Cảm nhận truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen (dưới góc độ thi pháp)

phan-tich-truyen-ngan-co-be-ban-diem-cua-an-dec-xen-duoi-goc-do-thi-phap

Cảm nhận truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen (dưới góc độ thi pháp)

Sức hấp dẫn của truyện Cô bé bán diêm có nguyên do từ nghệ thuật kể chuyện. Tuy dung lượng khá ngắn, nhưng Cô bé bán diêm lại chứa đựng giá trị nội dung sâu sắc và thẩm mỹ độc đáo. Truyện lấy đối tượng miêu tả là thiếu niên nhưng vấn đề tư tưởng của truyện đã vượt ra ngoài phạm vi ranh giới chỉ của thiếu niên và mang tính nhân loại phổ quát cho nhiều loại đối tượng độc giả. Truyện ngắn gọn, xinh xắn như một bức tranh, hàm chưa giá trị nhân văn sâu sắc.

Sự độc đáo trong nghệ thuật kể chuyện được thể hiện ở chỗ nhà văn đã hóa thân vào lứa tuổi thiến niên, và đặc biệt là cảnh ngộ đặc thù của nhân vật cô bé bán diêm để kể chuyện. Do vậy, chất hiện thực cụ thể, chi tiết và chân xác được phối kết nhuần nhị, tự nhiên và hợp lý với chất huyền ảo. Thực tế và mộng ảo đều được thể hiện trong cảm nghĩ, liên tưởng, ước muốn, thèm khát của cô bé mồ côi, suốt cả một ngày dài hôm ấy phải nhịn đói, đi bán diêm nhưng chưa bán được bao diêm nào. Thế nên cô bé không dám về nhà vì sợ cha đánh mắng, đành phải chịu đựng cái giá rét kinh khủng của đêm giao thừa nơi phố vắng.

Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật được sáng tạo phù hợp và tương tác với nhau làm bật nổi những đặc trưng tư tưởng và thẩm mỹ của câu chuyện. Về không gian, có một số điểm tiêu biểu, ấn tượng.

Một là, không gian khắc nghiệt, quạnh vắng: Rét dữ dội, tuyết rơi. Trời đã tối hẳn. Hoặc là: Em cố kiếm một nơi có nhiều người qua lại. Nhưng trời rét quá, khách qua đường đều rảo bước rất nhanh, chẳng ai đoái hoài đến lời chào hàng của em…

Hai là, không gian tương phản với nhiều phân cảnh trái ngược. Đó là sự trái ngược giữa hoàn cảnh hiện tại của cô bé bán diêm với hoàn cảnh của em ngày xưa khi bà nội hiền hậu của em còn sống và em được ở trong một ngôi nhà xinh xắn có dây trường xuân bao quanh: Em tưởng nhớ lại năm xưa, khi bà nội hiền hậu của em còn sống, em cũng được đón giao thừa ở nhà. Nhưng thần chết đã đến cướp bà em đi mất, gia sản tiêu tán, và gia đình em đã phải lìa ngôi nhà xinh xắn có dây trường xuân bao quanh, nơi em đã sống những ngày đầm ấm, để đến chui rúc trong một xó tối tăm, luôn luôn nghe những lời mắng nhiếc, chửi rủa.

Mặt khác, là sự trái ngược giữa hoàn cành bi thương hiện tại của em với cảnh đón giao thừa ấm áp, no đủ, sung sướng của người giàu sang. Trong khi với mọi nhà, mọi người thì Cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay, còn với riêng em thì đầu trần, chân đi đất, bụng đói, đang dò dẫm trong bóng tối. Khi đã quá đói, rét và mệt, Em ngồi nép trong một góc tường, giữa hai ngôi nhà, một cái xây lùi vào chút ít. Em thu đôi chân vào người, nhưng mỗi lúc em càng thấy rét buốt hơn.

Sự tương phản của các mảng không gian còn được thể hiện giữa không gian hiện thực phũ phàng của cô bé trong đêm giao thừa đi bán diêm với không gian huyền ảo mà mỗi lần khi que diêm được đốt cháy đã tạo nên trong cảm nhận của em. Cảnh hiện thực buồn không chỉ vì tình trạng đói, rét, lo sợ về nhà sẽ bị cha mắng của cô bé mà còn với cả điều kiện sống khốn khổ của cả gia đình cô: Cha con em ở trên gác sát mái nhà, và mặc dầu đã nhét giẻ rách vào các kẽ hở lớn trên vách, gió vẫn thổi rít vào trong nhà. Còn cảnh khi các que diêm được đốt lên tạo nên rất diệu kỳ, ấp áp, hạnh phúc: Ngọn lửa lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt. Những cảm giác đó tăng dần, và có thêm những cảnh diệu kỳ mới: Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay. Nhưng điều kỳ diệu nhất là ngỗng ta nhảy ra khỏi đĩa và mang cả dao ăn, phuốc-sét cắm trên lưng, tiến về phía em bé (khi que diêm thứ hai cháy lên); Bỗng em thấy hiện ra một cây thông Nô-en (…).

Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong các tủ hàng hiện ra trước mắt em bé. Em với đôi tay về phía cây… Nhưng diêm tắt. Tất cả các ngọn nến bay lên, bay lên mãi rồi biến thành những ngôi sao trên trời (khi que diêm thứ ba cháy lên). Đến lần quẹt que diêm thứ tư thì em gặp bà em, người hiền hậu độc nhất đối với em: Em bé nhìn thấy rõ ràng bà em đang mỉm cười với em. Em thấy vô cùng hạnh phúc, xin bà theo: Cháu van bà, bà xin Thượng Đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu.

Khi que diêm tắt thì ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt em bé cũng biến mất. Em đã cuống quít quẹt lần thứ 5 tất cả những que diêm còn lại trong bao, và em đã gặp lại bà lần nữa: Bà cụ cầm lấy tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét đau buồn nào đe dọa họ nữa. Họ đã về chầu Thượng Đế. Cảnh thực và mộng được đan cài nhau, khi diêm được đốt sáng lên thì cảnh ảo hiển lộ, khi diêm tắt thì cảnh thực thống lĩnh. Đặc biệt, giá trị và ý nghĩa của cảnh thứ nhất tăng dần lên theo số lần cô bé quẹt diêm sang lên: từ sưởi ấm (lần 1), đến món ăn ngon (lần hai) là những nhu cầu theo ước vọng về vật chất; tới lần thứ ba với cây thông Nô-em, những ngọn nến…, là vừa vật chất và vừa tinh thần; khi tới lần thứ 4 và thứ 5, em bé được gặp bà, bay cùng bà về trời chầu Thượng Đế trong hạnh phúc vĩnh hằng, thoát khỏi mọi khổ đau, đói rét nơi trần thế thì thuần toàn là tình cảm, tinh thần yêu thương như nhu cầu tối thượng và quan trọng nhất đối với em bé bán diêm, mà cũng là với nhân loại.

Về thời gian nghệ thuật, câu chuyện dồn nén sự kiện chính diễn ra chỉ trong một đêm giao thừa. Việc chọn đêm giao thừa làm khung thời gian cho các biến cố của chuyện là dụng ý nghệ thuật của tác giả, có tác dụng tạo ấn tượng mạnh với đối tượng miêu tả và người tiếp nhận văn bản. Bởi vì, đêm giao thừa là đêm thiêng liêng, đêm giao thừa là đêm hạnh phúc của mọi người, nhưng trong thời gian đó, chỉ riêng một cô bé bán diêm tội nghiệp mồ côi, đói rét, lạc lõng, bơ vơ và trơ trọi một mình trên cái nền của không gian rét buốt và thực sự không chốn nương thân.

Thời gian và không gian nghệ thuật liên kết, tương tác và tất cả tạo thành một áp lực nghiệt ngã và năng nề trút xuống đôi vai mỏng manh, đôi bàn chân trần run rẩy của một mình cô bé. Thời gian và không gian đó là những nhân
tố góp phần tạo nên hành vi đốt diêm để sưởi, và đặc biệt là nguyên nhân tạo tác những bức tranh mộng tưởng của cô bé bán diêm sau những lần que diêm được em đốt cháy sáng lên.

Thi pháp xây dựng nhân vật của truyện cũng rất độc đáo, tạo ấn tượng và sự ám ảnh đối với người tiếp nhận. Nhân vật được thể hiện thông qua hai điểm nhìn chính.

Một là điểm nhìn vào chính chủ thể thẩm mỹ, bao gồm hình thức bên ngoài với những chi tiết cụ thể, chân thực như trang phục, áo quần, nhất là đôi giày…; và nội tâm bên trong với các đặc điểm như cô đơn, khát thèm mái ấm gia đình và tình thương, ám ánh và sợ hãi bạo lực, không tìm thấy bất cứ nơi chốn nương tựa, đi về nào ở chốn trần gian, ước mơ theo người bà về với Thượng Đế. Đó là cách thức tác giả miêu tả tâm lý nhân vật cô bé từ các bức tranh mộng tưởng và những hình ảnh trong trí liên tưởng của cô bé qua những lần diêm được quẹt sáng lên.

Hai là, điểm nhìn chủ thể trong mối quan hệ với bối cảnh, với không gian, thời gian. Các điểm nhìn tạo nên sự toàn vẹn của nhân vật được thể hiện, nhân vật được nhìn ở nhiều chiều kích, góc độ thẩm mỹ.

Những hình thức của quan niệm, cái nhìn nghệ thuật cũng như việc triển khai xây dựng nhân vật trên nền của không gian và thời gian như thế hàm chưa giá trị tư tưởng và thẩm mỹ sâu sắc. Trước hết là giá trị nhân đạo với lòng thương yêu, thấu hiểu, trân quí và nâng niu con người. Đồng thời cũng là lời phê phán, lên án xã hội bất công, thái độ vô cảm của người đời. Điều này được bao hàm, tiềm ẩn trong toàn bộ xu hướng tư tưởng của truyện, và đặc biệt được thể hiện trong những tình tiết tương phản ở cuối truyện. Đó là, trong khi buổi sáng đầu tiên của năm mới sau đêm giao thừa, mọi người vui vẻ ra khỏi nhà, thì với riêng em bé, em đã chết vì giá rét trong đêm giao thừa. Đặc biệt, riêng với em, em đã chết trong hạnh phúc với đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười, bởi em đã được gặp người bà thân yêu, được cùng bà bay về bên Thượng Đế, nghĩa là em cũng như bà của em, đã thoát khỏi cảnh sống phàm trần bởi chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa họ nữa. Nhưng chính màu hồng trên má em, ánh sáng từ đôi môi đang mỉm cười của em là một sự phủ nhận xã hội, lên án xã hội.

Bài viết liên quan:

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.