Phân tích Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

phan-tich-chu-nguoi-tu-tu-cua-nguyen-tuan-12503-2

Phân tích “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân.

  • Mở bài:

Nguyễn Tuân là gương mặt tiêu biểu của nền văn học dân tộc. Ông là cây bút tài hoa, uyên bác, có phong cách nghệ thuật độc đáo, có tình cảm thiết tha với cuộc đời và truyền thống dân tộc. “Chữ người tử tù là tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Tuân giai đoạn trước cách mạng.

  • Thân bài:

Trong nền văn học Việt Nam, có thể xem Nguyễn Tuân là cái định nghĩa về người nghệ sĩ một cách trọn vẹn. Sự độc đáo đó được thể hiện ở: sự tài hoa và ngông. Ông là người am hiểu nhiều ngành nghệ thuật nên các tác phẩm của Nguyễn Tuân được xem xét nhìn nhận và đánh giá ở nhiều phương diện khác nhau, nhiều chiều hướng khác nhau tạo nên sự sinh động trong trang văn của ông. Nguyễn Tuân quan niệm cuộc đời là một hành trình, hành trình đi tìm cái đẹp và khẳng định cái đẹp. Bởi thế, cuộc đời ông gắn liền với nghệ thuật, gắn liền với những chuyến đi xa tìm kiếm cái đẹp ẩn giấu trong vạn vật, phong cảnh, con người.

Chữ người tử tù là một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Tuân. Đề tài không có gì mới mẻ nhưng cách khai thác đề tài và điểm nhìn nghệ thuật lại hết sức tài hoa. Một trong những sáng tạo độc đáo của Nguyễn Tuân trong thiên truyện là đã xây dựng được tình huống truyện. Đó là cuộc gặp gỡ kì lạ, oái oăm giữa quản ngục, thầy thơ lại (những vị quan coi tù) và nhân vật Huấn Cao (tên tử tù sắp đến ngày ra pháp trường)

Xét trên bình diện xã hội, họ thuộc hai thế lực đối lập nhau. Viên quản ngục và thầy thơ lại là những người bảo vệ, duy trì trật tự xã hội đã thối nát còn Huấn Cao lại muốn đạp đổ trật tự xã hội ấy. Đó là sự tương phản giữa một bên tầm thường thấp kém với bên kia cao cả, anh hùng.

Xét trên bình diện nghệ thuật, họ đồng điệu, hòa hợp về tâm hồn, đều yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp và trọng nghĩa khí. Lúc đầu chưa hiểu nhau, còn nghi kị sau đó hiểu nhau và trở thành tri âm, tri kỉ. Đây là tình huống truyện độc đáo đã góp phần thể hiện rõ tính cách nhân vật và chủ đề của tác phẩm.

Ngoài tình huống truyện độc đáo, gây cấn và giàu tính nghệ thuật, Nguyễn Tuân cũng hết sức thành công khi xây dựng các nhân vật điển hình, có sức lan tỏa mạnh mẽ.

1. Nhân vật viên quản ngục.

Viên quản ngục làm nghề coi ngục, đại diện cho cường quyền, bạo lực và lợi ích của nhà nước phong kiến. Đây là công việc dễ khiến người ta trở nên lạnh lùng, nhẫn tâm, tàn ác.

Khi nghe tin Huấn Cao sắp chuyển đến nhà lao, tâm trạng, thái độ của viên quản ngục trở nên khác thường sau khi nghe được tin sắp nhận được một phạm nhân mới – Huấn Cao: Hỏi thầy thơ lại : “Huấn Cao? Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không?” Ông băn khoăn, quan tâm, vừa mừng vừa lo. Đêm về trằn trọc suy nghĩ về Huấn Cao và nghề nghiệp của mình: “ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dương….”, muốn biệt đãi Huấn Cao. Đó là thái độ lạ lùng, hiếm thấy của một viên quản ngục vốn rất quen với việc giam giữ tử tù.

Khi gặp Huấn Cao, Viên quản ngục đã nhiều lần gặp Huấn Cao. Mỗi lần gặp gỡ, Viên quản ngục đều có thái độ hết sức khác thường, không giống với thái độ thường thấy của một cai ngục đối với tù nhân:

Lần đầu gặp phạm nhân, viên quản ngục “nhìn sáu tên tù mới vào với cặp mắt hiền lành”, lòng kiêng nể” và thái độ “biệt nhỡn” thể hiện rõ ràng trái với phong tục nhận tù thông thường.

Lần thứ 2 gặp gỡ, sau nửa tháng cho người mang rượu thịt vào buồng giam cho Huấn Cao. Lần này quản ngục vào với thái độ khép nép”, xưng hô ngài – tôi. Việc hỏi han để đáp ứng. Rồi bị mắng, lễ phép lui ra với câu “xin lĩnh ý”. Đó là sự nhún nhường cư xử điềm đạm, thể hiện một tâm hồn cao quý, sẵn lòng “quỳ gối trước hoa mai”

Lần đến xin chữ: Khát khao có được chữ Huấn Cao đã từ lâu rồi: “Chữ ông Huấn đẹp lắm, vuông lắm… báu vật trên đời” . Thế nên Quản ngục rất khổ tâm: “Có một ông Huấn trong tay… không biết làm thế nào mà xin được chữ”. Viên quản ngục có nhân cách cao đẹp không dùng quyền thế để ép người.

Khi được ông Huấn Cao cho chữ, Viên quản ngục khúm núm, xúc động, trân quý, khóc “kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Thái độ trân trọng, thành kính trước cái đẹp và cảm phục người tài. Quản ngục tự thu nhỏ mình lại để chiêm ngưỡng cái đẹp, cái tài song không phải là người tầm thường. Sự rụt rè, cam chịu vì quản ngục trân trọng và quý nể người tài: Huấn Cao.

→ Quản ngục là người có nhân cách trong sáng bị vứt giữa đống cặn bã, “là một thanh âm trong trẻo chen giữa bản đàn mà tất cả nhạc luật đều xô bồ”. Đặt nhân vật này giữa chốn ngục tù khiến nhân cách của nhân vật càng trở nên đáng quý. Quản ngục đại diện cho những người biết tôn trọng cái đẹp tuy không biết sáng tạo cái đẹp.

2. Nhân vật Huấn Cao là nhân vật trung tâm của tác phẩm.

a. Huấn Cao hiện lên gián tiếp qua những lời đồn:

Là người có “tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp”; có tài “bẻ khóa vượt ngục”. Ông nổi tiếng chống lại triều đình, bị kết án tử tù (là anh hùng nhưng thất thế). Có thể thấy, Huấn Cao là một con người văn võ song toàn, hình mẫu lí tưởng trong xã hội lúc bấy giờ.

b. Huấn Cao khi bị gian trong ngục tù:

Huấn Cao lạnh lùng chúc mũi gông nặng…một trận mưa rệp”. Ông coi khinh tù ngục, chẳng sợ uy quyền. Được Viên quản ngục biệt đãi, ông vẫn “thản nhiên nhận rượu thịt”, “coi đó là hứng sinh bình”. Đó là tư thế hiên ngang, bất khuất trước uy quần, thái độ phớt lờ lợi danh.

Khi quản ngục có ý nương nhẹ, hỏi han để đáp ứng thì Huấn Cao còn tỏ ra khinh bạc, nói những lời ngạo nghễ mà không sợ bị trả thù (ngay cái chết cũng không sợ).

→ Huấn Cao chính là người có dũng khí, hiên ngang bất khất, không run sợ trước uy quyền, xem thường cái chết.

C. Huấn Cao qua việc viết chữ và cho chữ:

Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ ông ít chịu cho chữ. Không vì quyền thế hay tiền bạc mà ép mình viết chữ, cả đời chỉ viết… Huấn Cao là một nghệ sĩ có “thiên lương” trong sáng

Nhận lời cho chữ: xúc động nói như có lỗi “thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Huấn Cao nhận ra lòng thành của quản ngục. Huấn Cao là người nhân hậu, trọng nhân nghĩa, khinh quyền thế. Ông cho chữ và còn khuyên quản ngục nên bở nghề cai ngục để gìn giữ thiên lương: “ở đây lẫn lộn ta khuyên thầy quản nên đổi chốn ở đi…”.

→ Huấn Cao một nghệ sĩ tài hoa, chân chính, là một anh hùng có khí phách hiên ngang. Tuy chí lớn không thành nhưng coi thường gian khổ và cái chết. Khí phách, phẩm chất của Huấn Cao tỏa sáng và nổi bật trên nền trời tăm tối của chốn lao tù.

3. Cảnh cho chữ và lời khuyên của Huấn Cao.

Thời gian: đêm khuya tăm tối.

Không gian: Buồng tối hẹp, ẩm ướt. Tường đầy mạng nhện. Đất đầy phân chuột, phân gián, hôi hám. Khói tỏa cay xè.

Hình ảnh: vuông lụa trắng tinh, thỏi mực thơm, nét chữ vuông tươi tắn. Mảnh đất chết – cái xấu, tăm tối, hôi hám, lạnh lẽo. Ánh sáng đỏ rực của bó đuốc. Cái đẹp hiện lên trong sáng, ấm áp

Con người: Người cho chữ: cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang dậm tô những nét chữ… Người xin chữ: Quản ngục khúm núm, thầy thơ lại run run. Dù bị giam hãm nhưng họ vẫn yêu mến và sáng tạo ra cái đẹp. Cái đẹp hiện lên đĩnh đạc, uy nghi. Huấn Cao trở thành nghệ sĩ. Người có quyền thế, địa vị thì run sợ thành kính trước sự xuất hiện của cái đẹp.

→ Với thủ pháp đối lập, cái đẹp xuất hiện vị thế xã hội thay đổi, người tù vươn lên làm chủ tình thế, sáng tạo ra cái đẹp bằng tài hoa và nhân cách của mình. Cái đẹp xuất hiện bất chấp hoàn cảnh và cái đẹp đã chiến thắng cái xấu.

Sau khi cho chữ, Huấn Cao đã phiên viên quản ngục: “Ở đây lẫn lộn ta khuyên thầy quản nên thay chốn ở đi”. “Chỗ này không phải là nơi treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn…”. Đây là di huấn của một người tử tù có trí – nhân – dũng. Biểu tượng của cái đẹp còn sót lại nên giàu chất triết lí và có sức lay động lòng người. Cái đẹp nảy sinh từ cái chết nhưng nó không thể chung sống cùng sự bạo tàn. Con người chỉ có quyền thưởng thức được cái đẹp khi giữ được thiên lương (bản chất tốt đẹp)

Lời khuyên của Huấn Cao đã tác động đến quản ngục hay chính tài năng, tâm hồn trong sáng của Huấn Cao đã làm sáng cả nhà lao đen tối, chinh phục mọi người xung quanh. Cái đẹp có sức cảm hóa, hướng con người đi đến cái thiện.

4. Vài nét đặc sắc về nghệ thuật.

– Kết hợp giữa bút pháp tả thực và bút pháp lãng mạn.

– Nhịp điệu câu văn khoan thai, chừng mực nhẹ nhàn mà thấm thía, từ Hán Việt kết hợp với từ thuần Việt tạo ngôn ngữ vừa cổ kính vừa đời thường

– Tình huống truyện độc đáo, gây cấn, hấp dẫn. Cách kể lôi cuốn. Ngôn ngữ giàu tính triết lí.

  • Kết bài:

“Chữ người tử tù” thành công trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Tình huống truyện trên đây góp phần thể hiện rõ những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Tác phẩm trở thành bài ca về cái đẹp, về những con người tài hoa sống đẹp, và sáng tạo ra cái đẹp; là bài ca về lòng quý trọng cái đẹp cái tài; bài ca về sự gặp gỡ giữa những tấm lòng đối với cái đẹp với nhân cách đẹp và những tấm lòng thiên lương với nhau.


Tham khảo:

Phân tích truyện ngắn “Chữ Người Tử tù” của Nguyễn Tuân.

  • Mở bài:

Nguyễn Tuân tài hoa không chỉ ở cách thức nhìn nhận và phản ánh con người của mình mà còn hết sức “ngông” trong lối biểu hiện khác đời khác người. Từ đề tài, nhân vật đến cách thể hiện đều gây bất ngờ, rất độc đáo và giàu sáng tạo. “Chữ người tử tù” là một tác phẩm phi thường, thể hiện rất rõ quan điểm thẩm mĩ, triết lí nhân sinh của Nguyễn Tuân trên con đường tìm kiếm cái đẹp. Truyện miêu tả tài năng, dũng khí và thiên lương cao cả kết tinh thành vẻ đẹp của Huấn Cao, đồng thời làm rõ cái đẹp và cái thiện đã cảm hóa được cái xấu, cái ác và khẳng định tài và tâm, cái đẹp và cái thiện không thể tách rời.

  • Thân bài:

“Chữ người tử tù” ban đầu có tên là “Dòng chữ cuối cùng”, sau khi in lại trong tập “Vang bóng một thời” được đổi tên lại. Điều đó cho thấy sự cân nhắc cùng với dụng ý nghệ thuật của nhà văn. “Dòng chữ cuối cùng” chỉ gắn với con chữ mà Huấn Cao cho quản ngục trước khi lĩnh án tử hình. Nhan đề ấy chỉ nhấn mạnh vào chữ và thời gian cho chữ, gợi lên màu sắc bi quan, cái chết và sự chấm dứt. “Chữ người tử tù” là nhan đề nói được nhiều hơn thế. Chữ người tử tù là chữ của Huấn Cao, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại triều đình, bị bắt và bị kết án tử hình. Đây cũng chính là nhân vật trung tâm của truyện.

1. Vẻ đẹp nhân vật Huấn Cao.

Xây dựng nhân vật Huấn Cao trong những mâu thuẫn kịch liệt là một thành công nữa của Nguyễn Tuân. Xây dựng nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân dựa vào nhân vật cụ thể Cao Bá Quát. Cao Bá Quát là một con người thông minh, học giỏi nổi tiếng, rất mực tài hoa, văn hay, chữ tốt nhưng ông không chấp nhận cái triều đại phong kiến thối nát lúc bấy giờ nên đã lãnh đạo phong trào nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình. Về cái chết của ông có hai ý kiến khác nhau: có ý kiến cho rằng ông đã hy sinh trong chiến trận, có ý kiến khác lại cho rằng ông đã bị bắt và bị xử trảm. Điều này cho ta thấy được tấm lòng rất trân trọng của Nguyễn Tuân đối với những người anh hùng đã hy sinh vì nghĩa lớn. Qua đó, ta thấy được tấm lòng ưu ái của ông đối với đất nước.

Huấn Cao được đặt trong một hoàn cảnh khốc liệt. Ông là một người anh hùng thất thế, vốn là thủ lĩnh những người “phản nghịch” đứng lên chống lại triều đình, nay bị kết án tử, giam cầm và chờ ngày ra pháp trường xử lý. Huấn Cao là người tử tù sắp đi vào cõi chết. Chính nghịch cảnh khẳng định phẩm chất của anh hùng và ngược lại, nghịch cảnh cũng là cơ hội để người anh hùng bộc lộ mình.

Huấn Cao là con người rất tài hoa. Qua lời nhận xét của quản ngục và thầy thơ lại : “văn võ đều có tài cả”. Ông rất nổi tiếng là người có tài viết chữ đẹp, “chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm”, có tài “viết chữ rất nhanh và rất đẹp”“có được chữ Huấn Cao mà treo là có một báu vật trên đời”.

Huấn Cao là người có khí phách hiên ngang, không khuất phục trước uy quyền bạo lực. Ông đứng đầu khởi nghĩa chống triều đình phong kiến thối nát, là tử tù nhưng rất ung dung, bình thản. Hành động rỗ gông trước lời dọa và giễu cợt của tên lính “Huấn Cao lạnh lùng chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thanh gông xuống thềm đá tảng đáng thuỳnh một cái” và thái đô cao ngạo, khinh bạc khi trả lời quản ngục – người đại diện cho chính quyền phong kiến: “Ngươi hỏi ta muốn gì ? Ta chỉ muốn một điều là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”, “đến cái cảnh chết chém, ông còn chẳng sợ nữa là cái trò tiểu nhân oái thị này” làm tôn lên cái khí phách ngạo nghễ của ông trước ngục tù và uy quyền. Huấn Cao ung dung, bình thản đón nhận, chờ đợi cái chết : “thản nhiên nhận rượu thịt, coi đó như việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh lúc chưa bị giam cầm”.

Huấn Cao là người có thiên lương trong sáng, nhân cách cao đẹp. Không tham quyền hám lợi mà bán rẻ giá trị “không vì vàng ngọc hay quyền thế mà bắt mình phải viết câu đối bao giờ”. Mặt khác, ông rất xem trọng nghĩa khí : vốn khinh bạc nhưng khi biết phẩm chất tốt đẹp và sở thích cao quý của quản ngục: “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn nhân tài của các người”…, Huấn Cao đã sẵn sàng cho chữ, đồng thời có chút ân hận, băn khoăn vì “thiếu chút nữa phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”.

Không chỉ giữ gìn, quý trọng thiên lương của mình, Huấn Cao còn thân thành khuyến thiện con người, cho quản ngục những lời khuyên hết sức chân thành, ý nghĩa: “Thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi”.

Tóm lại, Huấn Cao là một nhân vật toát lên một vẻ đẹp khá toàn diện. Ông vừa là một con người rất mực tài hoa vừa là một con người hiên ngang khí phách, sống với một mục đích, lý tưởng cao đẹp bất chấp cả uy quyền và bạo lực. Ông luôn luôn đặt chữ “tâm” trên chữ “tài” và có quan niệm thống nhất giữa cái đẹp và cái thiện. Cái đẹp và cái thiện phải luôn luôn đi đôi với nhau, gắn bó mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau được. Huấn Cao quả là một nhân vật thật lý tưởng. Cái đẹp và cái thiện không thể tách rời nhau. Một nhân cách đẹp bao giờ cũng là sự thống nhất giữa cái tâm và cái tài. Quan niệm thẩm mỹ của Hụấn Cao cũng là quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Tuân, đó là một quan niệm thẩm mỹ tiến bộ lúc bấy giờ.

2. Vẻ đẹp nhân vật viên quản ngục.

Viên quản ngục đảm nhận chức quản ngục, sống giữa gông xiềng, tội ác: “người ta sống bằng nghề lừa lọc, bằng tàn nhẫn”. Hàng ngày phải làm việc và chứng kiến bao điều xấu xa. Hoàn cảnh ấy dễ đẩy con người vào ác đạo, vào bùn nhơ, dễ làm chết nhân cách con người bằng bóng tối của nó.

Ông xuất hiện đang ngồi suy nghĩ bên cạnh cái án thư màu vàng son đã nhạt với cây đèn leo lét rọi vào khuôn mặt nghĩ ngợi: “đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu, những đường nhăn nheo của bộ mặt tư lự bây giờ đã biến mất hẳn, chỉ còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ”

Viên quản ngục là người say mê cái đẹp, quý trọng tài hoa. Ông mơ ước một ngày được treo chữ viết của Huấn Cao trong nhà : “… sở nguyện của viên coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cap viết”; “Quản ngục mong mỏi một ngày gần đây, ông Huấn sẽ dịu bớt tính nết, thì y sẽ nhờ ông viết, viết cho … cho mấy chữ trên chục vuông lụa trắng đã can lại kia. Thế là y mãn nguyện”.

Viên quản ngục là người biết kính trọng tài đức. Trước khi nhận được chữ : ông có ý muốn biệt đãi tử tù và thăm dò ý thầy thơ lại xem họ có hợp ý mình không “ta muốn biệt đại ông Huân Cao, ta muốn cho ông ta đỡ cực trong những ngày cuối cùng còn lại”. Khi tiếp nhận tử tội thì vẻ mặt ông hiền lành khác ngày thường : “Khác với phong tục nhận tù mọi ngày, hôm nay viên quan coi ngục nhìn sáu tên tù mới vào với cặp mắt hiền lành. Lòng kiên nể, tuy cố giữ kín đáo mà cũng đã quá rõ rồi”, không dùng bất cứ hình phạt nào để trấn áp người tử tội.

Trong quá trình coi ngụ, ông tỏ rõ thái độ kính trọng và biệt đãi Huấn Cao. Ông sai người dâng rượu và đồ nhắm cho Huấn Cao; đích thân đến gặp Huấn Cao và khép nép hỏi : “ngài có cần thêm gì nữa xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất”. Mặc dù bị Huấn Cao tiếp đón với thái độ khinh khi nhưng ông vẫn hết sức cung kính và lễ phép lui ra: “xin lĩnh ý”, đồng thời lại đối xử tốt hơn: “từ hôm ấy, cơm rượu lại vẫn đưa đến đều đều và có phần hậu hơn trước”. Tôn trọng Huấn Cao nên ông “không để chân vào buồng giam ông Huấn nữa”, đặc biệt cả năm bạn đồng chí của Huấn Cao “cũng đều được biệt đãi như thế cả”.

Viên quản ngục là người có bản chất lương thiện. Ông luôn day dứt khi chọn nhầm nghề, lúc nào cũng tự nhủ với mình : “Có lẽ lão bát này là một người khá đây. Có lẽ lão cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi”. Ông hoàn toàn có thể dùng uy quyền và vũ lực ép Huấn Cao cho chữ nhưng ông đã không làm vậy. Ông đã rất xúc động trước lời khuyên của Huấn Cao “Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng mắt rỉ vào miệng làm cho nghẹn ngào : “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.

Tuy sống bằng cái nghề độc ác, tàn bạo, nhưng viên quản ngục là một con người biết quí trọng kẻ có tài, biết yêu cái đẹp, trân trọng với cái đẹp, biết nghe theo lời khuyên bảo của Huấn Cao để trở về với cái thiện và giữ lấy cái đẹp.

3. Cảnh cho chữ: một cảnh tượng xưa nay chưa từng có.

Vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao được bộc lộ một cách chói sáng, rực rỡ nhất trong cái đêm ông cho chữ viên quản ngục. Cảm hứng mãnh liệt trước một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” đã khiến Nguyễn Tuân thoả sức thể hiện khả năng sử dụng vốn ngôn từ phong phú, sắc sảo của ông. Những lớp ngôn từ vừa trang trọng cổ kính, vừa sống động như có hồn, có nhịp điệu riêng, giàu sức truyền cảm. Bút pháp dựng người, dựng cảnh của nhà văn đạt đến mức điêu luyện. Những nét vẽ của nhà văn trong đoạn này rất giàu sức tạo hình. Thủ pháp tương phản được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả đã làm nổi bật hơn bao giờ hết vẻ đẹp trang trọng, uy nghi, rực rỡ hào quang bất tử của hình tượng nhân vật Huấn Cao.

Có thể nói cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục là một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”, vì việc cho chữ vốn là một việc thanh cao, một hoạt động sáng tạo nghệ thuật lại diễn ra trong một căn buồng tối tăm, chật hẹp, ẩm ướt, hôi hám của nhà tù (tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột, phân gián). Cái đẹp lại được sáng tạo giữa chốn hôi hám, nhơ bẩn ; thiên lương cao cả lại toả sáng ở chính cái nơi mà bóng tối và cái ác đang ngự trị.

Người nghệ sĩ tài hoa đang say mê tô từng nét chữ không phải là người được tự do mà là một kẻ tử tù đang trong cảnh cổ đeo gông, chân vướng xiềng, và chỉ sớm tinh mơ ngày mai đã bị giải vào kinh để chịu án tử hình. Trong cảnh này, người tù thì nổi bật lên uy nghi, lồng lộng, còn quản ngục, thơ lại (những kẻ đại diện cho quyền thế) thì lại”khúm núm”, “run run” bên cạnh người tù đang bị gông xiềng kia…

Trật tự, kỉ cương trong nhà tù đã hoàn toàn bị đảo ngược. Tù nhân trở thành người ban phát cái đẹp, răn dạy ngục quan ; còn ngục quan thì khúm núm, vái lạy tù nhân. Thì ra, giữa chốn ngục tù tàn bạo, không phải những kẻ đại diện cho quyền lực thống trị làm chủ mà là người tử tù làm chủ. Đó là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp đối với cái xấu xa, nhơ bẩn, của cái thiện đối với cái ác,… Đó là sự tôn vinh cái đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả của con người bằng một bức tranh nghệ thuật đầy ấn tượng.

Khung cảnh cho chữ hội tụ và làm tỏa sáng hình tượng chính (tài năng kiệt xuất trong nghệ thuật thư pháp; mang hoài bão tung hoành, khí phách anh hùng; có cái tâm trong sáng, tấm lòng tha thiết giữ gìn thiên lương lành vững cho con người). Bộc lộ lí tưởng của nhà văn cũng như toàn bộ nội dung chủ đề của tác phẩm: cái đẹp phải là sự chung đúc, hội tụ của tài hoa, khí phách, thiên lương, cái đẹp ấy sẽ được sinh ra, tồn tại và bất tử ngay tại nơi cái xấu tồn tại. Toàn bộ câu chuyện xoay quanh việc xin chữ, cho chữ.

Chữ người tử tù đạt đến sự toàn bích của nghệ thuật ngôn từ. Thành công trước hết của tác phẩm đó là tình huống truyện đảo ngược, bát ngờ, hết sức thú vị. Tình huống truyện ở đây là mối quan hệ đặc biệt éo le giữa những tâm hồn tri kỉ (Huấn Cao, viên quản ngục và thầy thơ lại). Tác giả đặt họ trong tình thế đối địch: tử tù và viên quản ngục.

Huấn Cao tỏ thái độ hiên ngang, bất khuất khi tin tưởng viên quản ngục chỉ là viên quản ngục (tàn bạo, độc ác, ỷ thế, cậy quyền). Nhưng khi biết quản ngục chỉ là áo khoác phủ ngoài của một tâm hồn đẹp thì ông liền đổi hẳn thái độ. Cũng nhờ tình huống ấy mà viên quản ngục mới càng tỏ rõ là một tâm hồn biết trọng cái tài, cái đẹp, cái “thiên lương”, bất chấp luật pháp và trách nhiệm quản ngục, hết lòng biệt đãi Huấn Cao dù lúc đầu bị ông ta khinh bỉ.

Xây dựng tình huống truyện ấy có tác dụng làm tính cách của mỗi nhân vật mỗi lúc thêm đầy đủ, rõ nét và trọn vẹn hơn. Từ tình huống truyện này mà Huấn Cao đã hiểu thêm về viên quản ngục. cũng từ đó, quản ngục đã trút bỏ con người bên ngoài, con người công cụ để trở về với con người thật của mình.

Tình huống truyện đã tạo nên kịch tính cho thiên truyện. Chữ người tử tù là một chuỗi những xung đột. Đó là mâu thuẫn giữa quản ngục và viên thơ lại cùng đám lính, giữa quản ngục và Huấn Cao…có thể nói Chữ người tử tù mở ra bằng mâu thuẫn, xung đột, cuối cùng cũng khép lại bằng mâu thuẫn, xung đột.

  • Kết bài:

Trong truyện ngắn Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã khắc hoạ thành công hình tượng Huấn Cao – một con người tài hoa, có cái tâm trong sáng và khí phách hiên ngang, bất khuất. Qua đó nhà văn thể hiện quan niệm về cái đẹp khẳng định sự bất tử của cái đẹp và bộc lộ thầm kín tấm lòng yêu nước. Tác phẩm thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong việc tạo dựng tình huống truyện độc đáo; trong nghệ thuật dựng cảnh khắc hoạ tính cách nhân vật, tạo không khí cổ kính, trang trọng, trong việc sử dụng thủ pháp đối lập và ngôn ngữ giàu tính tạo hình.

Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

28 Trackbacks / Pingbacks

  1. Những đặc trưng cơ bản trong tác phẩm của Nguyễn Tuân - Thế Kỉ
  2. Giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp văn chương của nhà văn Nguyễn Tuân - Thế Kỉ
  3. Phân tích truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu - Theki.vn
  4. Phân tích truyện ngắn Chữ Người Tử tù của Nguyễn Tuân - Theki.vn
  5. Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân - Theki.vn
  6. Phân tích nghệ thuật tạo không khí cổ xưa cho tác phẩm trong Chữ người tử tù - Theki.vn
  7. Phân tích vẻ đẹp ngôn ngữ trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân - Theki.vn
  8. Câu hỏi ôn tập truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân - Theki.vn
  9. Soạn bài: Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) - Theki.vn
  10. Hãy phân tích cảnh cho chữ trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân để làm rõ quan niệm của tác giả về sức mạnh của cái đẹp - Theki.vn
  11. Hình ảnh con người nghệ sĩ tài hoa trong "Chữ người tử tù" - Theki.vn
  12. Phân tích những giá trị tư tưởng trong Truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân - Theki.vn
  13. Phân tích nhân vật viên quản ngục trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân - Theki.vn
  14. Phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân - Theki.vn
  15. Phân tích hình tượng viên quản ngục trong Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân - Theki.vn
  16. Chứng minh Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân là Sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái cao thượng đối với cái thấp hèn, của cái đẹp với cái xấu xa - Theki.vn
  17. So sánh vẻ đẹp ngôn từ trong Chữ Người tử tù và Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân - Theki.vn
  18. Dàn bài: so sánh vẻ đẹp hình tượng Tnú (Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành) và Huấn Cao (Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân) - Theki.vn
  19. Nghệ thuật khá họa nhân vật trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân - Theki.vn
  20. Giới thiệu nhà văn Nguyễn Tuân và hoàn cảnh ra đời của Chữ người tử tù - Theki.vn
  21. So sánh nghệ thuật sử dụng ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ - Theki.vn
  22. Phân tích bút pháp lãng mạn của Nguyễn Tuân trong "Chữ người tử tù" - Theki.vn
  23. Bút pháp lãng mạn trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân. - Theki.vn
  24. So sánh kết thúc truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân và Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài của Nguyễn Huy Tưởng - Theki.vn
  25. (Bài 7). Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học (Ngữ văn 10, Kết Nối Tri Thức) - Theki.vn
  26. Ôn tập học kì 1: Nghị luận tác phẩm văn học; Nghị luận về một vấn đề trong đời sống. (Ngữ văn 10, Kết Nối Tri Thức) - Theki.vn
  27. Bài 1. Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện (Ngữ văn 10, Kết Nối Tri Thức) - Theki.vn
  28. Làm rõ đặc điểm văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 -1945 qua Hai đứa trẻ của Thạch Lam và Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân - Theki.vn

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.