Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người lính Tây Tiến

ve-dep-hinh-tuong-nguoi-linh-tay-tien

Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người lính Tây Tiến

Cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn và chất bi tráng của hình tượng người lính trong đoạn thơ sau:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

(Trích bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng)


  • Mở bài:

Tây Tiến là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của nhà thơ Quang Dũng. Bài thơ được Quang Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến một thời gian. Đoàn quân Tây Tiến được thành lập vào đầu năm 1947. Những người lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả học sinh, sinh viên. Qua đoạn trích, Quang Dũng đã khắc họa hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến bằng bút pháp lãng mạn, thấm đẫm tinh thần bi tráng.

  • Thân bài:

Vẻ đẹp lãng mạn thể hiện trên những phương diện: cái tôi trữ tình tràn đầy tình cảm, cảm xúc, phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng những yếu tố cường điệu, thủ pháp đối lập để tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hào hùng. Vẻ đẹp lãng mạn còn thể hiện ở cảm hứng hướng tới cái cao cả, sẵn sàng hi sinh cho lí tưởng chung của dân tộc, thể hiện ở vẻ đẹp tâm hồn hào hoa, thơ mộng.

Cái bi là sự gian khổ, hi sinh, là đau thương, mất mát. Cái tráng là sự hào hùng, tráng lệ, là khí thế lẫm liệt. Chất bi tráng của một hình tượng nghệ thuật là vẻ đẹp vừa có tính chất buồn thảm làm não lòng người vừa có tính chất hùng tráng, mạnh mẽ gây ấn tượng, khơi bừng niềm tự hào, ý chí vươn lên và khát vọng sống ở con người. Chất bi tráng hoà quyện vào gian khổ, hi sinh được thể hiện qua màu sắc hào hùng, tráng lệ, bi mà không luỵ.

Đoạn thơ thể hiện vẻ đẹp lãng mạn và chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến. Hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn với khuynh hướng tô đậm những cái phi thường. Nhà thơ sử dụng triệt để thủ pháp đối lập để tác động mạnh vào cảm quan, kích thích trí tưởng tượng phong phú của người đọc.

Trong bài thơ, Quang Dũng đã rất kì công miêu tả khung cảnh thiên nhiên miền Tây kì vĩ để tạo được một nền cảnh hoang sơ, man dại, tạo ra bầu không khí nghiêm trang, tĩnh mịch, chuẩn bị cho sự xuất hiện trực tiếp của những người lính Tây Tiến ở đoạn thơ thứ ba này. Trên cái nền hoang vu, hiểm trở vừa hùng vĩ vừa dữ dội khác thường của núi rừng (ở đoạn một), và duyên dáng, mĩ lệ, thơ mộng của Tây Bắc (ở đoạn hai), đến đoạn thơ thứ ba, hình ảnh những người lính Tây Tiến trực tiếp xuất hiện với một vẻ đẹp độc đáo và kì lạ :

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Nhà thơ đã khéo léo chọn lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể, khái quát những gương mặt chung của cả đoàn quân bằng nét vẽ ngôn từ hết sức tài hoa. Qua ngòi bút của ông, những người lính Tây Tiến hiện ra đầy oai phong, dữ dội và khác thường. Thực tế chiến đấu gian khổ thiếu thốn đã làm cho người lính da dẻ xanh xao, sốt rét làm họ rụng hết cả tóc. Quang Dũng không hề che giấu những sự thực tàn khốc đó. Song, cái nhìn lãng mạn của ông đã thấy họ ốm mà không yếu, đã nhìn thấy bên trong cái hình hài tiều tụy của họ chứa đựng một sức mạnh phi thường. Và ngòi bút lãng mạn của ông đã biến họ thành những bức chân dung lẫm liệt, oai hùng. Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người lính, qua cái nhìn của ông, vẫn toát lên cái oai phong của những con hổ nơi rừng thiêng. Cái vẻ oai phong, lẫm liệt ấy còn được thể hiện quan ánh mắt giận dữ (mắt trừng gửi mộng) của họ.

Cái nhìn đa chiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua cái vẻ oai hùng, dữ dằn bề ngoài của những người lính Tây Tiến là những tâm hồn còn rất trẻ, những trái tim rạo rực, khao khát yêu đương (Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm). Như vậy, trong bốn câu thơ trên, Quang Dũng đã tạc lên bức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến không chỉ bằng những đường nét khắc họa dáng vẻ bề ngoài mà con thể hiện được cả thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ.

Chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến cũng được khắc họa đậm nét, hết sức ấn tượng. Khi viết về những người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã nói tới cái chết, sự hi sinh nhưng không gây cảm giác bi lụy, tang thương. Cảm hứng lãng mạn đã khiến ngòi bút ông nói nhiều tới cái buồn, cái chết như là những chất liệu thẩm mỉ tạo nên cái đẹp mang chất bi hùng:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Khi miêu tả những người lính Tây Tiến, ngòi bút của Quang Dũng không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi lụy. Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào cái bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị mờ đi trước lí tưởng quên mình vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến. Cái sự thật bi thảm những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả mảnh chiếu che thân, qua cái nhìn của nhà thơ, lại được bọc trong những tấm ào bào sang trọng. Và rồi, cái bi thương ấy bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã.

Cái chết, sự hi sinh của những người lính Tây Tiến được nhà thơ miêu tả thật trang trọng. Cái chết ấy đã tạo được sự cảm thương sâu sắc ở thiên nhiên. Và dòng sông Mã đã trân trọng đưa tiễn linh hồn người lính bằng cách tấu lên khúc nhạc trầm hùng.

Hình ảnh những người lính Tây Tiến trong đoạn thơ thấm đẫm tính chất bi tráng, chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng vẻ của những anh hùng kiểu chinh phu thuở xưa một đi không trở lại.

Lựa chọn thể thơ 7 tiếng chắc khoẻ mang giọng điệu hào hùng như một khúc quân hành, kết hợp hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã rất thành công trong nghệ thuật biểu hiện và khắc họa hình tượng người lính Tây Tiến. Những vần thơ giàu chất nhạc, chất hoạ, nghệ thuật chạm khắc, hình ảnh thơ vừa gân guốc, khoẻ khoắn, vừa mềm mại, trữ tình khiến cho bài thơ như một khúc ca ngân vang mãi. Quang Dũng cũng đã phát huy sức mạnh của thủ pháp tương phản – đối lập, một trong những yếu tố nghệ thuật mang dấu ấn thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn trong khi khắc họa hình ảnh thiên nhiên và người lính khiến cho hỉnh tượng trở trở nên kì vĩ, đẹp đẽ lạ thường.

  • Kết bài:

Tây Tiến là sự kết tinh những sắc thái vừa độc đáo vừa đa dạng của ngòi bút Quang Dũng. Nhà thơ đã sáng tạo được hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến, miêu tả được vẻ đẹp tinh thần của những con người tiêu biểu cho một thời kì lịch sử một đi không trở lại. Hình tượng này thể hiện rõ nét những đặc sắc trong phong cách thơ Quang Dũng. Đoạn thơ trên đã góp vào bảo tàng hình ảnh những người lính bức chân dung người lính Tây Tiến rất độc đáo của mình.


  • Bài tham khảo:

Về hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, có ý kiến cho rằng: người lính ở đây có dáng dấp của các tráng sĩ thuở trước. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời kháng chiến chống Pháp.

Từ cảm nhận của mình về hình tượng này, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên.

Hướng dẫn làm bài:

  • Mở bài:

Quang Dũng một nghệ sĩ đa tài, nhưng trước hết là một thi sĩ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, tài hoa. Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng và thơ ca chống Pháp; tác phẩm đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến.

  • Thân bài:

Giải thích:

+ “Dáng dấp tráng sĩ thuở trước” là nói đến những nét đẹp trượng phu giàu tính ước lệ kiểu văn chương trung đại trong hình tượng người lính; “Mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời chống Pháp” là muốn nói ở hình tượng người lính có nhiều nét đẹp thân thuộc chắt lọc từ đời sống chiến trường của những anh vệ quốc quân thời

chống Pháp.

+ Đây là hai nhận xét khái quát về hai bình diện khác nhau của hình tượng người lính Tây Tiến: ý kiến trước chỉ ra vẻ đẹp truyền thống, ý kiến sau chỉ ra vẻ đẹp hiện đại.

Phân tích, bình luận, chứng minh:

– Vẻ đẹp người lính mang dáng dấp của các tráng sĩ thuở trước:

+ Người lính trong Tây Tiến có dáng vẻ oai phong, lẫm liệt, đầy hào khí; tinh thần chinh chiến kiêu dũng, xả thân; thái độ ngang tàng, ngạo nghễ, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng.

+ Hình tượng người lính đặt trong miền không gian đầy không khí bi hùng cổ xưa với cuộc trường chinh vào nơi lam chướng nghìn trùng, với chiến trường là miền viễn xứ chốn biên ải, gắn với chất liệu ngôn ngữ trang trọng, hình ảnh ước lệ, …

– Hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời chống Pháp:

+ Người lính với tinh thần vệ quốc của thời đại chống Pháp cảm tử cho tổ quốc quyết sinh: không tiếc đời mình, không thoái chí sờn lòng, không bỏ cuộc; đời sống quân ngũ gian khổ mà vẫn trẻ trung, tinh nghịch; lăn lộn trận mạc đầy mất mát hi sinh mà vẫn đa cảm đa tình; dồi dào tình yêu thiên nhiên, tình quân dân và tình đôi lứa.

+ Hình tượng người lính gắn chặt với một sự kiện lịch sử là cuộc hành binh Tây Tiến; một không gian thực là miền Tây, với những địa danh xác thực, những cảnh trí đậm sắc thái riêng của xứ sở vốn hiểm trở mà thơ mộng; với ngôn ngữ đậm chất đời thường của những người lính trẻ…

– Hai ý kiến đều đúng, tuy có nội dung khác nhau, tưởng đối lập, nhưng thực ra là bổ sung nhau, cùng khẳng định những đặc sắc của hình tượng người lính Tây Tiến: đó là sự hoà hợp giữa vẻ đẹp tráng sĩ cổ điển với vẻ đẹp chiến sĩ hiện đại để tạo nên một hình tượng toàn vẹn.

– Hình tượng có được sự hoà hợp đó là do nhà thơ đã kế thừa thơ ca truyền thống, sử dụng bút pháp lãng mạn, đồng thời đã mang được vào thơ không khí thời đại, hiện thực chiến trường, đời sống trận mạc của bộ đội Tây Tiến mà tác giả vốn là người trong cuộc.

  • Kết bài:

Sự kết hợp tài tình giữa bút pháp lãng mạn và cái nhìn hiện thực, Quang Dũng đã làm nổi bậc hình tượng người lính Tây Tiến vừa có dáng dấp của các tráng sĩ thuở trước vừa mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời kháng chiến chống Pháp.


Bài tham khảo:

Hình tượng người lính trong thơ ca kháng chiến

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đất nước bước vào thời kỳ độc lập tự chủ nhưng lại đến một giai đoạn lịch sử hết sức gay go và gian khổ oanh liệt và vĩ đại.

Từ năm 1945 đến 1975, đất nước diễn ra nhiều sự kiện lớn, tác động sâu sắc tới toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần dân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ hết sức vĩ đại, hào hùng. Công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội diễn ra sôi nổi trên miền Bắc. Chiến tranh kéo dài, liên tục, khiến nền kinh tế nghèo nàn, điều kiện giao lưu với văn hóa nước ngoài hạn chế.

Văn học thời kỳ này gắn liền với nhiệm vụ cách mạng vì thế nó đã đồng hành trọn vẹn và xuất sắc sứ mệnh cao cả. Văn học không chỉ phản ánh được hiện thực cách mạng mà nó còn góp sức vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc .

Có thể nói “Thơ văn là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp”. Thơ văn có thể hiện được cái hồn của thời đại thì mới trở thành đài tượng niệm của thời đại”. Thơ văn cách mạng đã làm được điều đó. Các nghệ sĩ đã làm nên một tượng đài bất tử về người lính cụ Hồ.

Hình ảnh người lính luôn là hình ảnh đẹp nhất của văn học Việt Nam.Viết về các anh là viết về những đôi tay đã làm nên hình hài, dáng vóc thân thương của non sông gấm vóc Việt Nam. Huyền thoại về những người lính gắn liền với lịch sử chống ngoại xâm của đất nước ta. Có lẽ, chưa một dân tộc nào trên thế giới lại phải gánh chịu những mất mát và khổ đau vì chiến tranh như dân tộc ta. Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ đã khiến cho những con người Việt Nam trở nên lớn lao và kì vĩ:

“Kính chào Anh, con người đẹp nhất
Lịch sử hôn Anh, chàng trai chân đất
Sống hiên ngang bất khuất trên đời
Như Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi”.

Thơ văn là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp. Thơ văn có thể hiện được cái hồn của thời đại thì mới trở thành đài tượng niệm của thời đại”. Thơ văn cách mạng đã làm được điều đó. Các nghệ sĩ đã làm nên một tượng đài bất tử về người lính cụ Hồ. Các anh ra đi từ những miền quê nghèo, gạt nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ, và những tình cảm riêng tư sang một bên để chiến đấu cho một tình yêu lớn lao hơn – tình yêu Tổ Quốc với một tinh thần cảm tử , hy sinh :

“Ôi! Tổ Quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta như vợ như chồng
Ôi! Tổ Quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”.

Tình yêu Tổ Quốc của người lính đã trở thành một phần máu thịt không thể tách rời, như hơi thở, sự sống của chính các anh. Nó tiếp thêm cho các anh niềm tin, sức mạnh, vượt qua mọi bão giông, thử thách để chiến thắng kẻ thù:

“Những dũng sĩ đâm lê núi Thành
Mắt tìm thù sao bay rực rỡ
Rượt đuổi thù chân như chiến mã
Đâm chết thù sức núi dồn bay”

Các anh hiểu được trong hoàn cảnh của dân tộc thì “hạnh phúc là đấu tranh”. Vì thế còn gì tự hào hơn khi các anh được gánh vác trên vai nghĩa vụ thiêng liêng :

“Nếu được làm hạt giống để mùa sau
Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa
Vui gì hơn làm người lính đi đầu
Trong đêm tối tim ta làm ngọn lửa”

Có thể nói lòng yêu nước là vẻ đẹp rất điển hình ở người lính. Lòng yêu nước của người lính đã làm đẹp thêm lòng yêu nước của con người Việt Nam. Đó là ý thức trách nhiệm của người con đối với đất nước:

“Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu
Dấn thân vô là phải chịu tù đày
Là gươm kề cổ súng kề vai
Là thân sống chỉ coi còn một nửa”

Cuộc sống nơi trận mạc bao giờ cũng vậy, khắc nghiệt vô cùng. Đó là nơi sự sống và cái chết không có ranh giới. Cái chết có thể diễn ra trong tích tắc và đến bất cứ lúc nào. Nhưng với các anh thì cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến chống quân thù:

“Đường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn đông, nhớ Trường Sơn tây”

Đất nước Việt Nam, người phải thật tự hào khi sinh ra những người con:

“Đất nước của những người con gái, con trai
Đẹp hơn hoa hồng rắn hơn sắt thép
Những cuộc chia ly không hề rơi nước mắt
Nước mắt chỉ dành cho ngày gặp mặt”

Chính lòng gan dạ, khí phách, quả cảm đã tạo nên sức mạnh mãnh liệt cho những người lính. Ta dễ hiểu vì sao chị Lý sau bao tra tấn dã man “điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung” mà bọn giặc nhẫn tâm vẫn không giết nổi chị “người con gái anh hùng”. Ta hiểu vì sao anh Trỗi sau bao đòn roi đau đớn từ chính quyền thực dân vẫn thà chết chứ không chịu bán nước. Đó là bởi một khi ý chí đã cứng hơn sắt thép thì không có gì lay chuyển nổi. So với độc lập tự do của tổ quốc thì cái chết với những người lính có là gì. Dũng cảm như chị Út “ còn cái lai quần cũng đánh” gan dạ như cô du kích xóm Lai Vu bị “rắn quấn bên chân” mà vẫn “đánh quân thù”. Và cả :

“Những nàng xuân rất dịu dàng
Hát câu quan họ chuyến đò ngang
Nhẹ nhàng tay cấy bên sông ấy
Súng khoác trên lưng chẳng ngỡ ngàng”

Làm sao quên được hình ảnh chị Sáu kiêu hùng đi giữa hai hàng lính với cái chết thoảng hương nhài, làm sao quên những Bế Văn Đàn, những Phan Đình Giót, những La Văn Cầu : “Những đồng chí, thân chôn làm giá súng”:

“Đầu bịt lỗ châu mai
Băng mình qua núi gai thép
Ào ào như vũ bão
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, nhắm mắt còn ôm”

Hình ảnh của các anh là biểu tượng ngời sáng cho lòng quả cảm, tinh thần hiên ngang, bất khuất. Một nhà văn nước ngoài từng nói “Ở Việt nam có bao nhiêu bông hoa đẹp, là có bấy nhiêu anh hùng”. Các anh là những bông hoa như vậy, những bông hoa kiên cường mọc lên từ những vùng sỏi đá, cằn khô. Nhựa sống của nó là ý chí và lòng dũng cảm phi thường.

Những con người ấy mạnh mẽ trên chiến trường nhưng lại rất hào hoa yêu đời trong cuộc sống bình thường. Giản dị mà vẫn phi thường, hào hùng mà hào hoa. Nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại vẻ đẹp lạc quan yêu đời của các anh:

“Mĩ thua nguỵ chạy đường cùng
Xe tăng như xác bọ hung đen bờ
Mấy anh lính trẻ măng tơ
Nghêu ngao gõ bát hát chờ cơm sôi”

Cuộc sống của họ gian khổ thiếu thốn “ áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá” nhưng họ không thiếu thốn tình người:

“Đồng đội ta là hớp nước uống chung
Nắm cơm bẻ nửa
Là chia nhau một trưa nắng một chiều mưa
Chia khắp anh em một mẩu tin nhà
Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp
Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết”

Chia nhau là để cộng vào, để nhân lên gấp bội tình yêu thương ấy.Chỉ một cái bắt tay qua cửa kính vỡ rồi mã thôi sao thân thương đến thế. Chung với nhau một bữa cơm nhà mà ấm áp biết bao tình người:

“Bếp Hoàng Cầm ta chạy giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình ấy”

Những người lính đã vượt qua gian khổ như thế đó, bằng tình người và bằng cả trái tim. Có thể nói, người lính là kết tinh của những vẻ đẹp rất Việt Nam. Lòng yêu nước, sự dũng cảm, niềm lạc quan yêu đời, tình đồng chí, đồng đội dù trong bất cứ hoàn cảnh nào những nét đẹp ấy vẫn luôn toả sáng.

Cảm nhận của bản thân về hình ảnh người lính trong kháng chiến và hình ảnh người lính hôm nay.
Anh bộ đội, người chiến sĩ, chú giải phóng quân…, nhiều tên gọi khác nhau, song tất cả chỉ là một – đó là anh, “anh bộ đội cụ Hồ”. Không biết từ bao giờ, nhân dân ta yêu anh bộ đội như yêu quý người thân. Có lẽ, vì ta yêu cái lý tưởng cao đẹp: “Trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội…” (Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Quân đội ta tự hào thay được lớn lên dưới ánh sáng mà Bác đã soi đường chỉ lối. Tên của các anh gắn liền với tên đất nước. Càng kiêu hãnh biết bao tên anh được gắn với tên của vị cha già kính yêu của dân tộc. Bác là vị cha già, là lãnh tụ vĩ đại đã trao cho các anh sứ mệnh lịch sử, đã cùng đoàn quân lội suối trèo đèo đi kháng chiến trong những năm tháng trường kì kháng chiến. Rồi lại cùng đoàn quân ra mặt trận để tiêu diệt quân thù trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. lời Bác gọi là lời non sông. Cả nước cùng Người ra trận.

Chúng ta tự hào được sống trong những ngày sôi động của dân tộc, được sống trong thời đại tươi đẹp – thời đại mà Bác Hồ đã khai sinh, đã soi đường chỉ lối, chúng ta nguyện tiếp bước theo các anh để ghi tiếp những cái tên đẹp nhất trong trang sử nước nhà, để xây đắp tiếp những vườn hoa tươi thắm chói ngời trang sử vàng dân tộc. Còn niềm vui nào hơn khi chúng ta vinh dự trở thành những người chiến sĩ tiếp bước các anh:

Mơ ước làm anh bộ đội, mơ ước trở thành những con người trung dũng, ngoan cường, phấn đấu dưới lá cờ vinh quang của Tổ quốc. Mơ ước được mang tên: “Anh bộ đội Cụ Hồ” để một mai cùng đoàn quân ra trận xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là ước mơ của tuổi trẻ, của đàn em nối gót theo các anh – những người anh bình thường, giản dị đã đọng lại trong lòng nhân dân biết bao tình cảm khó quên.

Trong ngày vui hôm nay của đất nước, tất cả chúng ta không ai có quyền quên, không bao giờ được quên biết bao anh hùng đã ngã xuống, lấy máu đào tô thắm màu cờ và làm rạng rỡ non sông đất nước ta. Chúng ta càng không thể quên hình ảnh Bác Hồ kính yêu – vị cha già của dân tộc suốt đời trăn trở với niềm mong ước làm sao cho đất nước ta được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành và mong muốn đem lại sự giàu mạnh cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân và xã hội công bằng văn minh.

Tổ quốc thống nhất, người lính trở về quê hương nhưng phẩm chất ý chí nghị lực, tinh thần lạc quan vẫn không hề thay đổi. Hình ảnh anh thợ cắt tóc trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là một ví dụ: anh sống làm việc, lặng lẽ nghiêm túc bao dung và cao thượng. Những người lính, những người trí thức ngày trước từ giảng đường đại học, khoác súng lên đường. Hòa bình từ giả cây súng, anh trở về cầm viên phấn viết tiếp những gì còn giang dở. dù một phần xương thịt đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường, anh vẫn miệt mài cống hiến với tổ quốc.

Hôm nay, trang sử mới của dân tộc đã được mở ra- trang của sự đổi mới, phát triển và hội nhập với thế giới. Trong quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa cao độ, hình ảnh anh “Bộ đội cụ Hồ” vẫn vẹn nguyên với vai trò tiên phong, đi đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng mới cùng toàn Đảng, toàn dân. Các chiến sĩ Bộ đội cụ Hồ hôm nay khoác trên mình màu xanh áo lính cũng đang hứng khởi bước vào các mặt trận với lòng nhiệt huyết và sức bật mới cùng thời đại.

Người lính Cụ Hồ hôm nay vẫn tiếp tục thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đất nước hòa bình, song những người lính Cụ Hồ vẫn “ra trận” vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ “cõng chữ” lên vùng cao; “ba cùng” với đồng bào các dân tộc, giúp dân trồng lúa nước, đưa đồng bào vào làm việc ở các nông trường quân đội… là những hình ảnh bình dị, thân thương, nhưng vô cùng cao đẹp về tình quân dân cá nước. Con đường em chọn sau khi tốt nghiệp sẽ là tiếp bước dấu chân người lính, noi gương sáng của anh bộ đội cụ Hồ.


Những bài thơ viết về người lính:

– Bộ đội về làng ( Hoàng Trung Thông)
– Đồng chí (Chính Hữu)
– Nhớ (Hồng Nguyên )
– Quê hương ( Giang Nam)
– Viếng bạn ( Hoàng Lộc)
– Việt Bắc (Tố Hữu)
– Tây Tiến (Quang Dũng)
– Cuộc chia ly màu đỏ ( Nguyễn Mỹ)
– Dáng đứng Việt Nam ( Lê Anh Xuân)
– Lá đỏ ( Nguyễn Đình Thi)
– Nhớ con sông quê hương ( Tế Hanh)
– Tiểu đội xe không kính ( Phạm Tiến Duật)
– Gởi theo các chú bộ đội (Trần Đăng Khoa)……

Những bài ca hát về người lính:

– Chào em cô gái Lam Hồng
– Năm anh em trên một chiếc xe tăng
– Chiếc gậy Trường Sơn
– Bài ca Trường Sơn.
– Cô gái mở đường
– Hát mãi khúc quân hành
– Hát về người chiến sỹ Việt Nam
– Màu hoa đỏ
– Tiểu đoàn 307
– ước mơ làm chú bộ đội
– Nơi đảo xa…..

2 Trackbacks / Pingbacks

  1. So sánh hình ảnh "nỗi nhớ" trong bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng và "Việt Bắc" của Tố Hữu - Theki.vn
  2. Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người lính Tây Tiến: "Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc..." - Theki.vn

Đánh giá bài viết:

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị tiết lộ.