Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn và sức sống mãnh liệt của nhân vật Mị

cam-nhan-ve-dep-tam-hon-va-suc-song-manh-liet-cua-nhan-vat-mi
  • Mở bài:

Vợ chồng A Phủ bức tranh chân thực về cuộc sống và số phận đau khổ của người nông dân nghèo miền núi Tây Bắc dưới ách áp bức của các thế lực thực dân và phong kiến, đồng thời là bài ca về sức sống mãnh liệt và khát vọng tự do, hạnh phúc của con người. Nhân vật chính trong tác phẩm là Mị. Đây là nhân vật kết tinh tư tưởng chủ đề của truyện cũng như vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm.

  • Thân bài:

Mị xuất hiện ngay ở những dòng đầu tiên của truyện ngắn qua thủ pháp phác họa chân dung để gợi mở số phận nhân vật và nghệ thuật tạo tình huống có vấn đề của nhà văn. Ấn tượng đầu tiên về Mị mà bất cứ “ai ở xa về, có việc vào nhà thống lý Pá Tra” là : “thường trông thấy một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa”. Đây không phải là hình ảnh xuất hiện một lần, hai lần, một tháng, một năm đôi bận mà hiện hữu thường xuyên đến mức quen thuộc.

Một sự đối lập, tương phản gay gắt giữa một bên là cái tấp nập, đông đúc, giàu sang của nhà quan thống lí với một bên là cuộc sống âm thầm, lẻ loi, im lìm tăm tối của Mị – “tảng đá” – cái “tàu ngựa”. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Cái dáng vẻ và khuôn mặt này của Mị cũng chẳng hề ăn nhập gì với nhà thống lí, nơi vốn rất giàu có và đông vui.

Như vậy, mở đầu truyện ngắn, nhà văn Tô Hoài đã dựng nên những mảng đối lập giữa Mị và cái không gian sống của Mị – nhà thống lý Pá Tra. Trong sự tương phản ấy, người ta thấy, dù chỉ là vài nét phác thảo, chân dung nhân vật trung tâm của truyện. Giống như Thúy Kiều trong những nét “vẽ” ngoại hình dự báo số phận của Nguyễn Du, những nét phác thảo chân dung Mị cũng ngầm báo một cuộc sống tinh thần buồn nhiều hơn vui, một cuộc đời không bằng phẳng, một số phận nhiều ẩn ức và có thể là một bi kịch của cõi nhân thế nơi miền núi cao Tây Bắc.

Mị là cô gái có ngoại hình đẹp, tài hoa và nhiều phẩm chất tốt.

Chỉ bằng một vài chi tiết đã được lựa lọc một cách tinh tế, nhà văn cũng đã khiến người đọc có những cảm nhận khó quên về nhân vật nữ chính. Đó là một cô gái có ngoại hình đẹp, tài hoa và nhiều phẩm chất tốt. Nhan sắc rực rỡ của Mị đã làm rung động trái tim của biết bao chàng trai : “Trai đến đứng nhẵn chân vách đầu buồng Mị”. Vẻ đẹp ấy cũng khiến cho A Sử – con trai thống lý Pá Tra – phải tìm cách cướp Mị về và dùng đến tập tục “cúng trình ma” để trói giữ người con gái đẹp ấy cho riêng hắn. Không chỉ đẹp, Mị còn có tài “thổi sáo”, cô thổi hay đến mức “có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”. Mà tài thổi sáo cũng như tài đánh đàn, vẽ tranh, làm thơ… đâu chỉ là tài năng nghệ thuật mà còn là biểu hiện của đời sống nội tâm phong phú, có chiều sâu.

Mị là một cô gái yêu đời, yêu cuộc sống tự do, không ham giàu sang phú quý. Mị từng đề nghị bố đừng bán cô cho nhà giàu. Cô đã định ăn lá ngón để tìm đến cái chết hòng giải thoát khỏi cuộc sống tù túng, thiếu tự do và không có tình yêu đích thực. Với cha mẹ, Mị là một người con hiếu thảo. Cô sẵn sàng lao động vất vả để trả món nợ truyền kiếp cho cha mẹ. Nếu chỉ sống cho mình, Mị đã chết. Nhưng vì thương cha nên Mị đã chấp nhận một cuộc sống mà cô không hề mong muốn, sống mà như đã chết. Ở Mị, dường như kết tinh những tinh hoa của đất trời và con người miền Tây Bắc của Tổ quốc. Nếu phải chọn ra một đại diện cho vẻ đẹp sơn cước trong “cuộc thi sắc đẹp” với những người đẹp khác trong văn học, Mị xứng đáng là một đại diện tiêu biểu.

Cuộc đời Mị là bi kịch của kiếp làm “con dâu gạt nợ” ở nhà Pá Tra

Là một người đẹp, hội đủ nhiều yếu tố để có hạnh phúc, nhưng Mị đã không có được hạnh phúc như cô đáng được hưởng. Giống như nhiều nhân vật “tài hoa bạc mệnh” trong văn học, Mị đã rơi vào một bi kịch đau đớn trong cuộc đời của người  con gái ở vùng núi cao Tây Bắc – bi kịch của kiếp “con dâu gạt nợ” ở nhà thống lý Pá Tra.

Bề ngoài là con dâu vì Mị là vợ A Sử, nhưng bên trong Mị thực chất chỉ là một thứ gán nợ, bắt nợ để bù đắp cho khoản tiền mà bố mẹ Mị đã vay của nhà thống lý Pá Tra nhưng chưa trả được. Điều đau đớn trong thân phận của Mị là ở chỗ nếu chỉ là con nợ thay cho bố mẹ thì Mị hoàn toàn có thể hi vọng vào một ngày nào đó sẽ được giải thoát sau khi món nợ đã được thanh toán (bằng tiền, bằng vật chất hoặc công lao động). Nhưng Mị lại là con dâu, bị cướp về và “cúng trình ma” ở nhà thống lý. Linh hồn Mị đã bị con “ma” ấy “cai quản”. Đến hết đời, dù món nợ đã được trả, Mị cũng sẽ không bao giờ được giải thoát, được trở về với cuộc sống tự do. Đây chính là bi kịch đau đớn nhất trong cuộc đời Mị.

Đời “con dâu gạt nợ” của Mị ở nhà thống lý là một quãng đời thê thảm, tủi cực, sống mà như đã chết. Mị “ở lâu trong cái khổ” nên “quen khổ rồi”, không còn ý niệm gì về sự khổ nữa. Ở đó, Mị dường như đã bị tê liệt cả lòng yêu đời, yêu sống lẫn tinh thần phản kháng.

Ỏ nhà thống lý, Mị vùi vào làm việc” cả đêm, cả ngày, cả năm, cả tháng. Mị thật chẳng khác gì một công cụ lao động. một thứ gì đó vô tri, vô giác. Mị giống như một tù nhân của chốn địa ngục trần gian, đã mất tri giác về cuộc sống. Nơi ở của Mị là một căn buồng Mị nằm, kín mít có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Đây rõ ràng không phải là căn buồng hạnh phúc mà nó giống như một gian ngục thất giam cầm một tù nhân đã mất ý niệm về thời gian sống, mất cảm giác về cuộc sống của mình và thân phận mình.

Qua đoạn đời làm dâu gạt nợ ở nhà thống lý Pá Tra của Mị, nhà văn không chỉ gián tiếp tố cáo sự áp bức bóc lột của bọn địa chủ phong kiến miền núi mà còn nói lên một sự thật thật đau xót : dưới ách thống trị của cường quyền bạo lực và thần quyền hủ tục, người dân lao động miền núi Tây Bắc bị chà đạp một cách tàn nhẫn về tinh thần đến mức tê liệt cảm giác về sự sống, mất dần ý niệm về cuộc đời. Từ những con người có lòng ham sống mãnh liệt, họ trở thành những người sống mà như đã chết, tẻ nhạt và vô thức như những đồ vật trong nhà. Một sự hủy diệt ý thức sống của con người thật đáng sợ !

Sức sống tiềm tàng mãnh liệt của Mị trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài và trong đêm mùa đông cứu A Phủ.

Cái đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài và cái đêm mùa đông chứng kiến cảnh A Phủ bị trói đến chết đã thức dậy sự sống ở trong Mị. Sức sống tiềm tàng, mãnh liệt trong lòng người con gái Tây Bắc đã được đánh thức.

Sự thức tỉnh của lòng ham sống và khát vọng tự do, hạnh phúc trong Mị trước hết có căn nguyên từ ngoại cảnh. Đầu tiên phải kể đến khung cảnh mùa xuân ở Hồng Ngài – một không gian tươi vui, tràn đầy sức sống và màu sắc : màu sắc của thiên nhiên (“cỏ gianh vàng ửng”), màu sắc của cuộc sống con người (“trong các làng Mèo đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ).

Mùa xuân về trên rẻo cao, đó là thời điểm mà người Mông cởi bỏ mọi nặng nhọc của công việc, mọi tủi cực của số phận, mọi oan khiên của kiếp sống để đắm chìm trong niềm vui giản dị của lẽ tồn sinh. Đó là thời điểm mà bao chàng trai có thể cởi bỏ chiếc áo lam lũ của ngày thường để khoác lên mình chiếc áo đẹp vẫn để dành mà tìm bạn, mà vui chơi quên ngày đêm. Đó là thời điểm mà biết bao cô gái nghèo cũng có quyền diện những chiếc váy hoa sặc sỡ mà dâp dìu, tình tứ trong những đám chơi ngày Tết.

Cái không khí ấy không thể không ảnh hưởng tới Mị, lay thức các giác quan của cô. Nhưng tác động mạnh mẽ nhất phải là tiếng sáo, không chỉ vì ngày trước Mị thổi sáo giỏi, bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị, mà còn vì đó là tiếng sáo gọi bạn tình, “tiếng sáo rủ bạn đi chơi”. Tiếng sáo, đối với Mị, là tiếng ca của hạnh phúc, là biểu tượng âm nhạc của tình yêu đôi lứa, là tín hiệu âm thanh của cuộc sống tự do.

Phản ứng tâm lý và hành động đầu tiên đánh dấu sự trở về của một tâm hồn yêu đời, yêu sống ở Mị là “ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi”. Sau bao ngày lặng câm, “lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, Mị đã cất tiếng, dù đó chỉ là những lời “thì thầm mùa xuân”. Bản “tình ca Tây Bắc” của những kẻ yêu nhau, của những người tự do, khao khát hạnh phúc đã cất lên trên đôi môi của Mị. Tiếp đó, trong cái nồng nàn của bữa rượu ngày Tết, “Mị cũng uống rượu… cứ uống ực từng bát”. Sau bao tháng ngày đau đớn, tủi nhục, giờ là lúc Mị được sống lại với chính con người mình. Mị uống như để quên đi cái phần đời cay đắng vừa qua, như để sống lại mạnh mẽ cái phần đời tươi trẻ đã có.

Tiếng sáo thiết tha và lời hát cứ vọng về đánh thức tâm hồn Mị. Tình trạng sống mà như đã chết ở hiện tại được cởi bỏ. Quá khứ tươi đẹp tưởng như đã bị vùi chôn dưới lớp tro tàn nguội lại, nay đã “bùng cháy”. Nguồn sinh khí được tiếp lấy từ những ngày tự do, hạnh phúc đã qua giống như trận mưa tưới tắm đến đâu làm tươi tốt đến đấy. Có lẽ vì thế mà Mị “thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước”. Để rồi sau những tháng ngày mất ý niệm về không gian, thời gian, bản thân, Mị cảm thấy mình “trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ” và Mị “muốn được đi chơi”.

Như một lẽ tự nhiên, khi ý thức sống đã trỗi dậy thì cũng là lúc Mị cảm thấy rõ hơn bao giờ hết cái vô nghĩa lý của cuộc sống thực tại. Nếu trước đây Mị “quen khổ” đến mức chai sạn, không còn tưởng đến việc ăn lá ngón tự tử thì giờ đây “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa”. Đây chính là biểu hiện của sự phản kháng với hoàn cảnh, của sự xung đột gay gắt giữa một bên là khát vọng sống chân chính đã thức tỉnh với một bên là thực tại đáng chán vẫn đang hiện hữu. Những giọt nước mắt của Mị chỉ càng chứng tỏ rằng Mị đã thực sự hồi sinh và Mị đang ý thức rất rõ hoàn cảnh đau xót của mình.

Có thể thấy, những biến động mạnh mẽ trong tâm hồn Mị đã chuyển hóa thành hành động và hành động này dẫn đến những hành động tiếp theo không thể ngăn được. Nhưng giữa lúc những hoạt động sống trong Mị trào sôi thì cũng là lúc nó bị vùi dập một cách dã man bởi A Sử.

Có thể khẳng định, nhân vật Mị của Tô Hoài đã không mất đi hoàn toàn bản chất người tốt đẹp. Cái khát vọng sống, niềm khát khao hạnh phúc vẫn được bảo tồn trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật. Những tác động của ngoại cảnh là không nhỏ nhưng cái sức mạnh tiềm ẩn, không thể nào dập tắt của con người mới là điều mấu chốt quyết định sự trỗi dậy của Mị.

Đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài đã giúp ta nhận ra những bí ẩn trong con người Mị nói riêng và đời sống tâm hồn, tình cảm của con người nói chung. Tuy nhiên, tất cả vẫn chưa dừng lại ở đó. Đây dường như mới chỉ là bước chuẩn bị cho những hành động phản kháng mãnh mẽ và táo bạo hơn diễn ra tiếp theo. Đó là cái đêm mùa đông Mị cứu A Phủ rồi cùng A Phủ bỏ trốn khỏi Hồng Ngài.

Từ sự lạnh lùng, thơ ơ ban đầu, cho đến khi nhìn thấy dòng nước mắt A Phủ chảy xuống, nhìn thấy cái chết đang đến dần đối với A Phủ, Mị đã đi đến một suy nghĩ táo bạo. Sức mạnh của tình thương người cùng với niềm khát khao tự do trỗi dậy đã khiến Mị vượt qua nỗi sợ hãi để quyết định hành động táo bạo: cắt dây trói cứu A Phủ và theo A Phủ bỏ trốn khỏi Hồng Ngài. Đây là hệ quả tất yếu sau những gì đã diễn ra ở Mị.

Từ đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài đến đêm mùa đông cứu A Phủ là một hành trình tìm lại chính mình và tự giải thoát mình khỏi những “gông xiềng” của cả cường quyền bạo lực và thần quyền lạc hậu. Đó cũng là sự khẳng định ý nghĩa của cuộc sống và khát vọng tự do cháy bỏng của người dân lao động Tây Bắc.

Từ hình tượng nhân vật Mị, ta thấy toát lên niềm tin và sự trân trọng của nhà văn đối với những khát khao vươn lên cuộc sống tự do, hạnh phúc và có ý nghĩa của những người dân lao động bị đọa đầy ở miền núi cao Tây Bắc. Đây là chiều sâu nhân đạo của ngòi bút Tô Hoài, là sự tiếp nối tinh thần nhân đạo truyền thống trong văn học dân tộc. Song, cũng qua nhân vật Mị ta thấy nhà văn đã phát triển tinh thần nhân đạo ấy lên một cấp độ cao hơn. So với những tác giả văn học trung đại và văn học hiện thực phê phán Việt Nam trước cách mạng tháng Tám, Tô Hoài đã tìm ra con đường giải thoát khỏi kiếp sống khổ đau cho nhân vật của mình. Việc để cho Mị tự giải phóng khỏi “thế giới ngục tù” ở nhà thống lý chính là bước khởi đầu của hành trình nhà văn đưa nhân vật của mình đến với cách mạng, đến với ánh sáng của Đảng ở Phiềng Sa sau này.

  • Kết bài:

Có thể khẳng định xây dựng nhân vật Mị là một thành công của Tô Hoài. Đó là một nhân vật điển hình, tiêu biểu cho vẻ đẹp và số phận của người dân lao động ở vùng núi cao Tây Bắc, đồng thời là một trong số những hình tượng nhân vật nữ để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc của văn học ta từ trước đến nay. Tạo nên một cô Mị đặc sắc như vậy không thể không nói đến tài năng nghệ thuật của nhà văn mà thể hiện tập trung ở bút pháp xây dựng nhân vật và miêu tả tâm lý con người khá sắc sảo, tinh tế của Tô Hoài. Những đoạn miêu tả ngoại hình, hành động gợi mở số phận, tính cách hay những trang khắc họa diễn biến tâm lý nhân vật đều là những đoạn văn đặc sắc, chúng chứng tỏ bút lực và “tay nghề già dặn” của nhà văn.

Đánh giá bài viết:

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị tiết lộ.