Đóng vai nhân vật Phùng kể lại câu chuyện Chiếc thuyền ngoài xa

dong-vai-nhan-vat-phung-ke-lai-cau-chuyen-chiec-thuyen-ngoai-xa

Đóng vai nhân vật Phùng kể lại câu chuyện Chiếc thuyền ngoài xa

Là một chiến sĩ đã từng trải qua biết bao bom đạn trong trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, tôi – nghệ sĩ Phùng lại vinh hạnh được trở về công tác chính nơi mà tôi đã từng một thời gắn bó và chiến đấu. Trong cuộc sống hoà bình, sau những va đập với với thực tế cuộc sống, tôi mới chợt nhận ra, mình chưa là gì so với những người dân rất đỗi bình thường quanh mình. Để lại cho tôi cảm xúc sâu sắc nhất là câu chuyện về người đàn bà làng chài trong buổi sáng hôm ấy.

Trên bãi biển mờ sương, lác đác những hạt mưa, xuất hiện trước mắt tôi là một chiếc thuyền lưới vó đang thẳng vào bờ. Một chiếc thuyền, một khung cảnh thật đẹp, thật thơ mộng, có lẽ đó là vẻ đẹp, mà cả đời bấm máy, tôi chỉ có diễm phúc bắt gặp được một lần. Niềm hạnh phúc ngập tràn, tôi tưởng rằng mình vừa khám phá được cái chân lí của sự hoàn thiện, khám phá được cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn …

Nhưng những gì tôi chứng kiến sau đó, thật quá sức tưởng tượng của tôi. Tôi không ngờ sau cái vẻ đẹp lãng mạn mà tôi vừa nhìn thấy là một sự thật tàn nhẫn và trớ trêu. Nó như một trò đùa quái ác dáng xuống đầu tôi. Mọi thứ dường như bị đảo lộn. Trước mắt tôi là một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi và cam chịu; một người đàn ông thô kệch, dữ dằn, độc ác, coi việc đánh vợ như một trò giải toả những uất ức, đau khổ. Bom đạn trên chiến trường khốc liệt, không làm tôi run sợ. Nhưng hôm nay, giữa cuộc sống bình yên, chứng kiến một sự thật tàn nhẫn như vậy, tôi cảm thấy thật khủng khiếp. Tôi không tin vào mắt mình. Chẳng nhẽ vẻ đẹp nhìn từ xa kia đã đánh lừa tôi sao? Lão đàn ông đánh vợ, đứa con trai nhào tới xô xát, rồi nước mắt rơi, rồi họ lại lặng lẽ trở về trên chiếc thuyền nhỏ…

Tôi thấy trước mắt mình tối sầm và mờ mịt. Chân tay tôi đang tê cứng hay lòng tôi đang tê dại. Hạnh phúc vừa đến thì đau khổ đã ùa về choáng ngập trong tôi. Bao nhiêu suy nghĩ, mâu thuẫn ùa về cắn xé tâm hồn tôi. Chứng kiến cảnh bạo lực ấy của gã đàn ông, không thể kìm chế nổi, tôi đã lao thẳng vào chỗ họ, với ý nghĩ gã đàn ông kia sẽ phải chấm dứt ngay hành động độc ác của mình.

Nhưng một lần nữa, tôi không ngờ rằng, gã đàn ông quay lại đánh luôn cả tôi…Tôi bị thương nhẹ, còn người đàn bà được mời về toà án huyện. Tôi đinh ninh rằng, sau những vụ đòn ấy, người đàn bà sẽ nhất định nghe theo lời của của chúng tôi: bỏ người chồng tàn ác. Nhưng lại thêm một bất ngờ nữa đến với tôi và Đẩu, bạn tôi, chánh án toà án huyện. Bị đánh đạp tàn nhẫn như vậy, ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng, nhưng người đàn bà một mực nhất quyết không bỏ người đàn ông vũ phu – chồng mình. Mụ chắp tay vái lia lịa: “ Con lạy quý toà, quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…” Lúc bầy giờ, tôi đang dấu mặt. Sau câu nói của mụ, tôi vén màn bước ra. Nhìn thấy tôi hình như mụ hốt hoảng.

Tôi nghĩ lần này, mình nắm chắc phần thắng. Nhưng lại một bất ngờ khác đến với tôi. Hình như qua phút bối rối ban đầu, bỗng người đàn bà khốn khổ đứng dậy, nhìn thẳng vào chúng tôi, nói thật tự tin: “ Chị cảm ơn các chú ! Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu phải là người làm ăn, cho nên các chú đâu hiểu được công việc của người làm ăn lam lũ, khó nhọc…”Tôi không tin vào tai mình nữa. Từ lời giãi bày thật khẩn thiết của người đàn bà, người vợ đáng thương…tôi đã phần nào hiểu được lẽ đời, hiểu được nguồn gốc của mọi sự chịu đựng, hi sinh của người đàn bà… Đó là tình thương vô bờ bến của người mẹ giành cho những đứa con. “Đám đàn bà hàng chài chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới một chục đứa… Chúng tôi phải sống cho con …”

Trái tim tôi, cả tâm hồn tôi dường như chết lặng sau những lời nói ấy của người đàn bà. Nếu hiểu sự việc một cách đơn giản như tôi và Đẩu, thì chỉ yêu cầu người đàn bà bỏ chồng là xong. Nhưng nghe những lời trần tình đau đớn của người đàn bà, tôi mới vỡ ra rằng, suy nghĩ và xử sự của bà là không thể khác được. Trong nỗi đau khổ triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm vui nhỏ nhoi. “ Vui nhất là khi nhìn đàn con được ăn no, …trên thuyền cũng có lúc hoà thuận, vui vẻ…”

Sau những suy nghĩ, giãi bày của người đàn bà, dường như tôi mất hết tự tin vào những lời nói của mình.. Tôi không ngờ đằng sau chiếc thuyền vó nhỏ bé ấy, không chỉ là một sự thật tàn nhẫn, tàn khốc, mà còn cả một thế giới tâm hồn, một tình thương vô bờ bến, một sự thấu hiểu lẽ đời sâu sắc của chính người đàn bà nhìn bề ngoài thô kệch, xấu xí. Khi tôi và Phùng đưa ra lời khuyên và giải pháp cho mụ, tôi cứ đinh là người đàn bà phải biết ơn, chịu ơn chúng tôi. Nhưng trớ trêu thay, sự thực là ngược lại. Chính tôi và cả Đẩu là những người phải biết ơn người đàn bà ấy. Một thằng lính đã qua trận mạc như tôi, nay trên trận chiến không tiếng súng, tôi lại là kẻ thất bại.

Vâng! Bác kể câu chuyện này với các cháu cũng là mỗi lần bác tự dặn mình: hãy đừng bao giờ tự cho phép mình đơn giản, dễ dãi khi nhìn nhận một sự việc, nhất là với một con người. Sự thấu hiểu lẽ đời của người đàn bà làng chài, phẩm chất cao quý của bà – một người mẹ, một người vợ – đã thực sự thuyết phục tôi cùng bạn tôi – chánh án Đẩu.


Tham khảo:

Phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

  • Mở bài:

Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn tiêu biểu của thời kì kháng chiến chống Mỹ. Tên tuổi của ông gắn liền với những tác phẩm đặc sắc mang đậm chất sử thi, anh hùng ca. Sau năm 1975, đất nước thoát khỏi chiến tranh, bước vào giai đoạn xây dựng và phát triển trong thời hòa bình, mở ra cho văn học những tiền đề mới. Vốn giàu tâm huyết với văn chương, luôn trăn trở về một nền văn học xứng đáng với kì vọng của nhân dân, Nguyễn Minh Châu sớm ý thức được yêu cầu đồi mới tư duy văn học. Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa được in lần đầu trong tập “Bến quê”. Sau được Nguyễn Minh Châu lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn, in năm 1987. Chiếc thuyền ngoài xa là một truyện ngắn đặc sắc, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự đời tư. Đồng thời cũng thể hiện sự chuyển biến trong phong cách nghệ thuật của nhà văn.

  • Thân bài:

Khi chiến tranh kết thúc, Nguyễn Minh Châu chuyển hướng sáng tác, hướng vào cuộc sống con người. Tác phẩm của ông đi từ cảm hứng sử thi lãng mạn chuyển dần sang cảm hứng triết luận về những giá trị nhân bản đời thường. Tâm điểm những khám phá nghệ thuật của ông là con người trong cuộc sống mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách.

Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu đã tạo nên được một tình huống truyện độc đáo đặc sắc. Qua tình huống này, nhà văn không chỉ làm nổi rõ tư tưởng, chủ đề của truyện ngắn mà còn khắc họa đậm nét tính cách nhân vật.

Thông thường trong thể loại truyện ngắn có 3 loại tình huống phổ biến: tình huống hàng động, tình huống tâm trạng và tình huống nhận thức. Nếu tình huống hành động chủ yếu hướng tới tô đậm hành động có tính bước ngoặt của nhân vật. Tình huống tâm trạng chủ yếu khám phá diễn biến tình cảm, cảm xúc của nhân vật thì tình huống nhận thức chủ yếu lí giải ,cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lí của nhân vật.

Ở truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã lựa chọn kiểu tình huống nhận thức. Đó là sự ngộ nhận của nhân vật – nghệ sĩ nhiếp ảnh tài năng và lãng mạn. Để có tấm lịch nghệ thuật về thuyền và biển theo đúng yêu cầu của trưởng phòng, Phùng đã tới một vùng biển từng là công trường cũ của anh, để dự tính bố cục, đã phục kích mấy buổi sáng để chụp bằng được một cảnh thật ưng ý.

Giây phút ấy đã tới thật bất ngờ, đôi mắt nhà nghề của người nghệ sĩ đã phát hiện ra một vẻ đẹp trời cho, trên mặt biển mờ sương, vẻ đẹp mà cả đời bấm máy có lẽ anh chỉ có diễm phúc bắt gặp được một lần: “Trước mặt mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ …  Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp… Tôi tưởng chính vừa khám phá thấy chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”.

Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của khám phá sáng tạo, của sự cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu. Dường như trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa, giữa trời biển mờ sương, anh đã bắt gặp cái tận thiện, tận mĩ, thấy tâm hồn mình như được gội rửa, trở nên thật trong trẻo tinh khôi bởi cái đẹp hài hòa lãng mạn của cuộc đời.

Phùng là một nghệ sĩ nhiếp ảnh có tài năng, có tâm hồn mơ mộng, lãng mạn. Để có một bộ lịch đẹp theo yêu cầu của trưởng phòng ,… Phùng đã bỏ ra nhiều công sức, nhiều tâm huyết để săn tìm bằng được những cảnh đẹp của thiên nhiên, con người.

Nhưng công sức bỏ ra của Phùng không uổng phí, anh đã chợp được một cảnh thật đẹp, thật ưng ý đó là hình ảnh Chiếc thuyền ngoài xa trên mặt biển mờ sương. Bức ảnh có sự hài hòa về đường nét, màu sắc giống như bước tranh cảnh vật của danh họa Trung Quốc thời xưa.

Thế nhưng diễn biến tiếp theo của sự việc đã đặt người nghệ sĩ nhiếp ảnh vào một tình huống bất ngờ và trớ trêu, như trò đùa quái ác của cuộc sống. Nhân vật Phùng đã từng có cái khoảng khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại… “Anh đã từng chiêm nghiệm bản thân cái đẹp chính là đạo đức”.

Vậy mà hóa ra đằng sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên mặt biển kia lại chẳng phải là đạo đức, là chân lí của sự toàn thiện. Anh đã chứng kiến từ chiếc thuyền đẹp như như trong mơ ấy, bước ra một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi và cam chịu; một lão đàn ông thô kệch , dữ dằng, độc ác, coi việc đánh vợ như một phương pháp để giải tỏa những uất ức khổ đau.

Phùng đã từng là người lính cầm súng chiến đấu vì độc lập tự do dân tộc, vì cái đẹp thanh bình của biển cả hôm nay, anh không thể chịu đựng được khi chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ một cách vô lí và thô bạo. Nhưng, anh chưa kịp xông ra thì thằng Phát con trai lão đã kịp tới che chở cho người mẹ đáng thương.

Chỉ đến lần thứ hai, khi phải chứng kiến cảnh ấy, Phùng mới thể hiện được bản chất người lính là không thể làm ngơ trước sự bạo hàng của cái ác. Phùng cay đắng nhận thấy những cái ngang trái xấu xa, những bi kịch trong gia đình thuyền chài kia đã là “thứ thuốc rửa” quái đản, làm những thước phim huyền diệu mà anh dày công chụp được bỗng hiện hình thật khủng khiếp ghê sợ.

Sự đổ vỡ trong nhận thức của Phùng: bức tranh mà anh dày công tìm kiếm và tưởng như đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật đạt tới sự toàn thiện, toàn mĩ … Hóa ra lại ẩn chứa đằng biết bao nghịch lý đau lòng, xấu xa.

Phùng cũng nhận ra có một khoảng cách khá xa giữa nghệ thuật và cuộc sống. Câu chuyện của người đàn bà làng chài ở Tòa án là câu chuyện về sự thật cuộc sống. Nó giúp những người như Phùng và Đẩu hiểu được nguyên do của những điều tưởng như vô lý. Nhìn bên ngoài, đó là người đàn bà quá nhẫn nhục, thường xuyên bị chồng đánh đập hành hạ “3 ngày một trận nhẹ, 5 ngày một trận nặng”. Vậy mà chị vẫn gắn bó với lão đàn ông vũ phu ấy.

Chỉ qua những lời dãi bày thật tình của người mẹ đáng thương đó mới thấy nguồn gốc của sự hi sinh của bà là tình thương vô bờ bến đối với những đứa con. Đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi phải cần có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng, đặng một sấp con, nhà nào trên dưới chục đứa… Phải sống cho các con,  không thể sống cho mình.

Sau khi thấy cái biện pháp giáo dục, răn đe người chồng không hiệu quả, Đẩu – với tư cách thẩm phán Huyện đã khuyên người vợ nên li hôn để khỏi bị hành hạ, ngược đãi. Anh mời người đàn bà đến công sở để trao đổi vấn đề này. Nhưng trong buổi nói chuyện đó, mọi lí lẽ tưởng như thuận tình, hợp lí đó của anh đều bị người đàn bà chất phát, lam lũ bác bỏ.

Hóa ra, lòng tốt của anh là lòng tốt phi thực tế. Anh bảo vệ pháp luật bằng sự thông hiểu giấy tờ, sách vở nên trước cuộc sống đích thực, đầy sự bộn bề phức tạp. Anh đã trở thành kẻ nông nổi ngây thơ. Người đàn bà thất học quê mùa nhưng thật sâu sắc khi nhìn suốt cả đời mình đã khiến “một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố Huyện vùng biển”.

Có thể nói, anh vừa ngộ ra những nghịch lí của đời sống – những nghịch lý mà con người buộc phải chấp nhận dù là xót xa chua chát: “Trên thuyền phải có một người đàn ông… dù hắn man rợn, tàn bạo”. Phải chăng cũng từ tình huống đó, thẩm phán Đẩu mới hiểu ra rằng: Muốn con ngươi thoát ra khỏi đau khổ tối tăm cần có những giải pháp thiết thực, chứ không phải chỉ là thiện chí hoặc các lí thuyết đẹp đẽ nhưng xa rời thực tiễn.

Tác giả đã rất thành công khi lựa chọn điểm nhìn đầy nghệ thuật, xây dựng tình huống kịch tính, căng thẳng, hấp dẫn. Ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn nữ nhân vật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa cũng rất đáng chú ý. Người nghệ sĩ chuyện ở đây là nhân vật nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Hay nói đúng hơn là sự hóa thân của tác giả vào nhân vật.

Việc chọn người kể chuyện như thế đã tạo ra một điểm nhìn nghệ thuật sắc sảo, tăng cường khả năng khám phá đời sống của tình huống truyện. Lời kể chuyện cũng trở nên khách quan, chân thật và giàu sức thuyết phục.

Ngôn ngữ các nhân vật cũng phù hợp với đặc điểm, tính cách của mỗi người; giọng điệu của lão đàn ông thật thô bỉ, tàn nhẫn với những lời lẽ cục cằn, thô bạo; những lời của người đàn bà thật dịu dàng và xót xa khi phải nói với con, thật đớn đau và thấu trải khi nói về thân phận của mình; nhẵng lời của thẩm phán Đẩu ở tòa án Huyện rõ là ngôn ngữ , giọng điệu của một con người tốt bụng, chân thành,…

  • Kết bài:

Một tác phẩm có thể có nhiều giọng điệu khác nhau nhưng bao giờ cũng nổi trội một giọng điệu chủ đạo. Chiếc thuyền ngoài xa được triển khai, xoay quanh tình huống tự nhận thức. Nghĩa là, đi từ lầm lẫn, ngộ nhận đến sự “hiểu biết, giác ngộ” nên sắc thái giọng điệu luôn thay đổi theo diễn biến tình tiết giàu kịch tính: có lúc say sưa hùng biện, lúc hài hước tự trào, lúc khách quan tiết chế, lúc trầm lắng suy tư nhưng có lẽ sắc thái suy  tư – chiêm nghiệm, suy tư – triết lí nổi bật hơn cả, tạo nên giọng điệu chủ đạo, gợi nhiều lo âu, day dứt hơn là thanh thản, nhẹ nhõm.


Bài tham khảo:

Phân tích vẻ đẹp truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

  • Mở bài:

Nguyễn Minh Châu là cây bút tiên phong, một trong số những nhà văn mở đường tài năng và tinh anh nhất, có đóng góp quan trọng nhất trong đổi mới của văn học Việt Nam thời kì sau chiến tranh. Nếu trước 1975, Nguyễn Minh Châu là ngòi bút viết theo khuynh hướng sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mạn thì đến đầu thập kỉ 80 của thế kỉ XX, ông chuyển hẳn sang ca hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lí nhân sinh. Chiếc thuyền ngoài xa in trong tập truyện Bến quê. Tác phẩm in đậm phong cách tự sự, triết lí của sáng tác Nguyễn Minh Châu.

  • Thân bài:

Chiếc thuyền ngoài xa ra đời trong bối cảnh cuộc chiến chống Mĩ cứu nước đã kết thúc. Đất nước thống nhất trong nền độc lập hoà bình. Cuộc sống với “muôn mặt đời thường” đã trở lại sau chiến tranh. Nhiều vấn đề của đời sống văn hoá, nhân sinh mà trước đây do hoàn cảnh chiến tranh chưa được chú ý, nay được đặt ra, nhiều quan niệm đạo dức phải được nhìn nhận lại trong tình hình mới. Tác phẩm mang xu hướng chung của văn học thời kì đổi mới: hướng nội, khai thác sâu sắc số phận cá nhân và con người trong đời thường.

Câu chuyện kể về chuyến đi của Phùng, một nghệ sĩ nhiếp ảnh, đến vùng ven biển miền Trung (nơi Phùng đã từng chiến đấu) để chụp ảnh làm lịch Tết. Sau nhiều ngày “phục kích”, Phùng chụp được cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương tuyệt đẹp. Nhưng khi chiếc thuyền vào đến bờ, Phùng kinh ngạc chứng kiến cảnh người đàn ông trên chiếc thuyền đó đánh vợ dã man. Cậu con trai vì muốn bảo vệ mẹ nên đã đánh lại cha mình.

Những ngày sau, cảnh tượng đó lại tiếp diễn. Quá bức bức xúc, Phùng đã nhảy ra can nhưng bị người đàn ông đánh nên bị thương nhẹ. Thế rồi tình cờ, Phùng có mặt trong buổi xử của toà án về người chồng vũ phu. Người phụ nữ từ chối sự giúp đỡ của mọi người, nhất quyết không bỏ chồng. Chị đã kể lại câu chuyện về cuộc đời mình và Phùng đã hiểu ra lí do chị từ chổi giúp đỡ…

Sau chuyến đi đó, mỗi lần nhìn ngắm bức ảnh, Phùng lại thấy hiện ra đằng sau bức ảnh dẹp đẽ đó là bóng dáng cuộc sống tù túng, nhẫn nhục của những ngư dân vùng biển. Câu chuyện khép lại bằng hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa trong bức ảnh.

Tác phẩm thể hiện nhận thức, rung động của người nghệ sĩ trước cái đẹp của nghệ thuật và mối quan hệ gắn bó giữa cuộc sống với nghệ thuật, đồng thời thể hiện tâm trạng trĩu nặng tình thương, thấu hiểu sâu sắc và nỗi lo âu của nhà văn đối với con người.

Chiếc thuyền là biểu tượng của bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp và cũng là biểu tượng về cuộc sống sinh hoạt của người dân làng chài. Chiếc thuyền ngoài khơi xa là một hình ảnh gợi cảm, có sức ám ánh về sự bấp bênh, dập dềnh của những thân phận đau đớn, những cuộc đời trôi nổi với bao trái ngang.

Chiếc thuyền ngoài xa biểu tượng cho mối quan hệ giữa cuộc sống và nghệ thuật: chiếc thuyền nghệ thuật ở ngoài xa đú đê tạo nên vẻ đẹp huyền ảo nhưng sự thật cuộc đời thì ở rất gần; đồng thời, chiếc thuyền nghệ thuật ngoài xa nếu thiếu sự gần gũi, chia sẻ về cuộc sổng, với con người thi nó sẽ trở nên đơn độc. Vì vậy, người nghệ sĩ không thể đơn gián sơ lược khi nhìn cuộc đời và vì nghệ thuật mà quên cuộc đời. Nghệ thuật chân chính luôn là cuộc đời, gắn liền với cuộc đời, con người và vì cuộc đời.

Nhan đề tác phẩm giống như một gợi ý về khoảng cách, cự li nhìn ngắm cuộc sống mà người nghệ sĩ cần coi trọng nên nó hàm chứa một ấn ý sâu xa của nhà văn. Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo, đầy kích tính. Phùng – người nghệ sĩ nhiếp ảnh – đang choáng ngợp trước vẻ đẹp tuyệt đĩnh của cánh bồng vô cùng kinh ngạc khi chứng kiến cảnh người đàn ông đánh vợ dã man trên bờ biển. Gia đình họ ở trên chiếc thuyền mà Phùng vừa chụp được ở ngoài xa.

Phùng càng ngạc nhiên hơn nữa khi chứng kiến cảnh trước tòa án, người phụ nữ nhất quyết không chịu bở chồng. Từ câu chuyện đầy bi kịch của chị, Phùng đã thay đổi quan niệm về đối tượng nghệ thuật, về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời.

Đây là tình huống nhận thức mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống, về tính cách con người đồng thời gửi gắm quan niệm của nhà văn: con người luôn phải nhìn lại mình, hoạt động tự ý thức sẽ làm cho con người ngày càng hoàn hảo hơn. Tình huống này tạo điều kiện cho câu chuyện phát triển hợp logic và góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề tác phẩm.

Hệ thống nhân vật trong truyện khá đơn giản. Nổi bậc nhất đó là hình ảnh người đàn bà vạn chài nghèo khổ và xấu xí. Người đàn bà gặp hoàn cảnh éo le, bất hạnh, bị chồng đánh đập, hành hạ nhưng vẫn cam chịu, nhẫn nhục, giàu lòng hi sinh, nhân hậu, vị tha. Đó cũng là những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam qua bao nhiêu năm tháng vẫn còn gìn giữ và tỏa sáng.

Tiếp đến là hình ảnh nhân vật người chồng vũ phu. Anh ta vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ, cùng cực, vừa là thủ phạm gây nên bao đau khô cho người thân. Anh ta sống u uẩn, tàn bạo và đầy hậm hực với cuộc đời. Trước khi trở nên như vậy, anh ta đã từng là một người đàn ông hiền lành. Thế nhưng, cuộc sống vất vả, khó khăn chồng chất đã bào mòn nhân tính, khiến anh ta trở nên dữ dằn, đánh mất thiện lương ở con người.

Hình ảnh nhũng đứa trẻ cũng được nhà văn chú ý khác họa. Chị em thằng Phác bị đẩy vào tình thế khó xử, giữa tình thương mẹ và sự tàn bạo của cha. Thằng Phát chỉ vì quá thương mẹ mà đã đánh lại cha nó. Đó chỉ là một hành động bột phát, kết quả của sự cam chịu và bất lực trước sự tàn bạo của cha nó.

Nhân vật Phùng đóng vai là một người chứng kiến và phát ngôn tư tưởng câu chuyện. Phùng là người lính từng vào sinh ra tử, căm ghét bất công, sẵn sàng làm tất cà vì lẽ phải, công bằng, có tâm hồn nhạy cảm, biết rung động trước cái đẹp, say mê công việc. Anh có ý thức trách nhiệm với nghề nghiệp và biết tự ý thức về bán thân, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người.

Đối diện với nghịch cảnh của gia đình vạn chài, anh vừa thương vừa giận, vừa đồng cảm vừa quyết liệt phản đối. Lời tâm sự của người đàn bà khiến anh vỡ lẽ ra nhiều điều, phát hiện ra những vẻ đẹp chìm khuất trong cuộc đời này. Chính niềm cảm thông với con người trong trái tim anh mới là bức tranh đẹp nhất mà anh có được trong chuyến đi thực tế ấy.

Qua nhân vật Phùng và ý nghĩa câu chuyện, nhà văn đã đưa ra quan điểm nghệ thuật của mình: nghệ thuật phải gắn liền với đời sống và con người (đời sống nhiều chiều và con người đa dạng). Người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật không thể đơn giản, sơ lược khi nhìn cuộc sống và con người chi ở bên ngoài mà phải đi sâu vào cuộc sống để khám phá ra những vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong.

Tác phẩm thành công ở nghệ thuật kể chuyện tự nhiên sinh động, xây dựng tình huống độc đáo, có chiều sâu, giàu chất triết lí. Nghệ thuật xây dựng nhân vật sinh động, đa điện và mảng đối thoại đặc sắc. Lời văn giản dị mà linh hoạt, sâu sắc, thấm thía. Tất cả làm toát lên vẻ đẹp nhân ái của nhà văn thiết tha với cuộc đời, với con người, quan tâm đến số phận của những mảnh đời bất hạnh, đứng về phía công lí để bênh vực cho họ. Nhà văn đã đứng về phía cái thiện để phát hiện ra vẻ đẹp của người phụ nữ lam lũ, nghèo khó.

  • Kết bài:

Với Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã đánh một móc son quan trong trên con được nghệ thuật của mình. Với ông, nghệ thuật được nảy sinh từ cuộc sống, phải gắn với cuộc sống và trở lại phục vụ cho cuộc sống ấy. Nghệ thuật phải đi sâu và phát hiện những vẻ đẹp chìm khuất trong mọi nẻo đời. Chiến tranh không còn nữa nhưng nỗi khổ đau của con người chưa hẳn đã chấm dứt. Nghệ thuật phải tìm kiếm, phát hiện và xoa dịu những nỗi đau khổ ấy ở con người, giúp họ vươn lên, tìm thấy niềm tin và sức mạnh để vượt qua. Nâng đỡ con người chính là thiên chức của nhà văn.

Đánh giá bài viết:

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị tiết lộ.




Bài viết cùng chủ đề: