Phân tích bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn.

hich-tuong-si-cua-tran-quoc-tuan

Phân tích bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn.

  • Mở bài:

– Hịch tướng sĩ được viết vào khoảng thời gian trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ hai (1285). Trước tình hình đất nước hiểm nguy, giặc Nguyên – Mông lăm le xâm phạm bờ cõi, trong khi tướng sĩ lơ là việc quân, Trần Quốc Tuấn ra bài hịch cảnh tỉnh tướng sĩ, khơi gợi lòng quân quyết tâm đánh giặc cứu nước.  Bài Hịch phản ánh tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, thể hiện lòng căm thù giặc và ý chí quyết thắng.

II. Thân bài:

1. Nêu gương sáng của trung thần nghĩa sĩ trong sử sách:

– Các gương trung thần nghĩa sĩ hi sinh vì chủ: Kỉ Tín, Do Vũ, Dự Nhượng, Kính Đức, Mông Kha, Cốt Đãi Ngột Lang nhằm làm nổi bật tinh thần quên mình vì chủ, vì vua, vì nước của các anh hùng, khích động ý chí giết giặc lập công của tướng sĩ.

2. Tình hình đất nước hiện tại, nỗi lòng của chủ tướng

a. Tình hình đất nước hiện tại:

– Tội ác và sự ngang ngược của giặc: Đi lại nghênh ngang, sỉ mắng triều đình, bắt nạt tể phụ, đòi ngọc lụa, thu bạc vàng… Chúng là lũ bạo ngược, tham lam, vô đạo.

– Với ngôn từ gợi hình, gợi cảm, hình ảnh ẩn dụ độc đáo, giọng văn mỉa mai, châm biếm sâu cay,  tác giả khắc hoạ sinh động hình ảnh kẻ thù, gợi cảm xúc căm phẫn cho người đọc, bộc lộ sự căm ghét, khinh bỉ.

b. Nỗi lòng chủ tướng:

– Được thể hiện rõ nét qua phần điệp với những câu văn biền ngắn gọn đối xứng cân chỉnh: “Ta thường tới bữa quên ăn…ta cũng cam lòng”

– Bằng cách sử dụng nhiều động từ chỉ trạng và hành động mãnh liệt, giọng văn thống thiết, tình cảm, tác giả cực tả niềm uất hận dâng lên trong lòng người chủ tướng, đồng thời khơi gợi sự đồng cảm ở người đọc, người nghe.

3. Chủ tướng phê phán biểu hiện sai lầm trong hàng ngũ quân sĩ, bộc lộ nỗi lòng mình và kêu gọi tướng sĩ:

a. Phê phán sai lầm của tướng sĩ:

– Phê phán hành động hưởng lạc, thái độ bàng quan trước vận mệnh đất nước. Ham thú vui tầm thường: chọi gà, cờ bạc, săn bắn, rượu ngon… Thái độ phê phán nghiem nghị, dứt khoát.

b. Nỗi lòng người chủ tướng:

– Khuyên tướng sĩ nên biết lo xa mà tăng cường võ nghệ, sẵn sàng chống giặc ngoại xâm.

– Khích lệ tinh thần trung quân ái quốc, lòng ơn nghĩa, thuỷ chung.

c. Kêu gọi tướng sĩ:

– Vạch rõ ranh giới giữa hai con đường chính và tà, kêu gọi, khích lệ tinh thần tướng sĩ.

III. Kết bài.

– Khẳng định thành công về mặt nội dung và nghệ thuật của văn bản

– Văn bản là biểu hiện sâu sắc nhất tấm lòng yêu nước của một vị chủ tướng có tâm, suốt đời tận tụy vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.


Tham khảo:

Phân tích bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn.

Hịch tướng sĩ là một áng văn chính luận xuất sắc nhằm kêu gọi, khích lệ tinh thần yêu nước, lòng tự tôn, tự trọng và ý chí chống giặc ngoại xâm của các tướng sĩ.

Mở đầu bài hịch, Trần Quốc Tuấn nêu những gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách. Những tấm gương sáng trong lịch sử chủ yếu được tác giả dẫn ra qua nguồn sách vở. Bằng phương pháp quy nạp, những gương trung thần nghĩa sĩ hiện lên không chỉ nhiều mà còn thuộc các tầng lớp, danh phận, triều đaị khác nhau. Ở mỗi người, Trần Quốc Tuấn đều khéo léo chắt lọc, rút ra những đẵ điểm lớn nhất. Họ là ai? Đó là bậc trung thần nghĩa sĩ như Kỉ Tín, Do Vu; là những bầy tôi xa, những viên quan nhỏ như chàng Thân Khoái coi việc giữ ao cá hay Kính Đức là một viên cảnh vệ; đó còn là những môn khách bình trường như Dự Nhượng. Tuy hoàn cảnh xuất thân và địa vị có khác nhau nhưng họ đều gặp nhau ở chỗ đều là những con người vì nghĩa lớn. Họ là những gườn mặt tiêu biểu cho đạo đức của phong kiến: tôi trung không thờ hai chủ. Đạo trung thần ấy trở thành động lực để họ có thể làm những việc phi thường, dám chấp nhận cả cái chết: “Kỉ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay cứu nạn cho nước; Kính Đức, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh, một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc”.

Để kết lại đoạn văn nêu gương các anh hùng trong lịch sử, Trần Quốc Tuấn đã dùng phép giả định: “Giả sử các bậc ấy cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình thì cũng chỉ chết già nơi xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được”. Bằng cách này, ý tứ của đoạn hịch thấm vào tư tưởng quân sĩ một cách nhẹ nhàng mà không kém phần thấm thía, sâu sắc.

Tuy nhiên những tấm gương ấy dù sao cũng đã lui vào lịch sử, tồn tại trong các áng cổ thư. Người biết đến tất nhiên đa phần đều phải là những người ít nhiều có chữ nghĩa. Còn tướng sĩ nhà Trần, đúng như Trần Quốc Tuấn nhận xét: “Các người con nhà võ, không hiểu văn nghĩa”, bởi vậy “nghe những chuyện ấy nửa tin nửa đùa”. Hiểu được điều này, Hưng đạo Đại Vương tiếp tục triển khai dụng ý kích thích tinh thần quân sĩ của mình bằng việc kể ra những tấm gương của “Tống, Nguyên mới đây”, tức là người thật việc thật trong hiện tại. Đó là “Vương Công Kiên và tì tướng Nguyễn Văn Lập liều mình giữ thành Điếu Ngư nhỏ như cái đấu, đường đường chống với quân Mông Kha đông đến hàng trăm vạn”; “Xích Tu Tư tì tướng của Cốt Đãi Ngột Lang dũng mãnh xông vào chỗ lam chướng xa xôi nghìn trùng, đánh bại được quân Nam Chiếu”.

Phương pháp nêu gương từ xa tới gần, từ xưa đến nay cùng với cách triển khai theo lối quy nạp: đưa ra dẫn chứng trước rồi tổng kết sau vừa nêu bật lên được các tấm gương trung thần nghĩa sĩ vừa khẳng định chân lý của muôn đời: chỉ có những người dám hi sinh vì nghĩa lớn mới có thể trường tồn cũng lịch sử.

Sau khi nêu gương các anh hùng nghĩa sĩ, Trần Quốc Tuấn hướng tướng sĩ nhìn về hiện tại với tình trạng thực tế của đất nước. Trong một đoạn văn ngăn, tác giả đã dựng dậy chân thực và sinh động hình ảnh quân thù tham tàn, hung bạo.Dã tâm xâm lược của chúng bao trùm lên mọi phương diện, từ chính trị đến kinh tế, từ lới lẽ đến hành động, đi đứng.Chúng đã làm hàng loạt những chuyện chướng tai gai mắt, hỗn xược, ngông cuồng. nào là “xỉ mắng triều đình”, nào là “bắt nạt tể phụ”. Hơn nữa, chúng còn “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham”: “giả hiệu Vân Nam Vương để thu bạc vàng, để cướp của kho có hạn”. Trần Quốc Tuấn đã vạch mặt chỉ tên kẻ thù. Dưới danh nghĩa đặt chức quan Chưởng Ấn để giám sát tình hình kinh tế nước ta, thực chất quân Nguyên Mông hiện nguyên hình là bọn đầu trâu mặt ngựa, là kẻ cướp giữa ban ngày, đục khoét, áp bức nhân dân để “thoả lòng tham khôn cùng”. Bọn chúng cũng cùng một ruộc với quân Minh sau này:

“Vét sản vật, bắt chim trả chốn chốn lưới giăng
Nhiễu nhân dân, bẫy hươu dênnơi nơi cạm đặt
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ”

(Bình Ngô Đại Cáo – Nguyễn Trãi)

Xuất phát từ lòng căm thù sâu sắc, tác giả đã không ngần ngại vẽ lên chân dung kẻ thù như một bọn thú vật độc ác, tanh hôi. Không còn là cách gọi “sứ thần” đầy kính trọng mà chuyển thành “sứ giặc” với thân phận của “dê chó”, cách nói năng của “cú diều” cùng lòng tham “như hổ đói”.Câu văn, hình ảnh chứa đựng thái độ căm phẫn và khinh miệt của tác giả.

Vốn tự hào là một đất nước có chủ quyền, có cương vực lãnh thổ và nền văn hiến riêng vậy mà nay quân giặc từ phương Bắc tràn tới tha hồ ngang ngược, hống hách, làm những điều phi luân, bại nghĩa.Nếu mỗi người cứ nhắm mắt làm ngơ, mặc cho chúng càn quấy thì không những có tội với tổ tông, xã tắc mà điều này còn có thể tạo vườn ươm cho những tai hoạ khó lường về sau. Bằng con mắt tỉnh táo và tài nhìn xa trông rộng, Trần Quốc Tuấn đã vạch rõ đó là cái nguy cơ “đem thịt mà nuôi hổ đói sao cho khỏi để tai vạ về sau”.

Nếu như khi tố cáo kẻ thù, tình cảm của tác giả được bộc lộ kín đáo qua hình ảnh, câu chữ thì ở doạn văn tiếp theo, chân dung tinh thần vị chủ tướng đã hiện rõ trong nỗi đâu quặn thắt: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa”. Dường như nỗi đau và lòng căm thù đã chiếm trọn mọi không gian, thời gian(cả đêm và ngày), mọi suy nghĩa cũng như nhu cầu thường nhật của tác giả( tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối). Nhịp điệu câu văn nhanh, gấp gáp tựa như dòng máu nóng lo nước, lo đời đang cuộn chảy trong lòng vị chủ tướng. Qua bao nhiêu thế kỉ rồi mà hình như trang văn vẫn còn thổn thức một tấc lòng “đau như cắt”, vẫn còn hôi hổi nóng bởi dòng nước mắt “đầm đìa”, “căm thù giặc thể không cùng sống” (Bình Ngô đại cáo-Nguyễn Trãi). Hình ảnh vị Tiết chế thống lĩnh toàn quân có khác gi vị chủ tướng của núi rừng Lam Sơn sau này:

“Đau lòng nhức óc chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai há phải một hai sớm tối
Quên ăn vì giận sách lược thao suy xét dã tinh
Ngẫm trước đến nay lẽ hững phế đắn đo càng kĩ”

(Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)

Từ lòng căm thù sâu sắc, vị chủ tướng đã bày tỏ ước nguyện hi sinh thân mình cho giang sơn, xã tắc: “Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngữa ta cũng vui lòng”. Câu văn sáng rực Hào khí Đông A, cuồn cuộn tinh thần Sát Thát của thời đại.Nó có cùng chung nguyên do với hành động bóp nát quả cam trên bến Bình Than của Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, cùng chung ước nguyện với câu nói của thái sư Trần Thủ Độ: “Nếu bệ hạ hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã”. Câu nói xuất phát từ sâu thẳm trái tim nên có sức vang động và thấm sâu.Những điển tích, điển cố: thân phơi ngoài nội cỏ, xác gói trong da ngựa của những anh hùng nơi chiến địa thời phong kiến do vậy không trở nên khuôn sáo và cứng nhắc.Cách nói “ quá đoán”, không phải chỉ một thây mà là “trăm thân”, “ngàn xác” có tác dụng nhấn mạnh ước nguyện hi sinh.

Mạch văn được tiếp tục triển khai bằng việc Trần Quốc Tuấn nhắc lại mối quan hệ giữa mình với tướng sĩ. đó không chỉ là sự giàng buộc giữa vị tướng chỉ huy và binh sĩ dước quyền mà cao hơn, là sự chan hoà, ấm áp của tình phụ-tử. Đối với tường sĩ, vị Tiết chế ấy đã chăm lo kịp thời cho không chỉ những nhu cầu trong cuộc sống: “không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng, đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa” mà còn gắn bó cả số phận của bản thân mình: “ Lúc xông pha trận mạc thì ucngf nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui đùa”. Đó là cái tình “tướng sĩ một lòng phị tử, hoà nước sông chén rược ngọt ngào”, không kém gì cách đối xử của các bậc cổ nhân.

Đất nước đang ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, chủ tướng thì lo lắng, đau đớn đến thắt lòng mà cái tình giữa chốn ba quân thì phúc hoạ cùng chịu như thế. Vậy thái độ và hành động của tướng sĩ trước hoàn cảnh hiện tại ra sao? Câu văn như bàng hoàng trước tình trạng thờ ơ, bàng quan của các tướng dưới quyền: “các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn, nghe nhạc thái thường để đãi yến nguỵ sứ mà không biết căm”. Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách, vậy mà “các ngươi”- những trụ cột của triều đình, những người có trách nhiệm đàu tiên với đất nước lại “đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ”, giả câm giả điếc, tìm vui trong những thú chơi, những toan tính tầm thường. Kẻ thì say sưa với chọi gà, uống rượu, hát xướng; người thì mải mê vun vén cá nhân, bìu ríu với bầy đoàn thê tử.Giọng văn đanh thép, cứng rắn cho thấy thái độ phê phán không khoan nhượng của vị chủ tướng đối với tướng sĩ. Cái tài của trần Quốc Tuấn ở đây là ông không nói bằng những điển chương sách vở mà vạch ra cái sai trái, cái không thể dung thứ được của thuộc hạ dưới quyền mình bằng chính những việc mà họ đang làm.

Thế kỉ XV, Nguyễn Trãi đứng trên chiến thắng lẫy lừng sau 20 năm chống quân Minh mà tổng kết lại chiến thuật “mưu phạt tâm công”. ở đây, Trần Quốc Tuấn không phát biểu thành một kết luận nhưng cách tác giả nói với tướng sĩ của mình cũng chính là một nghệ thuật “đánh vào lòng” đầy hiệu quả.Vạch ra thế nào là phải- trái, đúng-sai, tác giả không áp đặt một cách cứng nhắc mà đưa ra hai con đường với hai mục đích, kết quả khác nhau để tướng lĩnh tự nhận thức mà lựa chọn.

con đường thứ nhất là tiếp tục ăn chơi hưởng lạc. Hàng loạt các điệp ngữ và lối sóng đôi tương phản giữa ta và địch được sử dụng. Tác giả nhấn mạnh đến công hiệu của việc các tướng lĩnh sẽ làm ở con đường này đối với giặc để rồi từng bước một tiến hành loại trừ: “Cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh. Chén rượu say không làm cho giặc say chết. Tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai…”

Như vậy, những gì họ cần, họ thích và đang say mê theo đuổi thì lại hoàn toàn không có một chút tác dụng gì với đất nước khi hoạ ngoại xâm ùa đến trước mắt. Và việc tất yếu sẽ phải xảy ra: “Ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, bị tròi, đau xót biết nhường nào”.Không dừng lại ở việc chỉ ra tình huống bi đát của hiện tại khi thua giặc: bị bắt, trói, bị hạ nhục và mất bổng lộc, tác giả còn kéo dài ra cả chiều thời gian quá khứ và tương lai : tông miếu vốn thiêng liêng là thế cũng bị giày xéo và rồi tiếng nhơ của cả “ta” và ‘các ngươi” ngàn núngau vẫn khôn rửa sạch. Còn gì nhục nhã hơn, đau đớn hơn? Chỉ một chút ham vui mà để lại di hoạ đến muôn đời. Trần Quốc Tuấn đã đánh vào lòng tự trọng của các tướng sĩ.

Đó là con đường thứ nhất. Còn có một sự lựa chọn khác là ngừng lại tất cả những ham mê tầm thường để tỉnh táo nhận thức được tình trạng hiểm nguy của đất nước.Nếu tướng sĩ biết cái nguy của việc nằm trên đống củi khô, biết sợ cái điều ăn bát canh nóng mà rèn luyện võ nghệ, tập rượt cung tên “khiến cho người người đều là Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ” thì có thể “bêu được đàu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai”, rửa nhục được cho đất nước.Khi ấy, một cuộc sống tốt đẹp sẽ mở rộng trước mắt cả “ta” và “các ngươi”. Tác giả vẫn tiếp tục soi chiếu kết quả trong ba chiều thời gian và ở chiều nào cũng tươi sáng, rạng rờ hạnh phúc. Mồ mả tổ tông sẽ được “uôn đời tế lễ”, được “thờ cúng quanh năm”. Xã tắc được vững bền, bổng lộc của “ta’ và “các ngươi”sẽ “đời đời hưởng thụ”. và rồi gia đình, vợ con các ngươi cũng được “êm ấm gối chăn”, “bách niên giai lão” Chưa hết, nếu tiêu diệt được lũ “cú diều, dê chó” thì tên hiệu của “ta” sẽ không bị mai một mà rồi đến tên họ các ngươi “cũng được sử sách lưu thơm”.Như vậy mọi sở nguyện đều sẽ đạt được cả.

ở mỗi con đường, sau khi phân tích hành động và kết quả, tác giả đều kết bằng hình thức câu hỏi có sự đối lập giữa mong muốn và thực tế. Ở con đường thứ nhất, khi đã mất nước thì “ dẫu các ngươi có muốn vui vẻ phỏng có được không?”. Con đường thứ hai: “lúc đó dẫu các ngươi có không muốn vui vẻ phỏng có dược không?”. Đây là hai câu kết có tác dụng xoáy mạnh vào nhận thức của tướng sĩ, giúp họ biết được điều mà bản thân phải làm trước hoàn cảnh đất nước lâm nguy.

Bằng cách đặt giả thiết theo hai con đường hoàn toang đối ngược nhau, tác giả đã chỉ ra cho tướng sĩ biết vận mệnh của mỗi cá nhân nằm trong vận mệnh chung của tổ quốc. Không thể có một csa nhân nào hạnh phúc khi đất nước phải chịu cảnh tang thương. Và như vậy, con đường duy nhất đúng của “các ngươi” bây giờ là cùng chung sức chung lòng đứng lên giết giặc.

Cũng giống như kết cấu của tất cả các bài văn hịch khác, “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn kết lại bằng lời tổng kết và mệnh lệnh chiến đấu. giọng văn đanh thép như một mệnh lệnh. Cái thuyết phục tướng sĩ ở đây không phải bằng con đường tình cảm nữa mà bằng sức mạnh của lí trí. dường như trang văn vẫn còn vang vọng lời chỉ đạo đanh thép của vị chủ tường: “…”.Bao nhiêu thế kỉ qua rồi mà câu chữ vẫn còn sục sôi khí thế áp đảo quân thù của thời đại. Cái rạch ròi giữa yêu và ghét, giưa xđịch và ta của truyền thống dân tộc cũng hội tụ và toả sáng ở đây.

Nếu có thứ văn chương nào mang “sức mạnh hơn mười vạn quân” thì phải kể “hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn lên hàng đầu. Đây là áng văn chính luận mẫu mực, giàu sức thuyết phục và có vai trò lớn, góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng trong cuộc chiếnđáu chống quân Mông Nguyên lần thứ hai của quân dân nhà Trần.




Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.