Truyền kì mạn lục phản ánh số phận con người, chủ yếu là số phận mang tính chất bi kịch của người phụ nữ

truyen-ki-man-luc-phan-anh-so-phan-con-nguoi-chu-yeu-la-so-phan-mang-tinh-chat-bi-kich-cua-nguoi-phu-nu

Trong cuốn Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam, GS. Nguyễn Đăng Na nhận xét: “Nguyễn Dữ đã đi xa hơn một bước trong Truyền kì mạn lục: phản ánh số phận con người, chủ yếu là số phận mang tính chất bi kịch của người phụ nữ”.

Hãy làm sáng tỏ nhận định trên bằng những hiểu biết của em về Truyền kì mạn lục.


* Gợi ý làm bài:

1. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm
– Nêu vấn đề

2. Thân bài:

a. Khái quát về tác phẩm:

– Nếu khi phê phán, tố cáo hiện thực xã hội, Nguyễn Dữ chủ yếu đứng trên lập trường đạo đức thì khi phản ánh số phận con người, nhà văn lại xuất phát từ lập trường nhân bản. Về phương diện này, Truyền kì mạn lục chứa đựng nội dung nhân đạo sâu sắc.

– Truyền kì mạn lục phản ánh số phận con người chủ yếu qua số phận người phụ nữ. Chủ đề người phụ nữ trở thành chủ đề lớn, trung tâm của tác phẩm. Trong 20 truyện của Truyền kì mạn lục có tới 11 truyện viết về người phụ nữ, trong đó có 8 truyện người phụ nữ là nhân vật chính.

b. Giải thích, phân tích, chứng minh:

– Nhận định của Nguyễn Đăng Na đã nhấn mạnh tới một trong những nội dung quan trọng làm nên giá trị sâu sắc của tác phẩm Truyền kì mạn lục: đề tài người phụ nữ. Đây là đề tài quen thuộc trong văn học từ trước đến nay nhưng đến với Nguyễn Dữ lại có một sắc thái khác. Đề tài người phụ nữ trong sáng tác của ông đậm màu sắc của cảm hứng nhân đạo.

– Cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Dữ toát lên từ những trang văn trân trọng, khẳng định vẻ đẹp phẩm chất, tính cách của người phụ nữ. Nhiều nhân vật phụ nữ trong Truyền kì mạn lục là tấm gương thủy chung, tiết liệt. Vũ Thị Thiết “tính đã thùy mị, nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp”. Chồng đi lính, nàng “chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. Thương nhớ chồng trong những ngày xa cách, nàng thường hay đùa con, trỏ bóng mình mà bảo đó là cha của đứa trẻ. Nhưng rồi cuối cùng nàng phải chịu nỗi oan là người không đoan chính. Nàng đã quyên sinh bằng cái chết để khẳng định tấm lòng trong sạch của mình. Nhị Khanh trong Chuyện người nghĩa phụ Khoái Châu cũng là người thủy chung, tiết nghĩa. Nàng thủ tiết chờ chồng, không vì tiền bạc mà chấp thuận việc ép gả, không vì tiền bạc mà đi theo phú thương họ Đỗ, chọn cái chết để giữ mình trong sạch.

– Vũ Thị Thiết cũng như Nhị Khanh đều là những người phụ nữ đảm đang hiếu thảo. Người con gái Nam Xương thay chồng chăm sóc mẹ già, lo chu đáo cho mẹ già khi ốm đau, hậu sự. Người nghĩa phụ Khoái Châu thì chấp nhận cuộc sống đơn côi để khuyên chồng ra đi phụng dưỡng cha già.

– Tuy nhiên, trong Truyền kì mạn lục, người phụ nữ không chỉ là hiện thân của vẻ đẹp mà còn là hiện thân của bi kịch. Họ đều là những tấm gương oan khổ. Vũ Thị Thiết, Nhị Khanh là tấm gương oan khổ về bi kịch gia đình, bi kịch của lòng chung thủy. Tấm gương oan khổ về bi kịch tình yêu tan vỡ là nàng Túy Tiêu (Chuyện nàng Túy Tiêu), Lệ Nương (Chuyện Lệ Nương). Oan khổ trong bi kịch bị chà đạp lên nhân phẩm, số phận là Nhị Khanh (Người nghĩa phụ Khoái Châu), Đào Hàn Than (Chuyện nghiệp oan của Đào Thị), Thị Nghi (Chuyện yêu quái ở Xương Giang). Là con người bằng xương bằng thịt hay ma quái hiện hình thì họ đều mang một kết cục bi thảm, nhiều khi đến khốc liệt. Có người được giải oan (Vũ Thị Thiết, Nhị Khanh), có kẻ còn ngậm oan (Thị Nghi, Đào Hàn Than) nhưng bi kịch là con đường vạch sẵn cho số phận người phụ nữ.

– Không chỉ đồng cảm với những nỗi đau của những người phụ nữ mà tác giả Nguyễn Dữ còn đồng cảm với những ước mơ, khát vọng giải phóng con người, khát vọng giải phóng người phụ nữ:

+ Khát vọng hạnh phúc gia đình
+ Khát vọng giải phóng tình cảm bản năng

– Nguyễn Dữ cũng đã vạch rõ những thế lực tàn bạo chà đạp lên người phụ nữ: xã hội phong kiến, chế độ thần quyền, nam quyền, thế lực đồng tiền

c. Bình luận, mở rộng:

– Đề tài người phụ nữ- điểm gặp của văn học mọi thời đại
– Điểm riêng trong phản ánh của Nguyễn Dữ, đặt trong mạch phát triển của văn học trung đại Việt Nam

3. Kết bài:

– Khẳng định lại vấn đề
– Giá trị và sức sống của tác phẩm.


Bài tham khảo:

Giáo sư Đinh Gia Khánh trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam đã viết: “Truyền kì mạn lục tuy có vẻ ngoài là những tryện kỳ lạ xảy ra hàng nghìn năm về trước nhưng thực chất lại phản ánh được những phần sâu sắc của hiện thực đương thời”. Bằng hiểu biết về Truyền kì mạn lục, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.


* Gợi ý làm bài

1. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm Truyền kì mạn lục

– Nêu vấn đề: “Truyền kì mạn lục tuy có vẻ ngoài là những tryện kỳ lạ xảy ra hàng nghìn năm về trước nhưng thực chất lại phản ánh được những phần sâu sắc của hiện thực đương thời”
2. Thân bài:

a. Khái quát về Truyền kì mạn lục:

Truyền kì mạn lục là tác phẩm viết bằng chữ Hán, gồm 20 truyện của tác giả Nguyễn Dữ
Truyền kì mạn lục là sự ghi chép một cách rộng rãi (mạn lục) những truyện lạ lưu truyền ở đời (truyền kì). Vì vậy trong tác phẩm này có nhiều yếu tố kì ảo. Tuy nhiên kì ảo là bút pháp nghệ thuật hơn là thế giới quan của Nguyễn Dữ. Nhà văn mượn yếu tố kì ảo để phản ánh hiện thực.

b. Giải thích, phân tích, chứng minh nhận định:

– Nhận định của GS Đinh Gia Khánh đã nêu bật được một phương diện nội dung của Truyền kì mạn lục. Truyền kì mạn lục “có vẻ ngoài là những truyện kỳ lạ xảy ra hàng nghìn năm về trước” bởi trong số 20 truyện của tác phẩm, thời gian xảy ra đều được tác giả xác định cụ thể là thời Lý, thời Trần, Hồ, thuộc Minh và thời Lê sơ. Đó đều là những mốc thời gian trong quá khứ hết sức cụ thể, được tác giả gọi bằng năm hoặc bằng những tên nhân vật nổi tiếng của thời kì đó.

– Tuy nhiên nếu đọc Truyền kì mạn lục, bóc tách cái vỏ kì ảo sẽ thấy cái cốt lõi hiện thực, phủ đi lớp sương khói thời gian quá vãng sẽ thấy bộ mặt xã hội đương thời. Tác phẩm đã “phản ánh được những phần sâu sắc của xã hội đương thời”, phê phán những tệ lậu của chế độ phong kiến:

+ Đó là cảnh binh lửa rối ren gây nên bao đau khổ cho nhân dân. Gia đình li tán, nhân tài, vật lực bị tàn phá “phục dịch nhọc nhằn, anh nghỉ em đi, chồng về thì vợ đổi, ai nấy đều vai sưng, tay rách rất là khổ sở” (Chuyện Lý tướng quân). Binh lửa chiến tranh với những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã tàn phá biết bao gia đình, gây nên bao đau khổ (Chuyện người con gái Nam Xương)

+ Đó là nạn tham quan, vua “thường dối trá, tính nhiều tham dục, vung vãi châu ngọc, dùng vàng như cỏ rác, tiêu tiền như đất bùn, hình phạt có của đút là xong, quan chức có tiền mua là được…” (Chuyện đối đáp của người tiều phu núi Na). Quan lại thì hung tợn, tham lam hiếu sắc như Lý Hữu Chi (Chuyện Lý tướng quân), nham hiểm và thâm độc như Thân trụ quốc (Chuyện nàng Túy Tiêu). Khi phê phán hôn quân bạo chúa, Nguyễn Dữ dùng hình thức gián tiếp qua lời các nhân vật trong truyện, còn khi tố cáo bọn quan lại tham nhũng, tác giả dựng lên nhiều hình tượng nhân vật phản diện. Lí Hữu Chi “có sức khỏe, giỏi chiến trận nhưng tính tình vốn dữ tợn”, Thân trụ quốc “làm quan đến ngôi thượng công”, có uy thế rất lớn nên không tòa sở nào dám xét tội hắn.

+ Là một nhà nho nên trọng tâm phản ánh và phê phán của Nguyễn Dữ khi viết Truyền kì mạn lục là thực trạng suy đồi về mặt đạo đức của xã hội. Đạo Nho có những biểu hiện suy thoái. Tầng lớp nho sĩ nhiều người hư hỏng, nho phong sĩ khí không còn được như trước nữa. Kẻ đến cửa Khổng sân Trình chẳng mấy thiết tha với đạo lí, học vấn thánh hiền mà chạy theo sự hưởng lạc đồi bại. Chàng Hà Nhân từ Thiên Trường lên kinh sư theo đòi nghiên bút nhưng học hành thì chểnh mảng còn son phấn thì tình nồng, đắm chìm trong những thú vui hoan lạc với hai nàng Đào, Liễu rồi tàn đời vì hai cô gái vốn là hai cây đào, liễu hóa thành tinh (Chuyện kì ngộ ở trại Tây). Đạo Phật bị lợi dụng, bộc lộ những mặt tiêu cực. Sư bác trong Chuyện nghiệp oan của Đào thị say mê ca kĩ, thiền viện trở thành nơi hoan lạc, bọn người vô lương mượn chùa chiền làm nơi ẩn nấp, hành nghề trộm cắp (Chuyện cái chùa hoang ở Đông Triều)

+ Bên cạnh đó, Nguyễn Dữ cũng phê phán, lên án thế lực đồng tiền làm băng hoại đạo đức của con người trong xã hội. Đồng tiền có sức mạnh phá hủy nhân cách, phá hủy mối quan hệ đạo lý giữa con người với con người. Trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Trọng Quỳ chơi bời, cờ bạc đến khánh kiệt gia sản, phải đem vợ ra đánh bạc với Đỗ Tam đến nỗi người phụ nữ tiết hạnh như Nhị Khanh phải tìm đến cái chết để khỏi rơi vào tay tên lái buôn giàu có, quỷ quyệt. Trong Chuyện người con gái Nam Xương, đồng tiền cũng đã xuất hiện và chi phối hạnh phúc gia đình. Trương Sinh đã bỏ ra 100 lạng vàng để cưới Vũ Nương về làm vợ, để sau này Vũ Nương bị đẩy vào cái chết oan nghiệt vì lời của con trẻ và sự đa nghi, hay ghen của chồng.

– NDữ đã mượn chuyện xưa để nói chuyện nay, đó chính là thực trạng của xã hội Việt Nam thế kỉ XVI với những rối ren, suy đồi về đạo đức.

c. Bình luận:

– Văn học lấy hiện thực làm đối tượng để phản ánh, Nguyễn Dữ cũng không nằm ngoài quy luật sáng tác văn học đó.
– Điểm riêng trong cá tính sáng tạo của Nguyên Dữ: cách nhìn nhận, phản ánh của một nhà Nho ẩn dật.

3. Kết bài:

– Khẳng định lại vấn đề
– Giá trị của tác phẩm

Bài viết cùng chủ đề:

Đánh giá bài viết:

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị tiết lộ.