức chu toàn, vững chắc.

2. Tác phẩm:

Hoàng Lê nhất thống chí là bộ tiểu thuyết chương hồi, được viết theo thể chí. Tác phẩm gồm có tất cả 17 hồi, trên đây trích phần lớn hồi thứ mười bốn, viết về sự kiện vua Quang Trung đại phá quân Thanh.

Đây là một tác phẩm văn xuôi chữ Hán có quy mô lớn nhất và đạt được những thành công xuất sắc cả về nội dung cũng như nghệ thuật. Tác phẩm cũng có giá trị lớn về mặt lịch sử. Có lẽ vì thế mà “Hoàng Lê nhất thống chí” được xếp vào loại tiểu thuyết lịch sử.

Đoạn trích tái hiện một sự kiện lịch sử trọng đại: cuộc tiến quân thần tốc ra Thăng Long và chiến thắng vĩ đại của quân ta dưới sự chỉ huy của Quang Trung. Đồng thời, đoạn trích còn thể hiện sự thảm bại nhục nhã của quan quân tướng nhà Thanh và vua tôi Lê Chiêu Thống.

Đoạn trích có bố cục 3 phần:

+ Đoạn 1:(từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788)): Được tin báo quân Thanh chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế và thân chinh cầm quân dẹp giặc.
+ Đoạn 2( tiếp đến “rồi kéo vào thành”) : Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung.
+ Đoạn 3: Đoạn còn lại : Sự đại bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.

Tóm tắt nội dung hồi thứ 14:

Thất bại ở trong nước, vua lê Chiêu Thống sang cầu viện nhà Thanh. Nhân cơ hội ấy, nhà Thanh cử tướng Tôn Sĩ Nghị cầm 29 vạn quân vừa phò tá vua Lê vừa thực hiện âm mưu thôn tính nước ta. Chúng rầm rộ tiến vào thành Thăng Long, nhanh chóng đạt được mục tiêu.

Nguyễn Huệ nghe tin quân Thanh đến Thăng Long giận lắm liền họp các tướng sĩ định thân chinh cầm quân đi ngay. Tướng sĩ xin Bắc Bình Vương lên ngôi để làm yên lòng người. Nguyễn Huệ cho đắp đàn trên núi tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung. Ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân hạ lệnh xuất quân.

Đến Nghệ An, vua Quang Trung đích thân tìm gặp la Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp để hội ý tìm cách đánh giặc. Có phu tử giúp sức, kết hợp với nhan sĩ Bắc Hà thực hiện kế nội công ngoại kích, vua Quang Trung hết sức yên tâm liền cho tuyển thêm hơn một vạn lính mở cuộc duyệt binh. Đến Tam Điệp mở tiệc khao quân, chia quân sĩ làm 5 đạo. Đúng tối 30 tết lập tức lên đường. Nhờ chiến lược hành quân thông minh, nghĩa quân Tây Sơn thần tốc ra Bắc.

Trên đường tiến quân ra Bắc, những toán quân Thanh do thám tại sông Gián bị bắt sống. Quân cơ tuyệt mật, không lộ tung tích gì. Mùng 03 tháng giêng năm Kỉ Dậu, đồn Hà Hồi bị hạ trong tích tắc. Mờ sáng ngày 05, đại quân do Quang trung chỉ huy tiến đánh đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh đại bại. Thái thú Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn. Đến trưa, đại quân tiến vào thành Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt cuống cuồng chạy mất mật. Quân Thanh tranh nhau qua cầu tháo chạy rơi xuống nước nhiều không kể xiết. Vua tôi Lê Chiêu Thống dìu dắt nhau chạy trốn sang đất Bắc trong cơ nhục.

II. Phân tích văn bản:

1. Hình tượng lẫm liệt người anh hùng Nguyễn Huệ:

Quang Trung – Nguyễn Huệ là một người hành động với tính cách mạnh mẽ, quyết đoán, có ý chí quyết chiến quyết thắng kẻ thù:

Vốn là con nhà võ, lại có khí chất phi thường, trong mọi tình huống, Nguyễn Huệ luôn thể hiện là con người hành động với tính cách mạnh mẽ, quyết đoán. Ông luôn xông xáo, giải quyết nhanh gọn và có chủ đích. Điều đó thể hiện qua từng thái độ, từng hành động của nhân vật.

Nhận được tin giặc chiếm Thăng Long thì “giận lắm”,”định thân chinh cầm quân đi ngay”. Tính khí cương trực, thiện chiến tạo nên bản lĩnh của vị chủ tướng vốn đã từng trải chiến trường, bách chiến bách thắng, không hề run sợ trước kẻ thù. Quân Thanh dù có hùng mạnh nhưng không phải là điều khiến cho Nguyễn Huệ phải dè chừng.

Chỉ trong vòng hơn một tháng, Nguyễn Huệ đã làm rất nhiều việc lớn. Nghe theo lời khuyen của tướng sĩ, Nguyễn Huệ lập đàn tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế để “chính vị hiệu”,”giữ lấy lòng người”. Đó quả là một hành động sáng suốt, hợp với tình thế. Sau đó, nhà vua tự mình “đốc suất đạo binh” ra Bắc. Tại Nghệ An, nhà vua tìm gặp người cống sĩ Nguyễn Thiếp, một ẩn sỉ tài danh để hỏi kế sách. Sau khi kế sách đã định, nhà vua cho tuyển mộ quân sĩ và “mở cuộc duyệt binh lớn” ở Nghệ An, phủ dụ tướng sĩ hết sức chân tình và sâu sắc. Nói là làm, chỉ có tiến chứ không lùi, tính toán cặn kẽ, hành động dứt khoát, mạnh mẽ của Nguyễn Huệ là nguồn sức mạnh phi thường, động viên sĩ khí ba quân tiến bước.

Quang Trung – Nguyễn Huệ là một người có trí tuệ sáng suốt, nhạy bén trước thời cuộc:

Tuy dũng khí mạnh mẽ, hành động dút khoát, nói là làm ngay nhưng Nguyễn Huệ cũng rất bình tĩnh, sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc, thế tương quan giữa ta và địch. Trong lời phủ dụ quân sĩ ở Nghệ An.

Trong bài phủ dụ, Nguyễn Huệ đã khẳng định chủ quyền của dân tộc (“đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng”) và lên án hành động xâm lăng phi nghĩa, trái đạo trời của quân Thanh, nêu bật dã tâm của chúng (“bụng dạ ắt khác…cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải”). Ông nhắc lại truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, đồng thời kêu gọi quân lính đồng tâm hiệp lực, ra kỉ luật nghiêm.

Lời phủ dụ có thể xem như một bài hịch ngắn gọn mà ý tứ phong phú, sâu xa, có tình, có lí nó tác động, kích thích lòng yêu nước, ý chí quật cường của dân tộc, khích lệ lòng quân, cổ động ba quân tướng sĩ giết giặc lập công rạng danh muôn thuở.

Quang Trung – Nguyễn Huệ là một người sáng suốt trong việc xét đoán và dùng người, biết trọng dụng nhân tài:

Thể hiện qua cách xử trí vừa có lí vừa có tình với các tướng sĩ tại Tam Điệp. Ông rất hiểu tướng sĩ, tường tận năng lực của bề tôi, khen chê đúng người đúng việc. Với Lân và Sở, ông quở trách khi chưa đánh mà lui, phạm tội khi quân, đáng tội chết. Đó là nghiêm trị. nhưng ông biết rõ, sở dĩ Lân và Sở lui quân là theo lệnh của Ngô Thì Nhậm, một bậc quân sư kì tài. Chưa cần ai nói, ông đã khen ngay đó là diệu kế.

Quang Trung – Nguyễn Huệ là một người có tầm nhìn xa trông rộng:

Mới khởi binh, chưa lấy được tấc đất nào, vậy mà Quang Trung đã tuyên bố chắc nịch “phương lược tiến đánh đã có sẵn”, “Chẳng qua mươi ngay có thể đuổi được người Thanh”. Đó không phải là một lời nói suông mà là nhận định của một bậc kì tài, có khả năng nhìn thấy được vận mệnh.

Biết trước kẻ thù “lớn gấp mười nước mình”, bị thua một trận “ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù” khiến việc binh đao không bao giờ dứt nên Nguyễn Huệ còn tính sẵn cả kế hoạch ngoại giao sau chiến thắng để có thời gian “yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng”, làm cho nước giàu quân mạnh. Quả thực, sau chiến thắng, Quang Trung đã làm đúng kế sách, không những khiến cho nhà thanh muôn phần kính nể mà trong mấy mươi năm cũng không dám xâm phạm nước ta nữa.

Quang Trung – Nguyễn Huệ là một người có tài dụng binh như thần, là một dũng tướng thực thụ và siêu phàm:

Hơn cả một chỉ huy, Nguyễn Huệ tước hết là một dũng tướng nhiều lần xông pha trận mạc. Cuộc hành quân thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn do đích thân vua Quang Trung chỉ huy. Ông vừa mưu lược kế sách, vừa xây dựng lực lượng, vừa củng cố lòng quân. Ông toan tính cặn kẽ từng việc để đảm bảo tập trung được sức mạnh của toàn quân trong trạn chiến ác liệt với kẻ thù, bảo vệ nhân dân và đất nước. Sức mạnh làm nên cuộc hành quân thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn cho đến bây giờ vẫn còn là một bí ẩn thật khó lí giải. Đó là nhờ tài năng quân sự lỗi lạc ở người cầm quân vừa phát huy được nội lực quân đội vừa vận động được sức dân làm nên một đoàn quân thiện nghệ, bách chiến bách thắng.

Hình ảnh vị anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ lẫm liệt trong chiến trận khiến ta muôn phần kính phục. Quang Trung cưỡi voi trắng tham chiến, cùng tướng sĩ xông pha phá giặc. Hình ảnh vua Quang Trung trên mình voi bước ra từ đám khói, khuôn mặt đen sạm, áo bào bị rách chẳng khác nào một anh hùng trong sử thi, uy nghi, lẫm liệt. Hình ảnh người thủ lĩnh ấy đã làm quân sĩ nức lòng, tạo niềm tin quyết chiến quyết thắng, đồng thời khiến kẻ thù kinh hồn bạt vía, rơi vào cảnh đại bại nhanh chóng.

2. Chân dung ô nhục và thấp hèn của bọn cướp nước và bán nước:

Đối lập với hình ảnh nghĩa quân Tây Sơn là chân dung của kẻ thù xâm lược. Kéo quân vào Thăng Long rất dễ dàng, như “đi trên đất bằng”, quân Thanh đã quá chủ quan, cho là vô sự, không đề phòng gì. Lính thì rời doanh trại để đi kiếm củi, buôn bán ở chợ;tướng thì suốt ngày lo yến tiệc, cờ bạc.ngày tết, chỉ chăm lo ăn uống, buông bỏ việc binh. Tướng Tôn Sĩ Nghị liệu tính sai lầm, cho rằng quân Tây Sơn có mọc cánh cũng không thể nào hành quan kịp tấn công vào lúc này.

Vì vậy, khi bị quân Tây Sơn tiến công bất ngờ đúng vào thời điểm Tết Âm lịch, quân Thanh ở các thành đã không kịp trở tay, sĩ khí tan biến hết, tinh thần “rụng rời sợ hãi”, chống không nổi “bỏ chạy toán loạn,giày xéo lên nhau mà chết”, “thây chất đầy đồng, máu chảy thành suối” đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa. Nhục nhã nhất là hình ảnh Tôn Sĩ Nghị “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhằm hướng bắc mà chạy”…

Số phận những kẻ bán nước là Lê Chiêu Thống và những kẻ bề tôi của hắn cũng không kém phần thảm hại. Khi quân Thanh tan rã, cả bọn vội vã chạy bán sống, bán chết, chịu đói, chịu nhục, chỉ biết “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt”. 

Có thể thấy rõ chất hiện thực trong bức tranh miêu tả của các tác giả. Dù là những kẻ tôi trung với nhà Lê, và trong cách miêu tả cảnh khốn quẫn của vua Lê Chiêu Thống, các tác giả vẫn thể hiện sự ngậm ngùi,thương cảm, nhưng quan điểm tôn trọng lịch sử và ý thức dân tộc của những trí thức đã giúp họ phản ánh đúng diễn biến lịch sử, làm nổi bật hành động “cõng rắn cắn gà nhà” của ông vua phản nước Lê Chiêu Thống cũng như tô đậm chiến công lẫy lừng của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ và nghĩa quân Tây Sơn.Đó chính là một trong những yếu tố tạo nên giá trị tác phẩm.

III. Tổng kết:

Với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả “Hoàng lê nhất thống chí” đã tái hiện chân thực hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.

Cách trần thuật đặc sắc. Ghi lại những sự kiện lịch sử diễn biến gấp gáp, khẩn trương qua từng mốc thời gian. Miêu tả cụ thể từng hành động, lời nói của nhân vật chính,từng trận đánh và những mưu lược tính toán, thế đối lập giữa hai đội quân ( một bên thì xộc xệch, trễ nải, nhát gan; một bên thì xông xáo dũng mãnh, nghiêm minh).

Hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ được khắc họa khá đậm nét, có tính cách quả cảm, mạnh mẽ, có trí tuệ sáng suốt, có tài dụng binh như thần, là người có tổ chức và là linh hồn của những chiến công vĩ đại. Nhan đề tuy mang ý nghĩa ca ngợi nhà Lê, nhưng nội dung tác phẩm lại vạch rõ sự thối nát, mục ruỗng của triều đình nhà Lê, và ca ngợi người anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ.

Bài viết cùng chủ đề:

Đánh giá bài viết:

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị tiết lộ.