Đọc – hiểu văn bản: “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” của Hồ Chí Minh

van-ban-tinh-than-yeu-nuoc-cua-nhan-dan-ta-cua-ho-chi-minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc của Người tại căn cứ địa Việt Bắc (1951)

I. TÌM HIỂU CHUNG:

1. Tác giả, tác phẩm: (sgk)

II. TÌM HIỂU VĂN BẢN:

Với giọng văn liền mạch, dồn dập, khẩn trương: lí lẽ giản dị, chủ yếu là dẫn chứng và biện pháp so sánh phù hợp, bài văn đã làm sáng tỏ truyền thống yêu nước nồng nàn của dân tộc ta.

– Luận điểm nhỏ 1: Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta.
– Luận điểm nhỏ 2: Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước.

Để chứng minh cho nhận định: “Dân ta có … của ta, “tác giả đã đưa ra những dẫn chứng nào?

– Khi xưa có nhiều vị anh hùng đân tộc …
– Ngày nay toàn dân ta đang góp sức người, sức của vào … sản xuất.

Đoạn văn này được trình bày theo cách nào?

(Quá khứ => hiện tại)

Tại sao tác giả chỉ nêu tên một số anh hùng dân tộc nổi tiếng mà không dẫn chứng cụ thể hơn cho từng người?

– Nêu lên có tính chất liệt kê. Tác giả không dẫn chứng cụ thể vì muốn dành cho giai đoạn sau, thực tế trước mắt. Hơn nữa, các vị anh hùng đó đều đã được nhân dân ta biết đến, rất quen thuộc với chúng ta nên không cần nhắc lại. Chính cách nêu này tạo cho người nghe cảm xúc tự hào, phấn chấn.

Đọc đoạn “Đồng bào ta … đến hết”

Hệ thống lập luận và dẫn chứng của đoạn này có gì đặc sắc?

– Đoạn văn gồm có 5 câu liên kết chặt chẽ, mạch lạc:
– Câu 1: So sánh từng cặp, từng vế, có tác dụng chuyển ý và đoạn rất gọn, khéo, vừa nêu được ý khái quát của đoạn.
– Câu 2,3,4 khá dài, câu 5 khát quát đánh giá chung.
– Cách nêu dẫn chứng trong đoạn này xếp theo quan hệ lứa tuổi (già – trẻ), từ xa à gần (kiều bào ở ước ngoài à đồng bào ở vùng tạm bị chiếm à từ nhân dân miền ngược à đến miền xuôi), quan hệ từ hậu phương à tiền tuyến.

Cặp quan hệ từ “từ … đến” lặp lại với tác dụng gì?

– Nối các sự việc và con người chặt chẽ thêm, thể hiện sự đồng tâm nhất trí, thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Em có nhận xét gì về giọng văn, lí lẽ, lập luận của đoạn văn này?

– Giọng văn liền mạch, dồn dập, khẩn trương nhưng bình tĩnh, tự tin.
– Lí lẽ, lập luận giản dị, chủ yếu là dẫn chứng. Đoạn văn thuyết phục được người đọc.

Bác Hồ đã so sánh tinh thần yêu nước của nhân dân ta với cái gì và đặt ra nhiệm vụ gì?

– So sánh tình yêu nước như là các thứ của quý. Nhiệm vụ của Đảng, chúng ta là cần phải chú ý đến cái được giấu kín để phát huy tinh thần yêu nước của tất cả mọi người.

*  Cách kết thúc vấn đề tự nhiên, giản dị, cụ thể và thuyết phục.

Nêu giá trị nội dung, nghệ thuật của bài?

Ghi nhớ Sgk/27.

II. Luyện tập.

Câu 1: Văn bản Tinh thẩn yêu nước của nhân dân ta ra đời trong thời kỳ nào?
Câu 2: Văn bản đề cập đến tinh thần yêu nước của nhân dân ta ở những mặt nào?
Câu 3: Trong văn bản, tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào? Việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật ấy đem lại hiệu quả gì cho diễn đạt?
Câu 4: Em có nhận xét gì khi tác giả sử dụng liên tiếp ba cụm từ: kết thành, lướt qua, nhấn chìm trong cùng một câu văn?
Câu 5: Trong vãn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, tác giả đă trình bày dẫn chứng theo trình tự nào? Cách triển khai dẫn chúng theo trình tự ấy có tác dụng gì?
Câu 6: Để làm rõ tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong thời kỳ ngày nay, tác giả đã sử dụng những phép nghệ thuật nào để trình bày dẫn chúng ? Các phép nghê thuật này có hiệu quả như thế nào đối với việc diễn đạt?
Câu 7: Hãy tìm một sô’ hình ảnh so sánh được tác giả sử dụng trong văn bản? Em thích nhất hình ảnh nào? Vì sao?
Câu 8: Hãy nêu một số nét đặc sắc về nghệ thuật nghị luận của bài vãn?
Câu 9: Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 8-10 câu) trong dó có sử dụng phép liệt kê theo mô hình từ…đến.
Câu 10: Hãy sưu tầm một số bài thơ, bài văn nói lên lòng yêu quê hương, đất nước.

Giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh (19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969) là lãnh tụ vĩ đại được nhân dân Việt Nam và cả thế giới luôn nhắc đến với một niềm kính trọng sâu xa. Bác là nhà lãnh đạo được nhiều người ngưỡng mộ và tôn sùng, lăng của Bác được xây ở Hà Nội, nhiều tượng dài củạ Bác được đặt ở khắp mọi miền Việt Nam, hình ảnh của Bác được nhiều người dân treo trong nhà, đặt trên bàn thờ. Bác là một nhà cách mạng, một trong những người dặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam. Bác là người viết và đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, là Chủ tịch nước trong thời gian 1945 — 1969… Bác còn là một nhà văn, nhà thơ và nhà báo với nhiều tác phẩm viết bằng cả tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Anh.

Xuất thân và quê quán: Bác tên thật là Nguyễn Sinh Cung, tự là Tất Thành. Quê nội là làng Kim Liên (tên Nôm là làng Sen). Bác được sinh ra ở quê ngoại là làng Hoàng Trù (tên Nôm là làng Chùa, nằm cách làng Sen khoảng 2 km). Hai làng này vốn cùng nằm trong xã Chung Cự, thuộc tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn. Quê nội của Bác, làng Kim Liên là một làng quê nghèo khó. Thân phụ Bác là một nhà nho tên là Nguyễn Sinh sắc, từng đỗ Phó Bảng. Thân mẫu là bà Hoàng Thị Loan. Bác có một người chị là Nguyễn Thị Thanh, một người anh là Nguyễn Sinh Khiêm (tự Tất Đạt, còn gọi là Cả Khiêm) và một người em trai mất sớm là Nguyễn Sinh Nhuận.

Tuổi trẻ của Bác Hồ: Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế và học ở trường tiểu học Pháp – Việt, Đông Ba. Tháng 9 năm 1907, Bác vào học tại trường Quốc học Huế, nhưng bị đuổi học vào cuối tháng 5 năm 1908 vì tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ. Đầu năm 1910, Nguyễn Tất Thành vào đến Phan Thiết. Bác dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ cho học sinh lớp Ba và Tư tại trường Dục Thanh của hội Liên Thành. Khoảng trước tháng 2 năm 1911, Bác nghỉ dạy và vào Sài Gòn. Bác quyết định sẽ tìm một công việc trên một con tàu viễn dương để được ra nước ngoài.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ bến Nhà Rồng, Bác lấy tên Văn Ba, lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp trên chiếc tàu buôn Đô Latouche – Tréville, với mong muôn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây. Sau khi ở Hoa Kỳ một năm (cuối 1912 – CUỐI 1913), Bác quay trở lại nước Anh làm nghề cào tuyết, đốt lò rồi phụ bếp cho khách sạn. Cuối năm 1917, Bác trỏ’ lại nước Pháp, sông và hoạt động ở đây cho đến năm 1923.

Ngày 19 tháng 6 năm 1919, thay mặt Hội những người An Nam yêu nước, Nguyễn Tất Thành đã mang tới Hội nghị Hòa bình Versailles bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm để kêu gọi lãnh đạo các nước Đồng Minh áp dụng lí tưởng của Tổng thông Wilson cho các lãnh thổ thuộc địa của Pháp ở Đông Nam Á. Từ đây, Nguyễn Tất Thành công khai nhận mình là Nguyễn Ái Quốc.

Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lenin, từ đó ông đi theo chủ nghĩa cộng sản. Bác tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại Tours (từ 25 đến 30 tháng 12 năm 1920) với tư cách là đại biểu Đông Dương của Đảng Xã hội Pháp, Bác trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và tách khỏi đảng Xã hội. Năm 1922, Bác cùng một số nhà cách mạng thuộc địa lập ra báo Le Paria (Người cùng khổ), làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, nhằm tô” cáo chính sách đàn áp, bóc lột của chủ nghĩa đê quốc nói chung và thực dân Pháp nói riêng. Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp bằng tiếng Pháp ( de la colonisation française) do Nguyễn Ái Quốc viết dược xuất bản năm 1925, đã tô” cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đâu tranh của các dân tộc thuộc địa.

Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Moskva học tập tại trường Đại học Phương Đông. Tại đây Bác đã dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân (họp từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 10 năm 1923), Bác được bầu vào Ban chấp hành và Đoàn Chủ tịch Quốc tê Nông dân. Tại Đại hội lần thứ 5 Quô”c tế Cộng sản (họp từ ngày 17 tháng 6 đến ngày 8 tháng 7 năm 1924), Bác được cử làm ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.
Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quô”c rời Liên Xô tới Quảng Châu, lây tên là Lý Thụy, làm phiên dịch trong phái đoàn cô vấn của chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, do Mikhail Markovich Borodin làm trưởng đoàn. Năm 1925, Bác thành lập tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội Quảng Châu (Trung Quốc) để truyền bá chủ nghĩa Marx – Lenin. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại Cửu Long thuộc Hương Cảng, Bác thông nhất ba tổ chức đảng cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đó đổi tên là “Đảng Cộng sản Đông Dương”, rồi đổi thành “Đảng Lao Động Việt Nam” và nay là “Đảng Cộng sản Việt Nam”).

Bác trở về Việt Nam vào ngày 28 tháng 1 năm 1941, ở tại hang Cốc Bó, bản Pác Bó, tỉnh Cao Bằng với bí danh Già Thu. Tháng 5 năm 1941, hội nghị mở rộng lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp ở Cao Bằng và quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh). Bác là chủ tọa. Ngày 13 tháng 8 năm 1942, Bác lây tên Hồ Chí Minh, sang Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Hoa Dân quốc. Bác bị chính quyền địa phương của Trung Hoa Dân quô”c bắt ngày 29 tháng 8, bị giam hơn một năm, trải qua khoảng 30 nhà tù. Bác viết Nhật trong tù trong thời gian này (từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943). Cuối tháng 9 năm 1944, Bác trở về Việt Nam. Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Đại hội quốc dân tại Tân Trào (Tuyên Quang), cử ra úy ban dân tộc giải phóng tức Chính phủ lâm thời, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch.

Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 trên quảng trường Ba Đình tại Hà Nội, tuyên bô” thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, tổng tuyển cử tự do trong cả nước được tổ chức, bầu ra Quốc hội và Quốc hội thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội khóa I của Việt Nam đã chỉ định Hồ Chí Minh đứng ra thành lập và làm Chủ tịch Chính phủ Liên hiệp kháng chiến.
Bác bắt đầu viết Di chúc vào dịp sinh nhật năm 1965, và sửa lại trong những dịp sinh nhật tiếp theo. Trong Di chúc, Bác có viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thông nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thê giới”. Bác qua đời vào hồi 9 giờ 47 phút sáng ngày 2 tháng 9 năm 1969, tức ngày 21 tháng 7 Âm lịch, hưởng thọ 79 tuổi.

Bác để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng: Bản án độ thực dân Pháp, Đường kách mệnh, Con rồng tre, Các truyện ngắn: Pari, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Con người biết mùi hun khói, Vi hành, Đoàn kết giai cấp, Con rùa, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu. Đặc biệt là tập thơ Nhật kí trong tù.

Bác được xem là một danh nhân không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn của thê giới. UNESCO đã tôn vinh Bác là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa và khuyến nghị các nước thành viên tổ chức kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Bác do “các đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật”, và Bác “đã dành cả cuộc đời mình cho sự giải phóng nhân dân Việt Nam, dóng góp cho cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của các dân tộc trên thế giới”

Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà hoạt động cách mạng, Người còn là một nhà văn hóa kiệt xuất dược UNESCO vinh danh. Điểm đặc biệt là, dù không chủ tâm làm văn chương, toàn bộ tâm trí Người dành cho sự nghiệp đâu tranh giành độc lập, tự do cho nhân dân Việt Nam và nhân loại cần lao, song cũng như nhiều anh hùng dân tộc trong lịch sử, Hồ Chí Minh “trong khi đuổi giặc vẫn làm thơ”. Tác phẩm thơ nổi bật nhất của Người chính là Nhật kí trong tù.

Nhật kí trong tù

Nhật kí trong tù (Ngục trung nhật kí) là một tập thơ của Hồ Chí Minh, viết từ ngày 8 năm 1942 đến năm 1943. Tháng 8 năm 1942, với danh nghĩa là đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ của quốc tế. Sau nửa tháng đi bộ, khi vừa đến Túc Vinh, Quảng Tây, Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ và giải đi khắp 30 nhà giam ở 13 huyện của tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

Trong suốt những tháng ở tù (từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943), tuy bị đày ải vô cùng cực khổ, Hồ Chí Minh vẫn làm thơ. Người đã sáng tác 133 bài thơ bằng chữ Hán, ghi trong một cuốn số tay mà Người đặt tên là Ngục trung nhật kí,phần lớn là thơ tứ tuyệt.

Nhật kí trong tù là một cuốn sổ nhật kí, ghi lại những sự việc, những cảm nhận, nỗi bất bình, tâm tư bị oan ức, ý chí rèn luyện, tinh thần vượt qua mọi khó khăn, niềm hi vọng vào tương lai,… của Hồ Chí Minh những lúc nhàn rỗi cho khuây khoả lòng, chứ đó không phải là chủ đích sáng tác của Người.

Tập thơ phản ánh chân thực bộ mặt xấu xa, đen tôi của chê độ nhà tù cũng như xã hội Trung Quốc dưới thời Tưởng Giới Thạch. Là một tập nhật kí, nhưng là nhật kí bằng thơ độc đáo “có một không hai” viết trong tù ngục, đã ghi chép hết sức tỉ mỉ, chi tiết như một cuốn phim tài liệu về những điều mắt thấy tai nghe hằng ngày trong nhà lao, trên đường đi đày từ nhà giam này đến nhà giam khác,… tái hiện lên bộ mặt đen tối của nhà tù Quốc Dân đảng Tưởng Giới Thạch: mười ba tháng bị đày ải trong nhà ngục đến nỗi “răng rụng mất mấy chiếc”, tóc bạc, mắt mờ, đứng không vững,…

Tập thơ thể hiện tâm hồn phong phú, cao đẹp của người tù vĩ đại. về phương diện này, có thể coi Nhật kí trong tù như một bức chân dung tư họa con người tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhật trong tù thê hiện nhât quán tư tưởng Hồ Chí Minh: dùng văn chương làm vũ khí để chiến đấu chông kẻ thù, đó là “Nay trong thơ nên có thép, Nhà thơ cũng phải biết xung phong”…

Chân dung Hồ Chí Minh trong tập thơ là hình ảnh nhà ái quốc vĩ đại có dũng khí lớn, lúc nào cũng nóng lòng sốt ruột hướng về Tổ quốc, khát khao tự do, là chiến sĩ cộng sản kiên cường bất khuất. Ấy là một tấm gương nghị lực phi thường, một bản lĩnh thép vĩ đại không gì có thể lung lạc được: “Thân thể ở trong lao – Tinh thần ở ngoài lao…”. Ấy là con người có thể vượt lên rất cao trên mọi đau khổ về thể xác, tâm hồn luôn ung dung thanh thoát, thậm chí trẻ trung tươi tắn trong mọi tình huống “Mà như khanh tướng vẻ ung dung”. Ấy là tâm hồn khao khát tự do của Người “Đau khổ chi bằng mất tự do”.

Chân dung Hồ Chí Minh còn là hình ảnh bậc đại nhân có tình thương yêu bao la, tình cảm nhân đạo, thấu hiểu cảnh ngộ của mọi kiếp người, nhạy cảm với niềm vui, nỗi đau của con người. Lòng thương yêu con người của Bác là tinh thần nhân đạo cộng sản, đó là tinh thần nhân đạo mới mẻ mà Bác mang lại cho dân tộc và nhân loại. Tố Hữu nhận xét: “Bấy lâu người ta chỉ hiểu người chiến sĩ cách mạng là thép ở mũi nhọn chiến đấu. Trong tập thơ này ta hiểu rõ thêm người cộng sản là tình. Tình ở đây là tình yêu thương đất nước, cuộc sông và con người. Chủ yếu ở đây chúng ta tìm hiểu, khai thác tình cảm với con người”. Trong tù Bác cũng chịu khổ ải như bất kì tù nhân nào. Dù Bác đã già, bị tù trong hoàn cảnh cô độc, nhưng Người dã quên đi nỗi đau của riêng mình mà đem lòng thương yêu những người bạn tù mà Bác gọi là nạn hữu. Bác diễn tả nỗi lòng thương yêu của mình đối với vợ chồng người bạn tù. Trên con đường giải tù, nhìn thấy người phu làm đường cực khổ dưới nắng mưa, Bác động lòng thương. Vào nhà lao Tân Dương nghe tiếng khóc của một đứa trẻ, Bác vô cùng xúc động.

Tâm hồn Hồ Chí Minh còn nhạy cảm với thiên nhiên. Hồ Chí Minh dành cho thiên nhiên một tấm lòng ưu ái đúng như giáo sư Đặng Thai Mai đã nhận xét: “Trong Nhật kí trong tù, thiên nhiên chiếm một địa vị danh dự”. Mặc dù thân thể bị giam cầm trong ngục tôi nhưng trái tim nhạy cảm của Bác vẫn dễ dàng rung động trước một ánh nắng mai rọi chiếu nơi cửa ngục âm u “Ánh hồng trước mặt đã bừng soi” (Buổi sớm), hoặc giao cảm chan hòa với đêm trăng đẹp “Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ” ( Ngắm trăng). Thiên nhiên trong Nhật kí trong tù đẹp đẽ và ấm áp tình người. Nó thực sự trở thành nguồn động viên, an ủi to lớn đôi với người tù đặc biệt Hồ Chí Minh “Vui say ai cấm ta đừng, Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu” (Trên đường đi).

Ngôn ngữ tập thơ Nhật kí trong tù được viết bằng chữ Hán, một thứ chữ hàm súc về ý nghĩa để sáng tác thơ là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, có lúc Người cũng phá cách diễn đạt thông thường của chữ Hán. Bài Cháu bé trong nhà lao Tân Dương, câu thơ đầu trong nguyên tác được viết bằng tiếng Việt: “Oa…! Oa…! Oa…!”, về thể loại, tất cả các bài thơ trong tập thơ Nhật kí trong tù được sáng tác theo thể thơ Đường luật gồm thế thơ thất ngôn hoặc ngũ ngôn, tứ tuyệt hoặc bát cú và thơ cổ phong. Tuy nhiên trong tập thơ, có hai bài thơ phá thể. Đó là bài “Cháu bé trong nhà lao Tân Dương”. Một trường hợp khác là bài “Giải đi Vũ Minh”, về cách cấu tứ, cũng như thơ Đường, trong Nhật kí trong tù, cái tôi trữ tình của tác giả thường hòa lẫn vào ngoại cảnh.

Đọc bài thơ Chiều người đọc hầu như không thấy tác giả. về cách biểu hiện, trong thơ Đường nói riêng và trong thơ ca cổ điển phương Đông nói chung, ba yếu tố thơ, nhạc, họa thường hòa quyện làm một. Nó làm cho bài thơ nhỏ có một sức chứa lớn, có âm vang nhiều chiều. Sự quấn quyện giữa thơ, nhạc, họa được thế hiện trong bài Người bạn tù thổi sáo. Các bài thơ Đường thường có cấu trúc gọn, nhẹ, cô đúc, ngôn ngữ gợi nhiều hơn tả, ý ở ngoài lời (Mới ra tù, tập leo núi). Cũng như thơ Đường, Hồ Chí Minh không tả mà gợi. Nhân vật trữ tình như hòa lẫn vào trong cảnh, mang cốt cách của một nhà hiền triết, nhìn cảnh vật từ trên cao, từ xa, bao quát cả một vùng không gian rộng lớn. Văn chương có con đường giao tiếp riêng của nó. Đó là sự cộng hưởng giữa những tâm hồn. Nhật kí trong tù chung đúc văn hóa kim cổ Đông Tây trong tâm hồn Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không đi lại lối mòn của người xưa. Thái độ đó đã được nói rõ trong bài thơ “Cảm tưởng đọc thiên gia thi”. Trong sự ảnh hưởng và kê thừa đó, Hồ Chí Minh có sự cách tân. Sự cách tân tạo nên một kiểu tư duy thẩm mĩ mới, để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc.

Tác phẩm Nhật kí trong tù đã được xuất bản nhiều lần, được dịch và giới thiệu ở nhiều nước trên thế giới, nhiều lần được thể hiện bằng thư pháp tiếng Việt, Hán, Triều Tiên, Nhật,… Không chỉ các tác giả Việt Nam và phương Tây mà ngay chính các nhân vật của Trung Quốc – quê hương của thơ chữ Hán – như Quách Mạt Nhược, Viên Ưng, Hoàng Tranh đều ca ngợi tập thơ này. Nhật kí trong tù là một tác phẩm văn học vô giá của Hồ Chí Minh, khi công bô đã gây tiếng vang lớn trên văn đàn quốc tế, đã chinh phục người đọc bởi những cảm xúc chân thật, chất phác, điềm đạm của một người chiến sĩ cộng sản, một nhà văn hoá lớn. Nhà thơ Xuân Diệu thì khẳng định rằng: “Nhật kí trong tù đứng vô song trong văn học nước ta, vì nó là những tiếng tâm hồn của Hồ Chủ tịch”. Không chỉ có thê Jean Lacouture nhận định: “Nhân cách, học vấn và số phận kì lạ của Cụ Hồ được thể hiện một cách khác thường trong các bài thơ ấy”.

Nhật kí trong tù phản ánh tâm hồn đại trí, đại nhân, đại dũng của một nhà cách mạng đã vượt lên mọi sự đày ải của kẻ thù, vượt qua mọi thử thách, giữ vững khí phách kiên cường, tinh thần lạc quan và lòng nhân ái vô song của một nhà cách mạng đốì với nhân loại đau thương, bất kể họ là ai, nguồn gốc thế nào. Hình ảnh Hồ Chí Minh toả sáng từ vẻ đẹp của những bài thơ, bởi một tâm hồn thơ, bởi sự kiên trung trong ý chí, tinh thần lạc quan cách mạng, tinh thần nhân đạo, lòng yêu nước, yêu thương con người vô bờ bến của người cộng sản Hồ Chí Minh. Chính vì thế Nhật kí trong tù xứng đáng là viên ngọc quý trong kho tàng văn học Việt Nam và trên thế giới.

Bài viết cùng chủ đề:

Đánh giá bài viết:

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị tiết lộ.